Kiều hối về TP HCM đạt 4,2 tỷ USD

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Kiều hối chuyển về TP HCM đạt khoảng 4,2 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm nay, tăng 6% so với cùng kỳ, bất chấp ảnh hưởng dịch Covid-19.

Ông Nguyễn Hoàng Minh, Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP HCM cho biết, lượng kiều hối này về thành phố chủ yếu chảy vào sản xuất kinh doanh thay vì bất động sản, chứng khoán và tiết kiệm. Dự kiến, cả năm nay kiều hối đạt khoảng 5,5 tỷ USD, tăng 8% so với năm 2019.

Những năm gần đây, kiều hối chuyển về TP HCM tăng bình quân 8-10% mỗi năm. Kiều hối thường phụ thuộc vào điều kiện kinh tế vĩ mô, tình hình của người lao động ở nước ngoài, các dịch vụ thu hút kiều hối…

Đại diện Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP HCM cho rằng, từ đầu năm đến nay, lượng kiều hối được gửi về nước ổn định và tăng dần đều bất chấp sự ảnh hưởng của dịch Covid-19. Trong đó, lượng kiều hối chủ yếu vẫn đến từ thị trường Mỹ và châu Âu.

Giao dịch tại một ngân hàng cổ phần ở Hà Nội. Ảnh: Giang Huy.
Giao dịch tại một ngân hàng cổ phần ở Hà Nội. Ảnh: Giang Huy.

Thời gian qua, kinh tế vĩ mô của Việt Nam ổn định và sức ép tăng tỷ giá do tâm lý thị trường phần nào bị loại bỏ khiến người nhận kiều hối cũng dần chuyển từ ngoại tệ sang nắm giữ tiền đồng.

Nhờ đó, tỷ giá USD/VND khá ổn định trong thời gian dài dù thị trường thế giới biến động. Mở cửa sáng nay, mỗi USD được các ngân hàng niêm yết quanh 23.090 – 23.270 đồng, không thay đổi nhiều ngày liền.

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), năm 2019, kiều hối về Việt Nam đạt 16,7 tỷ USD, năm 2018 là gần 16 tỷ USD. Trước đó, năm 2017 là 13,8 tỷ USD, năm 2016 là 11,88 tỷ USD. Dự báo trong năm nay, lượng kiều hối sẽ tiếp tục chảy mạnh về Việt Nam dù thế giới có nhiều biến động và ảnh hưởng từ dịch bệnh.

Thanh Lê

Việt Nam và Mỹ ký 7 thỏa thuận hợp tác trị giá hàng tỷ đôla

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Lãnh sự quán Hoa Kỳ
Chụp lại hình ảnh,Diễn đàn Doanh nghiệp Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (IPBF) khai mạc tại Hà Nội ngày 28/10

Trong khuôn khổ Diễn đàn Doanh nghiệp Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (IPBF) khai mạc tại Hà Nội ngày 28/10, Việt Nam và Mỹ đã ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác.

Phát biểu tại diễn đàn, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nhấn mạnh khu vực châu Á-Thái Bình Dương là nơi hội tụ của những nền kinh tế lớn nhất và phát triển năng động nhất trên thế giới với những tuyến đường biển thông thương huyết mạch vô cùng quan trọng, là động lực của tăng trưởng và liên kết trên toàn cầu.

Theo đó, 7 thỏa thuận/bản ghi nhớ về hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã được ký kết với trị giá lên tới hàng tỷ đôla trên nhiều lĩnh vực như hợp tác về năng lượng, truyền tải điện và chế biến, nhập khẩu thịt lợn tại diễn đàn này.

Theo đó, trong lĩnh vực năng lượng, thỏa thuận hợp tác tổng thể giữa 3 tập đoàn Delta Offshore Energy, Bechtel Corporation, General Electric, và McDermott để phát triển dự án điện khí từ khí hóa lỏng Bạc Liêu, sử dụng thiết bị và dịch vụ của Hoa Kỳ trị giá hơn 3 tỷ USD đã được ký kết.

Dự án này có tổng mức đầu tư lên đến 50 tỷ USD trong vòng 25 năm và dự kiến lượng nhập khẩu lên 3 triệu tấn khí hóa lỏng mỗi năm. Đây là dự án sử dụng LNG sản xuất điện đầu tiên do khu vực tư nhân sở hữu và vận hành, được phê duyệt trong quy hoạch tổng thể phát triển điện lực quốc gia với hình thức 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo Luật Đầu tư của Việt Nam.

Thỏa thuận thứ 2 là việc ký kết tài trợ giữa Cơ quan Thương mại và Phát triển Hoa Kỳ (USTDA) và Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia Việt Nam (EVNNPT) cho dự án Lộ trình hỗ trợ kĩ thuật Công nghệ thông tin 2.0 của EVNNPT với trị giá 935,060 đôla. Đây được xem là tiền đề giúp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Mỹ trong lĩnh vực công nghệ nhằm hiện đại hóa hệ thống lưới điện.

Tiếp theo là Biên bản ghi nhớ giữa General Electric và VinaCapital để phát triển dự án điện khí từ khí hóa lỏng Long An. Theo thỏa thuận này, VinaCapital và chính quyền tỉnh Long An sẽ hợp tác để phát triển dự án điện khí từ khí hóa lỏng Long An với công suất 3.000 MW, hứa hẹn là một trong những dự án điện lớn nhất tại miền Nam Việt Nam, giúp giải quyết tình trạng thiếu điện của khu vực và các mối lo ngại về tác động môi trường.

Thỏa thuận thứ tư là sự liên doanh giữa Tập đoàn AES và Tổng công ty Khí Việt Nam (PV Gas) nhằm phát triển Dự án Kho cảng LNG Sơn Mỹ với giá trị khoảng 1,4 tỷ đôla. Cụ thể, kho cảng LNG Sơn Mỹ được đặt tại tỉnh Bình Thuận với tổng công suất 450 TBtu sẽ giúp cung cấp khí cho các nhà máy điện khí. Theo đó, nhà máy điện với công suất 2,2 gigawatt và kho cảng sẽ đóng vai trò lớn trong việc định hình tương lai năng lượng của Việt Nam.

Ngoại trưởng Mike Pompeo
Chụp lại hình ảnh,Ngoại trưởng Mike Pompeo phát biểu hôm 28/10.

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo cho biết thỏa thuận này sẽ mở ra cánh cửa nhập khẩu LNG trị giá hàng tỉ đôla từ Mỹ vào Việt Nam mỗi năm, đồng thời miêu tả đây là điều “đôi bên cùng có lợi”.

“Việt Nam đã bật đèn xanh cho tập đoàn AES (trụ sở tại Virginia) để tiến hành dự án”, ông Pompeo nói tại Diễn đàn Doanh nghiệp Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương ngày 28/10.

Ngoài 4 thỏa thuận trên, 3 thoả thuận hợp tác quan trọng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ cũng được ký kết và công bố gồm:

  • Biên bản ghi nhớ giữa Exxon Mobil-JERA Co Inc – UBND Hải Phòng phát triển dự án điện khí LNG tích hợp tại thành phố Hải Phòng
  • Thỏa thuận hợp tác về Ethanol giữa Bộ Công Thương và Hiệp hội hạt cốc Hoa Kỳ (USGC) nhằm mở rộng việc sử dụng và cung cấp ethanol tại Việt Nam, giúp Việt Nam đáp ứng nhu cầu nhiên liệu của mình một cách bền vững về kinh tế và môi trường.
  • Thỏa thuận nhập khẩu thịt lợn Hoa Kỳ giữa Việt Nam Trade Alliance avà Công ty Masan với ước tính vào khoảng 100 triệu đôla cho năm đầu tiên và tổng giá trị giao dịch trong 3 năm lên đến 500 triệu đôla

Trong 4 năm qua, quan hệ thương mại giữa Mỹ và Việt Nam không ngừng phát triển. Tới nay, các nhà đầu tư Hoa Kỳ đã tham gia vào khoảng 20 ngành nghề tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đứng thứ 11 trong số các nước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam, với những dự án lớn của các tập đoàn có tên tuổi như Murphy Oil, Chevron, Intel, Nike, Coca Cola, Procter and Gamble…

Diễn đàn Doanh nghiệp Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương 2020 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chủ trì phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao, Đại sứ quán Hoa Kỳ cùng cơ quan Chính phủ và Hiệp hội doanh nghiệp Hoa Kỳ tổ chức từ ngày 28-29/10. Diễn đàn được tổ chức nhân kỉ niệm 25 năm tăng cường hợp tác quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.

Ba tập đoàn Mỹ ký thỏa thuận 3 tỷ USD tại Việt Nam

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Tập đoàn Bechtel, General Electric, McDermott ký thỏa thuận cùng triển khai thiết bị trị giá 3 tỷ USD cho dự án Nhà máy điện khí hoá lỏng Bạc Liêu.

Lễ ký thỏa thuận hợp tác tổng thể giữa ba tập đoàn Mỹ nằm trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh doanh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (IPBF) diễn ra tại Hà Nội sáng nay. “Mục đích thỏa thuận là cho phép sử dụng thiết bị, dịch vụ kỹ thuật trị giá 3 tỷ USD từ Bechtel, General Electric và McDermott, ứng dụng những công nghệ và kỹ thuật tốt nhất của Mỹ”, theo thông cáo của đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam.

Phác thảo dự án Nhà máy điện LNG Bạc Liêu. Đồ họa: LNG Limited.
Phác thảo dự án Nhà máy điện LNG Bạc Liêu. Đồ họa: LNG Limited.

Dự án Nhà máy điện khí hóa lỏng (LNG) Bạc Liêu thuộc Trung tâm nhiệt điện khí LNG Bạc Liêu có tổng công suất 3.200 MW, là dự án điện quy mô lớn lần đầu tiên do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức IPP (dự án điện độc lập), theo Báo Chính phủ.

Dự án có nhà đầu tư chính là Delta Offshore Energy, tổng mức đầu tư 4 tỷ USD và dự kiến lượng nhập khẩu lên đến 3 triệu tấn khí hóa lỏng mỗi năm, được phê duyệt trong quy hoạch tổng thể phát triển điện lực quốc gia với hình thức 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo Luật Đầu tư của Việt Nam.Advertisinghttps://imasdk.googleapis.com/js/core/bridge3.419.0_en.html#goog_1464349890

Trung tâm điện khí dự kiến được khởi công vào quý II/2021 và hoàn thành 36 tháng, vận hành tổ máy đầu tiên vào năm 2024 và hoàn thành đủ công suất 3.200MW năm 2027

Khi đưa vào hoạt động, trung tâm sẽ đóng góp sản lượng điện lên đến khoảng 20 tỷ kWh/năm cho hệ thống điện quốc gia, giúp giải quyết nhu cầu năng lượng sạch, ổn định và giá cả cạnh tranh phục vụ cho đất nước cũng như nền kinh tế đang trên đà phát triển.

“Đây là mô hình tiêu biểu cho quan hệ song phương Việt Nam – Mỹ về thương mại, đầu tư và an ninh năng lượng, mở ra một chân trời mới cho các hoạt động đầu tư của khu vực tư nhân vào cơ sở hạ tầng năng lượng ở Việt Nam”, theo đại sứ quán Mỹ.

Cơ quan Thương mại và Phát triển Mỹ (USTDA) đang hỗ trợ 16 dự án năng lượng tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trong vòng ba năm qua nhằm tạo cơ hội xuất khẩu cho các công ty nước này. Trong khuôn khổ IPBF 2020, USTDA đã công bố những cam kết hoàn chỉnh cùng hàng loạt sáng kiến tăng cường quan hệ kinh tế giữa Mỹ và khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó có những dự án về năng lượng.

Theo đó, USTDA sẽ hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng khí thiên nhiên thông qua trao đổi các phái đoàn thương mại, giúp quan chức Việt Nam, Bangladesh và Thái Lan đến Mỹ đánh giá những giải pháp tối nhất cho việc lên kế hoạch phát triển hạ tầng khí thiên nhiên và chứng kiến những công nghệ, thiết bị và dịch vụ tiên tiến nhất của Mỹ.

Trong khi đó, Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) cũng triển khai sáng kiến Cải thiện Phát triển và Tăng trưởng châu Á thông qua Năng lượng (Asia EDGE) nhằm hỗ trợ tầm nhìn của Washington về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cởi mở và tự do, đồng thời phát triển thị trường năng lượng bền vững và an toàn khắp khu vực.

Vũ Anh

MPC sẽ kháng quyết định của Mỹ liên quan nguyên liệu tôm Ấn Độ

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://vneconomy.vn/mpc-se-khang-quyet-dinh-cua-my-lien-quan-nguyen-lieu-tom-an-do-20201023103245367.htm

Minh Phú cho rằng quyết định của CBP đã dựa trên yêu cầu không hợp lý đối với hệ thống của Minh Phú và không dựa trên các bằng chứng thuyết phục…

QUỲNH NGUYỄN

23/10/2020 10:49

“Trong trường hợp việc kháng cáo không mang lại kết quả như mong muốn, Minh Phú sẽ tiếp tực kháng cáo lên Toà án Thương mại Quốc Tế”.

Đây là tuyên bố của Công ty cổ phần Tập đoàn Thuỷ sản Minh Phú (mã CK: MPC) sau khi CBP kết luận sản phẩm tôm đông lạnh do Minh Phú xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ là đối tượng chịu thuế theo Lệnh thuế chống bán phá giá đối với tôm Ấn Độ.  
MINH PHÚ VI PHẠM LỆNH THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ ĐANG ÁP TRÊN TÔM ẤN ĐỘ

Theo đó, ngày 13/10/2020, Cơ quan Hải quan Hoa Kỳ (CBP) đã dựa theo Đạo luật Thực Thi và Bảo Hộ (EAPA) và công bố kết luận rằng: sản phẩm tôm đông lạnh do Minh Phú xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ là đối tượng chịu thuế theo Lệnh thuế chống bán phá giá đối với tôm Ấn Độ. Bởi vì Minh Phú đã không cung cấp được đầy đủ bằng chứng như yêu cầu bởi CBP, để chứng minh được rằng công ty không sử dụng tôm có nguồn gốc từ Ấn Độ để xuất khẩu đi Hoa Kỳ. Vì vậy, CBP nhận định rằng Minh Phú đã vi phạm lệnh thuế chống bán phá giá đang áp trên tôm Ấn Độ.

Quyết định này được đưa ra sau một cuộc điều tra được thực hiện bởi CBP. Theo đó, sản phẩm tôm xuất khẩu bởi Minh Phú từ Việt Nam đến Hoa Kỳ sẽ phải chịu lệnh thuế chống bán phá giá như tôm Ấn Độ.

Minh Phú cho rằng, quyết định trên của CBP là một bất ngờ lớn đối với công ty. Minh Phú đã hợp tác toàn diện với cuộc điều tra và đã chứng minh rõ cách mà Minh Phú xử lý và tách biệt những lô tôm có xuất xứ Việt Nam và tôm có xuất xứ Ấn Độ trong dây chuyền sản xuất, để đảm bảo rằng chỉ có tôm Việt Nam mới được xuất đi Hoa Kỳ.

Thuỷ sản Minh Phú sẽ kháng quyết định của CBP liên quan nguyên liệu tôm Ấn Độ - Ảnh 1.
MSeafood Corp. là công ty con của MPC (nắm giữ 90% vốn). MPC đã đầu tư vào MSeafood hơn 323 tỷ đồng

CBP ĐÃ KHÔNG SANG VIỆT NAM THẨM TRA THỰC ĐỊA? 
Cũng theo Minh Phú, mặc dù Minh Phú đã chủ động hợp tác và có lời mời, nhưng CBP đã không sang Việt Nam và không thực hiện việc thẩm tra tại thực địa. Điều này dẫn đến việc nhận định chưa chính xác về hệ thống truy xuất tôm nhập khẩu và tôm nguyên liệu Việt Nam của Minh Phú.

Thay vào đó, CBP đã tự thiết lập một tiêu chuẩn đánh giá riêng của họ về phương pháp phân tách tôm, rồi quả quyết rằng Minh Phú đáng lý ra phải sử dụng công cụ này để truy xuất tôm nguyên liệu, đồng thời không chấp nhận phương pháp quản lý truy xuất nguồn gốc mà Minh Phú đã và đang sử dụng từ hơn 4 năm qua.

Chính bởi vì Minh Phú không tuân theo phương pháp mà CBP yêu cầu, nên CBP đã áp dụng những “dữ kiện bất lợi sẵn có” và kết luận rằng Minh Phú đã vi phạm đạo luật EAPA. Yêu cầu này của CBP không hoàn toàn phù hợp với đặc thù sản xuất của ngành tôm và Minh Phú cho rằng chưa doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu tôm nào có hệ thống truy xuất như vậy.

Trên thực tế, Minh Phú đã dẫn chứng rõ phương pháp phân tách và truy xuất nguồn gốc của Minh Phú đã được chấp thuận bởi Cơ quan Quản lý Khí Quyển và Đại dương Quốc Gia (NOAA), trực thuộc Bộ Thương Mại Hoa Kỳ, dựa trên các yêu cầu của cơ quan này đối với chương trình giám sát nguồn gốc xuất xứ tôm nhập khẩu (SIMP). 

MPC sẽ kháng quyết định của Mỹ liên quan nguyên liệu tôm Ấn Độ - Ảnh 2.
Cổ phiếu MPC sụt giảm giá mạnh sau khi CBP nhận định rằng Minh Phú đã vi phạm lệnh thuế chống bán phá giá đang áp trên tôm Ấn Độ.

 
ĐÃ NGỪNG HOÀN TOÀN NHẬP TÔM NGUYÊN LIỆU TỪ ẤN ĐỘ

Minh Phú cho biết, ngay từ cuối tháng 07 năm 2019, Minh Phú đã ngừng hoàn toàn việc nhập tôm nguyên liệu từ Ấn Độ, bởi vì Minh Phú tin rằng nguồn nguyên liệu trong nước hoàn toàn có khả năng cung ứng đầy đủ và liên tục cho các nhà máy của Minh Phú. Hiện tại, Minh Phú đã áp dụng thành công và vận hành hiệu quả mô hình nuôi tôm Công nghệ cao tại 2 vùng nuôi của mình là: Minh Phú Kiên Giang (600 hecta) và Minh Phú Lộc An (300 Hecta).

Ngoài ra, trong nhiều năm qua, Minh Phú đã và đang thiết lập mạng lưới liên kết và cung ứng tôm trải rộng khắp khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và Tây Nam Bộ, với đa dạng mô hình nuôi tôm bền vững, như 100,000 hecta nuôi tôm công nghiệp, 25,000 hecta nuôi tôm sinh thái rừng ngập mặn, cùng hơn 10,000 hecta diện tích nuôi Tôm-Lúa. 2/2

“Thực sự mà nói, Minh Phú tin rằng quyết định của CBP đã dựa trên yêu cầu không hợp lý đối với hệ thống của Minh Phú và không dựa trên các bằng chứng thuyết phục. Và vì vậy, Minh Phú sẽ thực hiện quyền kháng cáo đối với quyết định này của CBP”.

Quá trình xem xét kháng cáo dự kiến sẽ diễn ra trong 60 ngày kể từ ngày đơn kháng cáo được ghi nhận. Trong trường hợp việc kháng cáo không mang lại kết quả như mong muốn, Minh Phú sẽ tiếp tực kháng cáo lên Toà án Thương mại Quốc Tế.

Doanh thu King Coffee lên 1.500 tỷ sau vài năm, lợi nhuận công ty mẹ Trung Nguyên Group từ 500-700 tỷ/năm rơi xuống dưới 100 tỷ

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://cafef.vn/tranh-chap-ong-vu-ba-thao-khien-trung-nguyen-thut-lui-nguoc-lai-king-coffee-da-vuon-len-thanh-the-luc-moi-nganh-ca-phe-voi-doanh-thu-gan-1500-ty-dong-20201015201148506.chn

Doanh thu King Coffee lên 1.500 tỷ sau vài năm, lợi nhuận công ty mẹ Trung Nguyên Group từ 500-700 tỷ/năm rơi xuống dưới 100 tỷ

Trong khi hoạt động kinh doanh tại Trung Nguyên Group đi xuống do những ảnh hưởng tiêu cực của cuộc tranh chấp ly hôn kéo dài, thì phía King Coffee do bà Thảo gây dựng lại xây được cho mình đế chế cà phê mới nổi tại Việt Nam với quy mô doanh thu gần 1.500 tỷ đồng năm 2019.

Tranh chấp hôn nhân giữa ông Đặng Lê Nguyên Vũ và bà Lê Hoàng Diệp Thảo đã kéo dài 5 năm vẫn chưa ngã ngũ. Trong diễn biến mới nhất, bà Thảo có đơn kêu cứu khẩn cấp tới Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao để xem xét hủy hai bản án phúc thẩm và sơ thẩm vụ ly hôn và phân chia tài sản tại Trung Nguyên. Đề nghị này theo kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao và VKSND TP HCM vì vi phạm tố tụng nghiêm trọng tại hai phiên tòa.

Cuối năm 2019, tòa phúc thẩm đưa ra phán quyết cho ông Đặng Lê Nguyên Vũ được toàn quyền sở hữu cổ phần chung tại Trung Nguyên; phía bà Lê Hoàng Diệp Thảo nhận gần 1.800 tỷ đồng gồm toàn bộ tiền, vàng, ngoại tệ trong ngân hàng.

Ông Vũ có trách nhiệm hoàn lại cho bà Thảo hơn 1.500 tỷ đồng, tương đương giá trị phần cổ phiếu quy đổi của bà Thảo. Ông Vũ cũng tự nguyện về việc không tranh chấp cổ phần tại công ty Trung Nguyên International Singapore.

Trung Nguyên phải mất 2 năm sau kiện tụng mới có thể gượng dậy

Dù được cho là giành lợi thế với kết quả cuối cùng, nhưng người đứng đầu Trung Nguyên cũng chia sẻ với báo giới: “kiện tụng kéo dài đã ảnh hưởng rất nặng đến công ty”.

Ông Vũ nói rằng trong quãng thời gian này, Trung Nguyên chỉ hoạt động cầm cự, cả hệ thống gần như tê liệt, thậm chí có lúc muốn chi tiền đầu tư nhưng cũng không được. Chuỗi cà phê Trung Nguyên thì vấp phải cạnh tranh mạnh mẽ từ các thương hiệu đồ uống mạnh, không còn tính mới. Ông Vũ thẳng thắn, sau phiên tòa, phải mất 2 năm thì Trung Nguyên mới có thể gượng dậy.

Trên thực tế, doanh thu của công ty mẹ CTCP Tập đoàn Trung Nguyên (Trung Nguyên Group) đã thụt lùi trong năm 2019, ghi nhận 4.234 tỷ đồng. Đáng chú ý, lợi nhuận sau thuế sụt giảm sâu xuống chỉ còn 90 tỷ đồng. Con số này trong giai đoạn 2016 – 2017 lần lượt đạt 681 tỷ đồng và 531 tỷ đồng.

Bên cạnh việc biên lãi gộp đi xuống, việc chi cho bán hàng và quản lý doanh nghiệp ngày càng tăng cao cũng là nguyên nhân khiến Trung Nguyên sa sút.

Doanh thu King Coffee lên 1.500 tỷ sau vài năm, lợi nhuận công ty mẹ Trung Nguyên Group từ 500-700 tỷ/năm rơi xuống dưới 100 tỷ - Ảnh 1.
Doanh thu King Coffee lên 1.500 tỷ sau vài năm, lợi nhuận công ty mẹ Trung Nguyên Group từ 500-700 tỷ/năm rơi xuống dưới 100 tỷ - Ảnh 2.

Một đơn vị khác trong hệ sinh thái Tập đoàn cũng minh chứng rõ cho hiện thực này. Công ty Trung Nguyên Franchising điều hành chuỗi cà phê Trung Nguyên Legend và Trung Nguyên E-Coffee dù ghi nhận doanh thu tăng, nhưng lỗ cũng ngày càng nặng. Mức lỗ trong 2019 hơn 50 tỷ đồng, gấp đôi so với năm trước đó. Cả hệ thống đem về doanh thu 410 tỷ đồng, đã thua xa các chuỗi cà phê top đầu như Highlands, The Coffee House, Starbucks, hay Phúc Long…

Nhưng không phải tất cả các thành viên trong Trung Nguyên Group đều báo về kết quả kinh doanh kém khả quan trong giai đoạn này. CTCP Cà phê Trung Nguyên báo lãi ròng 202 tỷ đồng, tăng 42% trong năm gần nhất; bất chấp doanh thu giảm 11% còn 1.316 tỷ đồng. Nguyên nhân chính từ việc cải thiện đáng kể việc tiết giảm giá vốn hàng bán, biên lãi gộp từ 19% tăng lên gần 27%.

Trường hợp của CTCP Cà phê hòa tan Trung Nguyên chi nhánh Bắc Giang tương đối trúc trắc. Giai đoạn trước năm 2018, nhà máy này từng được bà Thảo sử dụng phục vụ sản xuất các sản phẩm hòa tan thương hiệu King Cofee.

Tuy nhiên sau đó, CTCP Cà phê hòa tan Trung Nguyên, thuộc quyền kiểm soát của ông Vũ đã kiện bà Thảo về hành vi sử dụng trái phép cơ sở này, yêu cầu hoàn trả và bồi thường số tiền hơn 1.700 tỷ đồng.

Hiện tại các sản phẩm cà phê King Coffee được cho biết sản xuất tại nhà máy KCN Nam Tân Uyên, Bình Dương. Trong khi, sản phẩm cà phê hòa tan Trung Nguyên đã xuất hiện cơ sở sản xuất chi nhánh Bắc Giang.

Năm 2019, doanh thu nhà máy Bắc Giang vượt mức 750 tỷ đồng, với lợi nhuận ròng 62 tỷ đồng, tăng trưởng liên tục so với những năm trước đó.

Vừa tranh chấp với ông Vũ, bà Thảo cũng kịp gây dựng cho mình đế chế King Coffee

Doanh thu King Coffee lên 1.500 tỷ sau vài năm, lợi nhuận công ty mẹ Trung Nguyên Group từ 500-700 tỷ/năm rơi xuống dưới 100 tỷ - Ảnh 3.

Bà Lê Hoàng Diệp Thảo gây dựng thương hiệu King Coffee suốt từ 2016. Ảnh: TNI

Phía bà Lê Hoàng Diệp Thảo, trong quá trình tranh chấp cũng đã xây dựng được cho mình một Trung Nguyên International ngày càng lớn mạnh. Một trong những quyết định quan trọng là rời trụ sở công ty từ Singapore về Việt Nam.

Tháng 10/2016, Trung Nguyên International lần đầu cho ra mắt thương hiệu King Coffee tại Mỹ, sau đó mở rộng nhanh chóng sang Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Úc, Ấn Độ…

Đến tháng 7/2017, King Coffee quay trở lại Việt Nam. Sản phẩm của King Coffee kết hợp hạt cà phê của nhiều vùng nguyên liệu nổi tiếng trên thế giới như Ethiopia, Brazil, Colombia, Guatemala, cùng với Buôn Mê Thuột và Cầu Đất của Việt Nam.

Doanh thu King Coffee lên 1.500 tỷ sau vài năm, lợi nhuận công ty mẹ Trung Nguyên Group từ 500-700 tỷ/năm rơi xuống dưới 100 tỷ - Ảnh 4.

Sau năm 2018 chững lại, doanh thu của TNI bùng nổ năm 2019, doanh thu đạt 1.478 tỷ đồng, tăng 38%. Công ty của bà Thảo cũng báo lãi 20 tỷ đồng so với mức lỗ 41 tỷ đồng năm trước đó.

Giai đoạn 2016 – 2017 chứng kiến TNI vươn lên mạnh mẽ, doanh thu tăng gấp đôi và lợi nhuận trong khoảng 50 – 60 tỷ đồng. Đây cũng là những năm mà bà Thảo còn nắm trong tay nhà máy sản xuất tại Bắc Giang.

Là thương hiệu mới, hoạt động xúc tiến bán hàng được TNI hết sức chú trọng gắn liền với hình ảnh của bà Lê Hoàng Diệp Thảo. Giữa năm 2018, TNI cho ra mắt chuỗi cà phê King Coffee Shop tại Việt Nam.

Bạch Mộc

Theo Nhịp sống kinh tế

Cung ứng cho Samsung Việt Nam, hàng loạt doanh nghiệp thu về cả chục nghìn tỷ mỗi năm

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Cung ứng cho Samsung Việt Nam, hàng loạt doanh nghiệp thu về cả chục nghìn tỷ mỗi năm

Các nhà cung ứng chính của Samsung lũ lượt theo gót Tập đoàn Hàn Quốc đến chân trời mới mang tên Việt Nam suốt một thập kỷ qua, biến đây trở thành trung tâm sản xuất hàng điện tử mới trên thế giới.

Vai trò của Tập đoàn Samsung (Hàn Quốc) đóng góp vào nền kinh tế Việt Nam từ lâu đã khẳng định được tính quan trọng. Samsung là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất vào Việt Nam, các nhà máy chính tập trung tại Bắc Ninh, Thái Nguyên và TP HCM với số vốn đăng ký 17,4 tỷ USD tính đến thời điểm hiện tại.

Năm ngoái, 4 đơn vị lớn của Samsung gồm Samsung Thái Nguyên, Samsung Electronics Việt Nam, Samsung Display Việt Nam và Samsung HCMC CE Complex đạt tổng doanh thu trên 1,5 triệu tỷ đồng, tương đương gần 66 tỷ USD. Số này ngang bằng với 1/4 GDP.

Không chỉ trực tiếp tạo ra 1,5 triệu tỷ đồng doanh thu, Samsung còn kéo theo các nhà cung ứng toàn cầu đến Việt Nam tạo ra thêm hàng trăm nghìn tỷ đồng - Ảnh 1.

Sự góp mặt của các Tập đoàn lớn như Samsung đã biến Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu hàng điện tử hàng đầu thế giới, mà nổi bật là nhóm điện thoại – linh kiện và máy vi tính – sản phẩm điện tử – linh kiện.

Trong 8 tháng đầu năm, đây cũng là hai nhóm mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, lần lượt đạt 31,6 tỷ USD và 27,7 tỷ USD. Tổng tỷ trọng nhóm này chiếm hơn 1/3 kim ngạch xuất khẩu toàn quốc gia.

Không chỉ trực tiếp đóng góp, sự xuất hiện của các Tập đoàn điện tử lớn như Samsung kéo theo hệ sinh thái đồ sộ hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Các nhà cung cấp (vendor) cũng lũ lượt đến Việt Nam mở nhà máy nhằm rút ngắn khoảng cách chuỗi cung ứng, cũng như tận dụng nguồn nhân lực giá rẻ, thị trường tiềm năng và những ưu đãi mà Chính phủ đem lại…

Trong danh sách các nhà cung ứng khoảng 80% các giao dịch của Samsung Electronics, 28 công ty có nhà máy sản xuất tại Việt Nam. Đây là đều là các doanh nghiệp vốn nước ngoài (Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản…), phần lớn có quan hệ đối tác lâu năm với Tập đoàn kinh tế hàng đầu Hàn Quốc – nhà sản xuất điện thoại di động lớn nhất thế giới.

Không chỉ trực tiếp tạo ra 1,5 triệu tỷ đồng doanh thu, Samsung còn kéo theo các nhà cung ứng toàn cầu đến Việt Nam tạo ra thêm hàng trăm nghìn tỷ đồng - Ảnh 2.

Quy mô hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đều ở mức lớn, đem về hàng nghìn tới hàng chục nghìn tỷ đồng doanh thu mỗi năm. Nổi bật nhất trong số này là Samsung Electro-Mechanics và Samsung SDI Vietnam, là hai công ty con của Samsung, năm ngoái thu về lần lượt 41.000 tỷ đồng và 32.600 tỷ đồng. Samsung Electro-Mechanics sản xuất mạch bán dẫn, chip, camera modul… trong khi Samsung SDI Vietnam sở trường với pin điện thoại.

Nhiều cái tên nằm ngoài Samsung cũng cho thấy kết quả kinh doanh với những con số ấn tượng: MCNEX Vina sản xuất module camera doanh thu 22.200 tỷ đồng năm vừa rồi; Power Logics Vina sản xuất bảng mạch bảo vệ pin đạt hơn 19.800 tỷ đồng; CammSys Vietnam cung cấp module camera thu về 13.250 tỷ; Goertek Vina sản xuất tai nghe, mic đạt hơn 12.800 tỷ đồng; Intops Việt Nam chuyên vỏ điện thoại ghi nhận 11.900 tỷ đồng; SI Flex sản xuất mạch in linh hoạt (FPCB) doanh thu 9.300 tỷ đồng, AAC Technologies Vietnam module loa, micro đạt gần 9.000 tỷ đồng…

Hầu hết trong số này là các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, lợi nhuận vài trăm tỷ đồng mỗi năm. Một số đơn vị cũng thường xuyên góp mặt trong danh sách đóng thuế thu nhập doanh nghiệp nhiều nhất tại Việt Nam.

Không chỉ trực tiếp tạo ra 1,5 triệu tỷ đồng doanh thu, Samsung còn kéo theo các nhà cung ứng toàn cầu đến Việt Nam tạo ra thêm hàng trăm nghìn tỷ đồng - Ảnh 3.

Ngoài Samsung là một trong số những đối tác lớn nhất, các doanh nghiệp này cũng cung ứng nguyên liệu – phụ kiện cho nhiều nhà sản xuất điện tử khác, bao gồm cả trong nước và xuất khẩu. Ở Việt Nam, bên cạnh việc LG tiến hành dịch chuyển đầu tư sang trong những năm gần đây, nhà sản xuất nội địa VinSmart (thuộc Tập đoàn Vingroup) cũng nổi lên là ứng viên tiềm năng với những tham vọng của mình trong sản xuất điện tử…

Samsung cùng với hệ sinh thái các doanh nghiệp hỗ trợ đem theo hàng chục tỷ USD đầu tư vào Việt Nam, tạo ra hàng chục tỷ USD doanh thu, bên cạnh đó cũng tuyển dụng hàng trăm nghìn lao động, đồng thời tạo cơ hội cho các nhà cung ứng nội địa tham ra vào chuỗi toàn cầu.

Trong giai đoạn 2014 – 2019, Samsung cho biết số lượng doanh nghiệp Việt Nam được chọn làm nhà cung ứng cấp 1 cho Tập đoàn này đã tăng từ 4 lên 42, và tiến tới con số 50 vào năm nay. Bên cạnh đó, nhiều đơn vị cũng được lựa chọn trong vai trò nhà cung ứng cấp 2, tạo nên sức cộng hưởng to lớn hơn.

Bạch Mộc

Theo Nhịp sống kinh tế

Việt Nam vào nhóm có tăng trưởng xuất khẩu cao nhất thế giới

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Việt Nam vào nhóm có tăng trưởng xuất khẩu cao nhất thế giới

(PLO)- Năm 2011, xuất khẩu của Việt Nam đạt 96,9 tỷ USD, đến năm 2019 đã tăng lên 263,4 tỷ USD, thuộc nhóm quốc gia có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao nhất thế giới.

Chính phủ vừa có báo cáo gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề và chất vấn trong nhiệm kỳ khóa XIV và một số Nghị quyết trong nhiệm kỳ khóa XIII lĩnh vực Công Thương.

Báo cáo cho biết sau gần 10 năm thực hiện tái cơ cấu ngành Công Thương, công nghiệp trở thành ngành có tốc độ tăng trưởng và năng suất lao động cao nhất trong các ngành kinh tế quốc dân.

Việt Nam vào nhóm có tăng trưởng xuất khẩu cao nhất thế giới - ảnh 1
Dệt may là một trong những ngành hàng xuất khẩu xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Ảnh: CTV

Cơ cấu nội ngành công nghiệp đã chuyển dịch theo hướng giám dần tỷ trọng công nghiệp khai khoáng, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp chế biến chế tạo, đưa công nghiệp chế biến chế tạo thành động lực tăng trưởng chính của ngành.

“Chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp với các nước ASEAN-4 ngày càng được thu hẹp và gần như tiệm cận so với quốc gia đứng kế trên là Philippin” – báo cáo cho biết.

Theo báo cáo của Chính phủ, xuất khẩu của Việt Nam trở thành động lực của tăng trưởng với quy mô xuất khẩu tăng 2,7 lần, từ 96,9 tỷ USD năm 2011 lên 263,4 tỷ USD năm 2019, thuộc nhóm quốc gia có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao nhất thế giới, đứng thứ hai trong ASEAN và thứ 22 thế giới về quy mô xuất khẩu vào năm 2018.

Công nghiệp chế biến chế tạo thành ngành xuất khẩu chính, chiếm 84,7% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2019.

Một số ngành hàng xuất khẩu có năng lực cạnh tranh, vị trí vững chắc trên thị trường thế giới như dệt may xếp thứ 7, da giày thứ 2, thủy sản thứ 4, đồ gỗ thứ 5, điện tử thứ 12.

A.HIỀN

HOA KỲ LÀ ĐỐI TÁC QUAN TRỌNG HÀNG ĐẦU TRONG TỔNG THỂ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki


Tại Lễ kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ (1995-2020), Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh, việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là một quyết định quan trọng của lãnh đạo cấp cao hai nước, khép lại một thời kỳ khó khăn và mở ra giai đoạn mới đầy hứa hẹn.

Quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ ngày càng phát triển sâu rộng và thực chất, từ chính trị – ngoại giao, kinh tế – thương mại, quốc phòng – an ninh đến khoa học-công nghệ, y tế, giáo dục…

Thương mại song phương tăng gấp 170 lần kể từ năm 1995, đạt gần 80 tỷ USD. Giao lưu nhân dân giữa hai nước ngày càng nhộn nhịp với hàng triệu lượt người qua lại du lịch, thăm hỏi hàng năm.

“Hợp tác trên các lĩnh vực là cầu nối quan trọng cho tiến trình xây dựng và củng cố lòng tin, thiện chí và tình hữu nghị lâu bền giữa hai nước”, Phó Thủ tướng đánh giá.

Theo Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Việt Nam luôn kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, coi Hoa Kỳ là đối tác quan trọng hàng đầu trong tổng thể chính sách đối ngoại của mình.

Trong năm 2020, khi Việt Nam đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, hai bên đã phối hợp chặt chẽ trên các vấn đề cùng quan tâm tại các diễn đàn khu vực và quốc tế.

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 đầy thách thức, Việt Nam và Hoa Kỳ tiếp tục hợp tác cùng cộng đồng quốc tế ứng phó với đại dịch cũng như những thách thức toàn cầu khác đang nổi lên.

Nhân dịp này, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam bày tỏ sự trân trọng đối với những đóng góp của các thế hệ lãnh đạo, chính giới, các tổ chức và cá nhân, những người bạn Việt Nam và Hoa Kỳ trong việc thúc đẩy quan hệ giữa hai nước.

Cùng với đó, Phó Thủ tướng nhấn mạnh, Việt Nam sẽ tiếp tục cùng phía Hoa Kỳ mở rộng, làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ Đối tác toàn diện, đóng góp hiệu quả, thiết thực cho sự phát triển của hai nước cũng như hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

🎉 Bày tỏ vui mừng được tham dự sự kiện có ý nghĩa với cả hai nước, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Daniel J.Kritenbrink khẳng định:

Mối quan hệ hợp tác song phương giữa Hoa Kỳ – Việt Nam hết sức ấn tượng cả về chiều rộng và chiều sâu. Hai nước đang hợp tác chặt chẽ trên mọi lĩnh vực, từ an ninh và thương mại, giáo dục và các vấn đề chiến tranh để lại, tới năng lượng và y tế.

Mối quan hệ thương mại đang phát triển nhanh chóng và hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Hoa Kỳ tại Việt Nam đã mang lại nhiều thành tựu kinh tế cho hai quốc gia. Các doanh nghiệp Hoa Kỳ ngày càng đầu tư nhiều vào Việt Nam.

Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, trong khi Việt Nam hiện là một trong những thị trường xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhất của Hoa Kỳ.

Đằng sau những chuyến “rẽ tàu” sang Việt Nam: Thế lưỡng nan của các ông lớn khi kẹt giữa “chiến tranh lạnh công nghệ” Mỹ – Trung

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

Đằng sau những chuyến "rẽ tàu" sang Việt Nam: Thế lưỡng nan của các ông lớn khi kẹt giữa "chiến tranh lạnh công nghệ" Mỹ - Trung

Theo Nikkei Asian Review, hiện nay, Việt Nam đang là điểm đến dẫn đầu với sự hiện diện đa dạng của 14 nhà cung cấp chính cho các công ty công nghệ lớn mới chuyển sang Đông Nam Á. Con số này ở Thái Lan là 5, Philippines là 3, Indonesia chỉ có 2 và Malaysia có 1.

Những cuộc gặp “đáng lo ngại”

Một buổi sáng mùa hè nóng nực ở Đài Bắc, một số quan chức của Viện Hoa Kỳ ở Đài Loan đến thăm lãnh đạo cấp cao của một công ty công nghệ lớn, một nhà cung cấp chính của Apple.

Rõ ràng, chuyến thăm này không giống với các chuyến thăm xã giao trước đây. Lần này, họ đi thẳng vào vấn đề: “Tại sao công ty các ông không chuyển thêm năng lực sản xuất ra ngoài Trung Quốc đại lục? Sao các ông không di dời nhanh hơn?”.

Những người tham gia cuộc đối thoại này cho rằng, chuyến thăm này “nghiêm trọng và đáng lo ngại hơn mức bình thường”.

“Chúng tôi cảm thấy không ổn”, một người nói. “Họ hỏi nhiều câu hỏi mà chúng tôi không biết nên trả lời thế nào. Các câu trả lời sẽ liên quan đến các chiến lược chưa được báo cáo về chúng tôi và khách hàng của chúng tôi. Nhưng thông điệp rất rõ ràng: Chính phủ Mỹ đang trực tiếp kêu gọi các công ty nước họ cắt đứt quan hệ với Trung Quốc”

Các quan chức Mỹ cũng đã gặp một số nhà sản xuất chip hàng đầu của Đài Loan (Trung Quốc) – những công ty có sản phẩm được sử dụng bởi Huawei. Các cuộc gặp mặt dường như là một nỗ lực nhằm lôi kéo các công ty này về phía Hoa Kỳ trong cuộc chiến công nghệ Trung Mỹ, nhiều nguồn thạo tin cho Nikkei Asian Review biết.

“Họ muốn chắc chắn rằng chúng tôi hiểu rõ về các quy tắc kiểm soát xuất khẩu của Mỹ, và cho chúng tôi biết lập trường của Mỹ về Huawei”, một nguồn tin trong ngành công nghiệp chip cho biết. “Nhưng chúng tôi coi những lời đó như một lời cảnh báo”.

Đối với các giám đốc điều hành trong ngành công nghiệp điện tử của Đài Loan, các cuộc gặp mặt là một dấu hiệu khác cho thấy: cuộc chiến giành vị trí tối cao về công nghệ giữa hai siêu cường thế giới đã lên một tầm cao mới. Điều này bắt đầu từ năm 2016, với các lệnh trừng phạt chống lại công ty thiết bị viễn thông ZTE. Cuộc chiến đang ngày càng nghiêm trọng hơn khi Washington gia tăng sức ép đối với các công ty Trung Quốc.

Đằng sau những chuyến rẽ tàu sang Việt Nam: Thế lưỡng nan của các ông lớn khi kẹt giữa chiến tranh lạnh công nghệ Mỹ - Trung - Ảnh 1.

Ảnh: © AP

Trong vòng một năm, chính quyền Washington đã sửa đổi các quy tắc kiểm soát xuất khẩu tới ba lần để nhắm vào Huawei. Trong hai năm qua, chính quyền Trump đã tăng cường nỗ lực đưa các công ty Trung Quốc vào Danh sách thực thể.

Alex Capri, một nhà nghiên cứu tại Quỹ Hinrich có trụ sở tại Singapore, cho biết: “Chính quyền Washington đã “vũ khí hóa” các chuỗi cung ứng công nghệ để trì hoãn tham vọng công nghệ của Trung Quốc”. 

Các giám đốc điều hành tại Đài Loan hiểu thông điệp là khẩn cấp: Di chuyển các cơ sở sản xuất ra khỏi Trung Quốc đại lục, giảm quan hệ với các khách hàng ở đó – như Huawei – và sát cánh với Mỹ.

Các chuỗi cung ứng mới

Ý tưởng đa dạng hóa ra khỏi Trung Quốc dường như là không tưởng chỉ hai năm trước đây. Nhưng áp lực từ chính quyền ông Trump đã biến điều này thành hiện thực. Nhiều ông lớn, từ Apple đến Google đã rút từ Trung Quốc để chuyển sang Việt Nam, Ấn Độ, Thái Lan và Malaysia trong 36 tháng qua. Đối với ngành công nghệ toàn cầu, câu hỏi đặt ra là liệu chuỗi cung ứng mới có hiệu quả được như Trung Quốc hay không.

Các công ty Đài Loan đang ở thế lưỡng nan. Foxconn là đối tác của các công ty hàng đầu nước Mỹ như Apple, Microsoft, Google, Amazon, Qualcomm, Hewlett-Packard và Dell, cũng như các công ty hàng đầu của Trung Quốc như Huawei, Lenovo, Xiaomi, Alibaba Group Holding và Oppo. Ngồi trên ranh giới Mỹ – Trung trong một cuộc chiến tranh lạnh công nghệ mới, các công ty của Đài Loan đang buộc phải lựa chọn một phe, dù họ không muốn.

Tháng trước, chính phủ Mỹ, thông qua Viện Công nghệ châu Á (AIT), đã công khai lặp lại thông điệp của mình rằng: tất cả các nhà cung cấp công nghệ nước ngoài nên rời khỏi Trung Quốc.

Vào ngày 4/9, Giám đốc AIT Brent Christensen đã tổ chức một diễn đàn về tái cấu trúc chuỗi cung ứng, cùng với các đối tác EU, Canada và Nhật Bản, để công khai ủng hộ việc đa dạng hóa. Ông cho biết, các công ty quốc tế “ngày càng nhận ra mối nguy hiểm của việc gắn tương lai của họ vào Trung Quốc” và đã bắt đầu tìm kiếm các trung tâm sản xuất và chế tạo thay thế ngoài Trung Quốc.

Ông Christensen kêu gọi các quốc gia khác hợp tác xây dựng lại chuỗi cung ứng ở những nơi khác. “Những lợi ích chung và những giá trị được chia sẻ khiến chúng ta trở thành đối tác, và chúng tôi tin rằng chúng ta sẽ mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn nếu làm việc cùng nhau”.

Nhưng điều đó không đơn giản như vậy. Trung Quốc không chỉ là cơ sở sản xuất số 1 mà còn là thị trường phát triển nhanh nhất của các công ty công nghệ. 20% tổng doanh thu của Apple, hơn 20% doanh thu của Intel và 60% doanh thu của “vua chip di động” Qualcomm đến từ Trung Quốc. Mặc dù trong nhiều trường hợp, các mặt hàng này được bán ở Trung Quốc sau đó được tái xuất sang các thị trường khác.

Một số công ty lớn nhất đang cố gắng để giữ cân băng giữa Bắc Kinh và Washington. Apple đã áp dụng “chiến lược hai mặt” để tự cân bằng khỏi cuộc chiến công nghệ. 

Mặc dù đã thúc đẩy các nhà cung cấp của mình đẩy nhanh sự chuyển hướng khỏi Trung Quốc kể từ cuối năm 2018, Apple cũng đang tích cực mở rộng việc hợp tác với các nhà cung cấp nội địa Trung Quốc, đảm bảo quyền tiếp cận liên tục vào thị trường mạnh 1,4 tỷ dân.

Với sự đồng ý của Apple, Wistron của Đài Loan đã bán nhà máy lắp ráp iPhone của mình ở thành phố Côn Sơn, Trung Quốc vào mùa hè này cho Luxshare Precision Industry. Việc bàn giao này có ý nghĩa quan trọng: mở đường cho nhà cung cấp Trung Quốc phát triển chuỗi cung ứng của Apple, thúc đẩy hy vọng rằng họ có thể bắt kịp Foxconn.

Foxconn, trong khi đó, đã chuyển một phần sản xuất ra khỏi Trung Quốc, nhưng khẳng định họ sẽ không chọn bên nào. “Xu hướng G2 [nhóm hai quốc gia lớn] là không thể tránh khỏi. Chúng tôi luôn lên kế hoạch để phục vụ cả hai thị trường lớn nhất”, Young Liu, Chủ tịch Foxconn Technology Group phát biểu tại Hội nghị Nhà đầu tư ở Đài Bắc vào tháng 8.

Nhưng không phải công ty nào cũng có đủ nguồn lực để đứng giữa như Apple và Foxconn. Thực tế là các công ty này vẫn dựa vào một số nhà cung cấp công cụ thiết kế và sản xuất chip quan trọng của Mỹ như Applied Materials, Lam Research, KLA, Synopsys và Cadence Design Systems để tạo ra những con chip tiên tiến nhất có thể.

Điều đó đã buộc tất cả họ phải xin giấy phép từ chính phủ Mỹ để giao hàng cho Huawei, lệnh có hiệu lực vào ngày 15/9. Kể từ đó, các công ty này đã rơi vào tình thế lưỡng nan.

“Nói chung, các công ty công nghệ đa quốc gia sẽ không muốn phải đứng về một phía trong cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung, nhưng họ vẫn phải chuẩn bị cho kịch bản tồi tệ hơn”, Chiu Shih-fang, nhà phân tích chuỗi cung ứng công nghệ cấp cao tại Viện Nghiên cứu Kinh tế Đài Loan nói với Nikkei.

Trong khi đó, vào ngày 19/9, Trung Quốc cũng đã công bố “Danh sách thực thể không đáng tin cậy”, dành cho bất kỳ công ty nước ngoài nào đối xử không công bằng với các công ty Trung Quốc, theo phán quyết của chính phủ. Mặc dù vẫn chưa có ai bị đưa vào danh sách đen này, nhưng Global Times vào tháng 5 cho biết Apple, Qualcomm, Cisco Systems và Boeing có thể sẽ bị thêm vào danh sách đen của Trung Quốc.

“Chúng tôi đang cố gắng bảo vệ bản thân khỏi bị tổn thương trong cuộc chiến giữa hai con voi khổng lồ [Mỹ và Trung Quốc – PV Nikkei]”, một giám đốc điều hành chuỗi cung ứng cho biết, đồng thời nói thêm rằng họ đã cố gắng âm thầm thanh lý một số tài sản ở Trung Quốc, rút tiền để đầu tư vào Đông Nam Á. “Chúng tôi lo lắng tài sản của chúng tôi ở Trung Quốc một ngày nào đó có thể trở thành con tin nếu căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc tiếp tục xấu đi”, ông nói thêm.

Rời Trung Quốc

Ngành công nghệ đã xảy ra một cuộc di cư chưa từng thấy trong nhiều thập kỷ. Theo số liệu của chính phủ, khoảng 2.000 công ty Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc trong tất cả các lĩnh vực – bao gồm nhiều nhà cung cấp công nghệ chính – đã có kế hoạch đa dạng hóa sản xuất khỏi Trung Quốc đại lục. 

Các công ty công nghệ, đặc biệt là các nhà cung cấp thương hiệu Mỹ như Apple, đang xem xét chuyển từ 15% đến 30% tổng sản lượng của họ ra khỏi Trung Quốc, tương đương với lượng hàng xuất sang Hoa Kỳ. Apple cũng yêu cầu các nhà cung cấp châu Á hỗ trợ các kế hoạch đa dạng hóa trong vài năm tới.

Nhật Bản đã khởi động một chương trình trợ cấp 220 tỷ JPY (2,08 tỷ USD) để khuyến khích các công ty đưa ngành sản xuất về nước và phân bổ thêm 23,5 tỷ JPY để tài trợ cho việc chuyển sản xuất sang Đông Nam Á. Gần 90 công ty Nhật Bản đã được phê duyệt trợ cấp tính đến tháng 7 năm nay, trong khi hơn 1.600 công ty đã nộp đơn xin trợ cấp đợt hai. Đài Loan cũng đã thực hiện chiến dịch “chuyển sản xuất trở lại Đài Loan” với việc giảm thuế và lãi suất cho vay đặc biệt kể từ cuối năm 2018.

Apple bắt đầu sản xuất hàng loạt AirPods tại Việt Nam từ đầu năm nay và có kế hoạch mang nhiều sản phẩm hơn đến Việt Nam. Chỉ mới năm ngoái, tất cả các sản phẩm này đều sản xuất ở Trung Quốc. Apple cũng yêu cầu các nhà lắp ráp iPhone chính là Foxconn và Wistron mở rộng năng lực sản xuất ở Ấn Độ, Pegatron cũng gấp rút xây dựng cơ sở mới ở đó vào mùa hè này.

Đằng sau những chuyến rẽ tàu sang Việt Nam: Thế lưỡng nan của các ông lớn khi kẹt giữa chiến tranh lạnh công nghệ Mỹ - Trung - Ảnh 3.

Samsung đã đóng cửa các nhà máy lắp ráp điện thoại thông minh cuối cùng ở Trung Quốc vào năm 2019 để chuyển toàn bộ trọng tâm sang Việt Nam và Ấn Độ. Việc sản xuất máy chủ cho các trung tâm dữ liệu của Google, Amazon và Facebook đã chuyển sang Đài Loan.

“Suy nghĩ của khách hàng đã thay đổi. Căng thẳng gia tăng giữa hai chính quyền Washington và Bắc Kinh buộc họ phải suy nghĩ về chiến lược sản xuất của mình, giống như mua bảo hiểm cho chính họ. Trong 2-3 năm tới, bạn sẽ không chỉ thấy những nhà lắp ráp điện tử lớn mà ngày càng có nhiều nhà cung cấp linh kiện nhỏ cũng sẽ chuyển công suất ra ngoài Trung Quốc để hỗ trợ chuỗi cung ứng mới “, một giám đốc điều hành cho biết.

Sự bùng phát bất ngờ của Covid-19 càng thúc đẩy các nhà cung cấp công nghệ đa dạng hóa rủi ro khi dồn tất cả nguồn lực của họ vào một khu vực duy nhất. 

Acter Group là một công ty xây dựng cơ sở vật chất cho Google, các nhà cung cấp chính của Apple như Pegatron, Wistron và nhiều công ty khác. Việc mở rộng chuỗi cung ứng công nghệ sang Đông Nam Á đã trở thành một chất xúc tác tăng trưởng quan trọng cho công ty này. Lai Ming-kun, Tổng giám đốc Acter, cho biết: “Chúng tôi nhận thấy đơn đặt hàng dự án từ các quốc gia Đông Nam Á như Việt Nam, Thái Lan và Indonesia đang tăng lên rất nhiều”.

Theo Nikkei Asian Review, hiện nay, Việt Nam đang là điểm đến dẫn đầu với sự hiện diện đa dạng của 14 nhà cung cấp chính cho các công ty công nghệ lớn mới chuyển sang Đông Nam Á. Con số này ở Thái Lan là 5, Philippines là 3, Indonesia chỉ có 2 và Malaysia có 1.

Một “làn sóng” tốn kém

Đằng sau những chuyến rẽ tàu sang Việt Nam: Thế lưỡng nan của các ông lớn khi kẹt giữa chiến tranh lạnh công nghệ Mỹ - Trung - Ảnh 4.

Tuy nhiên, chi phí để rời Trung Quốc là rất lớn. Trung Quốc vẫn đi đầu khi cơ sở hạ tầng được tổ chức tốt, nguồn lao động có tay nghề cao và đông đảo, khả năng sản xuất nhanh chóng, có thể giao linh kiện chỉ trong một giờ đồng hồ chỉ với một cuộc điện thoại.

Nghiên cứu của Bank of America Securities cho thấy thời gian để các sản phẩm Made in Thailand lên kệ tại các cửa hàng ở Mỹ có thể mất tới 40 ngày, cao gần gấp đôi so với Trung Quốc.

Maurice Lee, một giám đốc điều hành của Unimicron Technologies, nhà sản xuất bảng mạch in chủ chốt, cho biết việc chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc vẫn còn vô cùng thách thức. 

“Tất cả các quy trình , công tác hậu cần cần phải được thiết kế lại, và điều đó cũng có nghĩa là chúng tôi phải đào tạo lại toàn bộ công nhân, đồng nghĩa với việc tăng chi phí”.

“Sản xuất công nghệ sẽ phải đối mặt với một sự thay đổi cơ bản [nếu nó chuyển ra khỏi Trung Quốc]”, Chủ tịch Pegatron cho biết. Công ty của ông, trước đây chỉ tập trung sản xuất ở Trung Quốc và Đài Loan, đã xây dựng các cơ sở sản xuất mới ở Indonesia và Việt Nam trong hai năm qua và sắp xây dựng một cơ sở mới ở Ấn Độ. “Trước đây, chỉ mất hai giờ để huy động việc vận chuyển linh kiện từ các tỉnh khác của Trung Quốc. Nhưng trong tương lai, sẽ mất ít nhất một đến hai tuần chờ đợi khi chuỗi cung ứng trở nên phi tập trung bên ngoài Trung Quốc.”

“Đây là một thực tế mới mà tất cả chúng ta phải đối mặt và thích nghi”, ông Tung nói thêm.

H.A

Theo Trí thức trẻ/Nikkei Asian Review

Việt Nam sẽ nhập 3 – 5 tỉ đô la Mỹ hàng cao cấp từ châu Âu

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

Tâm An
(TBKTSG Online) – Trong ba năm tới, Việt Nam sẽ nhập rất nhiều hàng cao cấp từ châu Âu để phục vụ nhu cầu của khách du lịch trong và ngoài nước. Lúc đó, cán cân thương mại giữa Việt Nam và châu Âu sẽ cân bằng, thay vì chỉ xuất siêu như hiện nay. Những mặt hàng cao cấp nhập khẩu từ châu Âu sẽ là cách để cân bằng cán cân thương mại hai bên. Ảnh minh họa: Minh Tâm

Chia sẻ tại buổi tọa đàm: “Cục Hải quan TPHCM và doanh nghiệp đồng hành thực hiện EVFTA” diễn ra hôm nay, 6-10, ông Johnathan Hạnh Nguyễn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Liên Thái Bình Dương (IPPG), cho biết trong ba năm tới, khi tập đoàn này có ba khu phi thuế quan thì sẽ nhập khẩu hàng hóa từ châu Âu từ 3 – 5 tỉ đô la Mỹ.

Đây là cơ sở để chứng minh hàng hóa châu Âu vào Việt Nam nhiều và cân bằng cán cân thương mại hai bên, không chỉ là xuất siêu như hiện tại.

Theo ông Johnathan Hạnh Nguyễn, IPPG đã có kế hoạch mở lần lượt các khu phi thuế quan tại Phú Quốc, Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) và Đà Nẵng. Và hai trung tâm tài chính tại TPHCM và Đà Nẵng đang được định hướng xây dựng sẽ tạo tiềm lực tài chính triển khai dự án.

“Trước kia, chúng tôi nhập 100 triệu đô la Mỹ hàng về, bán 50 triệu rồi xuất trả 50 triệu. Thuế cao nên không thể giảm giá. Hàng nhập về Việt Nam chịu thuế nhập khẩu 30%, VAT 10% trong khi Singapore, Pháp không có thuế. Đó là lý do khách sang các khu phi thuế quan ở đây mua hàng”, ông Johnathan Hạnh Nguyễn kể. 

Ở thời điểm hiện tại, 80% lượng công việc của IPPG đang liên quan đến châu Âu. Doanh nghiệp nay hiện nhập khẩu nhiều sản phẩm hàng hiệu và thực hiện phân phối trong nước.

Từ kinh nghiệm làm ăn lâu năm với đối tác châu Âu, ông Johnathan Hạnh Nguyễn cho rằng, doanh nghiệp Việt Nam nên thận trọng vì thị trường châu Âu đã phát triển, yêu cầu cao về sự ổn định. Theo đó, đã chào hàng cái gì thì phải giao như vậy, thậm chí tốt hơn.

Thêm vào đó, không được tăng giảm giá tùy tiện, khách hàng châu Âu chỉ chấp nhận tăng giá với lý do chính đáng là tỷ giá biến động.Bên cạnh đó, doanh nghiệp Việt Nam cũng phải có trách nhiệm, thể hiện bằng việc chăm lo cho đời sống người lao động, đóng góp cho cộng đồng.