Báo VOV hãy quay lại thiên chức của nhà báo thay vì làm An Ninh Mạng


Wiki
 Twitter Facebook Instagram Linkedln

Chuyện lùm xùm từ hải ngoại bắt đầu lay lan vào trong nước. Đấu tranh không thấy thấy trâu đánh phe mình chỉ vì không cùng phương thức. Chưa kể cũng xuyên tạc bịa đặt không thua gì 3 que Tổng cộng 7 video clip 3.36.36 giờ

(P1)

(P2)

(P3)

(P4)

(P5)

(P6)

(P7)

NK thay HL diễn hề Bolsa – HDH vẫn chứng nào tật cũ

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

NK thay HL diễn hề Bolsa – HDH vẫn chứng nào tật cũ nói xấu Việt Nam sau khi bị “trù dập” (hiểu theo ngôn ngữ người Việt hải ngoại).

Thâm cung bí sử Bolsa chỉ có trên THS/KBCHN

P1 – Tin vui tin buồn Thiên Hạ Sự

P2 – NK thay HL diễn hề

P3 – HDH sao ngứa lung tung từ dưới lên miệng toàn mùi bưng bô trái chiều toàn tập

HDH thưa Việt Tân không bao giờ – nb NPH thách thức Chũ tịch VT hội thoại

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

HDH vẫn yêu cờ Vàng vì lẽ sống cho sự nghiệp chính trị 2 mang. Bằng chứng rõ ràng trong facebook Nam Son Nguyen. HDH không hề chống Việt Tân nhé. Tượng đài Quảng Trị – NB NPH thách chủ tịch Việt Tân hội luận trên NVTDTV

(P2 – tháng 10/2019 vẫn đứng dưới cờ Vàng 2 tháng trước khi về VN)

(P3 Tượng đài Quảng Trị và HDH nói láo)

(P4 Thác thức Chủ tịch Việt Tân hội luận)

Bịa đặt – Xuyên tạc – Bôi bác – Nói trắng thành đen là nghề của Cách Mạng Màu (trắng) HDH/NQT

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

P1 – Thời sự nóng VN – Con nhang CMT nói NGU

(P2 – Vạch mặt điểm xuyên tạc là vô lý và cố tình của nhóm CMT/HDH)

P3 – Hố to

(P4 – Hô hô sắc hố)

(P5 – Liên minh CMT ra tay?)

Sự thật về những lời xuyên tạc tình báo Archimedes Patti sửa bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

http://www.shoppbs.pbs.org/wgbh/amex/vietnam/series/pt_01.html

Trong số đó có Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh những năm đầu rất khó để theo dõi. Ông luôn tỏ ra bí ẩn về bản thân, ít trả lời phỏng vấn và sau này thích thể hiện mình là “Bác Hồ” nhân từ. Hồ sinh khoảng năm 1890 với tên gọi là Nguyễn Tất Thành, con trai của một quan chức đã từ chức thay vì phục vụ dưới thời Pháp. Khi còn trẻ, Hồ rời đất nước, làm thợ đóng tàu và nấu ăn ở Mỹ, Anh và Pháp.

Năm 1917, Hồ chuyển đến Paris. Ông lấy bút danh là Nguyễn Ái Quốc, “Nguyễn ái quốc,” và bắt đầu vận động đòi độc lập cho Việt Nam. Ông đã cố gắng bào chữa cho lý do của mình tại Hội nghị Versailles sau Thế chiến thứ nhất, nhưng không được chấp nhận. Nỗ lực của ông đã khiến ông trở nên nổi tiếng trong giới người Việt tại Pháp.

Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc trở thành Đảng viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, người Cộng sản Việt Nam đầu tiên. Ông vẫn ở Pháp để biên tập một tờ báo chống thực dân có tên là Le Paria (The Outcast), và hỗ trợ mình với tư cách là trợ lý nhiếp ảnh gia. Các bức vẽ của ông, được đăng trên báo, cho thấy ông vẫn quan tâm đến Việt Nam, điều mà ông đã không gặp trong mười năm.

Những người Cộng sản đã gửi ông đến Moscow để đào tạo vào năm 1923.

Ông đi khắp nơi, tổ chức những người Việt Nam xa xứ thành một đảng cách mạng. Các báo cáo trong 17 năm tiếp theo đã theo dõi ông ở Đức, Trung Quốc, Thái Lan, Pháp, Nga.

FRENCH NEWSREEL:

Tạp chí Pathe trình bày đánh giá về những thành tích đã đạt được đấu tranh sự bảo vệ của lá cờ của chúng tôi.

Ở những vùng thù địch và khốn khó, các nhà văn minh Pháp đã mang lại hòa bình, công việc, thịnh vượng và niềm vui.

Khu vực hải ngoại của Pháp là một phần thiết yếu của nền kinh tế thế giới, một động lực tích cực của nền văn minh và là minh chứng vẻ vang cho sự hùng vĩ của nước Pháp.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Chiến tranh thế giới thứ hai đã kết thúc “sự hùng vĩ của nước Pháp.” Nhật Bản, theo đuổi cuộc chinh phục Trung Quốc, muốn chặn đường vận chuyển vật liệu chiến tranh qua Việt Nam. Tháng 6 năm 1940, ba ngày sau khi Pháp rơi vào tay Đức Quốc xã, Nhật Bản đòi quyền đổ bộ lực lượng vào Đông Dương.

Sự xuất hiện của Nhật Bản đã gây ấn tượng sâu sắc đối với người Việt Nam. Những người châu Á giống như họ đã lật đổ các thực dân châu Âu – vì rõ ràng ai là người nắm quyền.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Người Nhật ủng hộ một số nhóm dân tộc chủ nghĩa Việt Nam. Nhưng các nhóm khác đều chống Pháp và chống Nhật. Quan trọng nhất là tổ chức Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc thành lập năm 1941. Ông đã trở lại Việt Nam sau 30 năm, với một cái tên mới: Hồ Chí Minh, có nghĩa là “Người khai sáng”.

HOÀNG QUỐC VIỆT: Sau hội nghị thành lập Việt Nam, Bác Hồ đã gửi thư kêu gọi toàn dân ủng hộ. Và chính điều này đã làm dậy sóng cả nước xung quanh phong trào này. Và khi mọi người nhận ra Hồ Chí Minh đích thực là Nguyễn Ái Quốc, thì lòng tin của họ đối với phong trào càng được củng cố. Đó là vì cái tên Nguyễn Ái Quốc đã được cả nước biết đến rộng rãi. Mọi người biết rằng ông là một người yêu nước vĩ đại.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việt Nam đã tổ chức các căn cứ du kích, huấn luyện cán bộ, quấy rối Pháp, Nhật và tuyên truyền cổ động, kêu gọi nông dân kháng chiến.

PHỎNG VẤN: Tại sao Việt Nam lại chiến đấu với quân Nhật trong khi những người theo chủ nghĩa dân tộc châu Á khác hợp tác?

THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG: (Cười) Tôi xin lỗi, nhưng đây là một câu hỏi rất buồn cười. Lúc đó, quân Nhật đã lật đổ Pháp và bắt đầu thống trị đất nước chúng tôi, nên tất nhiên chúng tôi phải đánh quân Nhật.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Đầu năm 1945, Việt Nam đang trải qua một nạn đói khủng khiếp. Người ta đổ lỗi cho người Pháp và người Nhật, những người đang tích trữ gạo, cung cấp cho quân đội Nhật Bản, và thậm chí xuất khẩu sang Nhật Bản – trong khi ước tính khoảng hai triệu người Việt Nam trong số tám triệu người ở các khu vực phía bắc đã chết.

DR. TRẦN DUY HƯNG: Vào thời điểm đó, theo ước tính của chúng tôi, có ít nhất 40.000 nông dân nghèo đói đến Hà Nội xin ăn và chờ cấp phát, bố thí. Người Pháp không tổ chức cứu đói. Và người Nhật đặc biệt cấm chúng tôi thực hiện bất kỳ nỗ lực cứu đói nào của riêng mình. Mọi người đào bới các bãi rác để tìm bất kỳ thứ gì có thể ăn được. Họ cũng ăn thịt chuột. Nhưng điều này không đủ để giữ cho họ sống sót.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việtminh đã tổ chức cho nông dân cướp kho thóc, gây được uy tín to lớn. Sự ủng hộ của nông dân này đã mang lại cho họ một lợi thế chính trị mà họ không bao giờ đánh mất.

TỔNG THỐNG FRANKLIN D. ROOSEVELT, ngày 1 tháng 3 năm 1945:

Đó là một con đường dài khó khăn để đến Tokyo. Đến Tokyo thì lâu hơn là đến Berlin, theo mọi nghĩa của từ này. Thất bại của Đức sẽ không có nghĩa là kết thúc cuộc chiến chống Nhật Bản …

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Khi chiến tranh ở châu Âu kết thúc, sự chú ý của Đồng minh chuyển sang châu Á và cuộc chiến chống Nhật Bản. Một trong những nhu cầu cấp thiết là trí thông minh. Việt Nam tin rằng các tuyên bố của Đồng minh ủng hộ quyền của các dân tộc bị áp bức. Họ đã cung cấp cho Đồng minh thông tin về chuyển quân của Nhật Bản, vì vậy người Mỹ đã chuyển sang Việt Nam và lãnh tụ của nó, Hồ Chí Minh.

ARCHIMEDES PATTI (Sĩ quan O.S.S.): Tôi gặp Hồ lần đầu tiên ở biên giới Trung Quốc giữa Trung Quốc và Đông Dương vào những ngày cuối tháng 4 năm 1945

ABBOT LOW MOFFAT: Chúng tôi biết ông ấy là một người Cộng sản, nhưng chúng tôi cũng cảm thấy, như họ đã làm, và theo cách mà bất kỳ ai từng biết, gặp Hồ Chí Minh, người mà tôi đã từng nói chuyện, đều có chung cảm giác: ông ấy lần đầu tiên là một theo chủ nghĩa dân tộc, và thứ hai là một người Cộng sản. Đó là, ông quan tâm đến việc giành độc lập cho người dân của mình và khi đó ông nghĩ điều tốt nhất cho họ là kiểu chính phủ Cộng sản. Nhưng trước hết ông là một người theo chủ nghĩa dân tộc.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Viet Minh đã đồng ý giúp Đồng minh. Thiếu tá Patti đã cử một nhóm huấn luyện, Deer Mission (Chiến dịch Nai Vàng), vào vùng núi phía bắc.

ARCHIMEDES PATTI: Chiến dịch Deer đã tham gia và họ tổ chức. Với sự giúp đỡ của Tướng Giáp, trong số khoảng 500 người Việt Nam, chúng tôi đã chọn ra 200 người. Chúng tôi đã dành bốn tuần tiếp theo để huấn luyện những thanh niên này về kỹ thuật sử dụng vũ khí tự động, thiết bị phá hủy, xâm nhập và đột nhập vào các khu vực nguy hiểm khác nhau. Ở đó, lần đầu tiên chúng tôi được thấy Việt Minh là loại quân đội gì. Họ là một thanh niên theo chủ nghĩa dân tộc rất sẵn sàng, tốt đẹp, thực sự là những gì chúng ta thường nói kiểu “gung ho” (Nhiệt huyết). Họ sẵn sàng liều mình vì chính nghĩa, sự nghiệp giành độc lập chống Pháp.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Trước khi người của Hồ có thể chứng tỏ sự sẵn sàng của họ, Thế chiến II đã kết thúc.

Sự sụp đổ bất ngờ của Nhật Bản đã khiến nhiều người ở Đông Dương thuộc Pháp bất ngờ, nhưng Việt Nam đã sẵn sàng cho cái mà họ gọi là “Cách mạng Tháng Tám”. Tuyên bố Việt Nam độc lập, họ tiến quân để chiếm Hà Nội một cách hòa bình. Hồ Chí Minh thành lập chính phủ ở Hà Nội, cẩn thận trà trộn thành viên của các nhóm dân tộc chủ nghĩa khác. Nhưng ở miền Nam, tránh xa ảnh hưởng vừa phải của Hồ, những người theo ông bắt đầu thanh trừng những người theo chủ nghĩa dân tộc đối thủ. Vẫn với Việt Nam, và có lẽ củng cố thêm ý tưởng về sự hỗ trợ của Mỹ, là OSS.

ARCHIMEDES PATTI: Hai hoặc ba ngày sau khi tôi gặp Hồ, ông ấy yêu cầu tôi vào nhà và dừng lại gặp ông ấy lúc đó ông ấy muốn cho tôi xem một thứ gì đó, và thứ ông ấy muốn cho tôi xem là bản thảo Tuyên ngôn Độc lập mà ông ấy sẽ tuyên bố vài ngày sau đó. Tất nhiên, nó là tiếng Việt và tôi không thể đọc được và khi nó được thông dịch viên giải thích cho tôi, tôi đã khá sửng sốt khi nghe những từ của Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ. Những từ về tự do, cuộc sống và theo đuổi hạnh phúc, vân vân. Tôi không thể tin vào tai mình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên tàu U.S.S. Missouri ở Vịnh Tokyo, Nhật Bản chính thức đầu hàng. Cùng ngày trên khắp đất nước Việt Nam, người Việt Nam kỷ niệm Ngày Độc lập tự xưng và sự hình thành một quốc gia mới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tại Hà Nội, Hồ Chí Minh đã đọc một bài diễn văn mở đầu, “Tất cả mọi người đều bình đẳng với nhau. Họ được tạo hóa ban tặng cho một số quyền bất khả xâm phạm …”

DR. TRẦN DUY HƯNG: Có thể nói, khoảnh khắc xúc động nhất là khi Chủ tịch Hồ Chí Minh leo lên bậc thềm và hát Quốc ca. Đây là lần đầu tiên Quốc ca Việt Nam được hát trong một buổi lễ chính thức. Sau đó, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập, đó là một văn kiện ngắn. Khi đang đọc, Bác dừng lại và hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” Câu hỏi đơn giản này đã đi vào trái tim của tất cả mọi người ở đó. Sau một giây phút im lặng, tất cả đều hô to: “Vâng, chúng tôi nghe!” Và tôi có thể nói rằng chúng tôi không chỉ hét bằng miệng mà bằng cả trái tim, trái tim của hơn 400.000 người đứng ở quảng trường khi đó. Sau khi Bác Hồ đọc xong Tuyên ngôn Độc lập, một chiếc máy bay, một chiếc máy bay nhỏ bay vòng qua chúng tôi. Chúng tôi không biết đó là máy bay của ai. Chúng tôi nghĩ rằng đó là một chiếc máy bay của Việt Nam. Nhưng khi nó sà xuống chúng tôi, chúng tôi đã nhận ra lá cờ Mỹ. Đám đông cổ vũ nhiệt tình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Hồ đã kêu gọi Tổng thống Harry Truman nhưng có lẽ ông ấy sẽ chấp nhận sự ủng hộ của bất kỳ ai. Truman không trả lời thư của Hồ. Ông chỉ mới nhậm chức được 4 tháng vào tháng 8 năm 1945 và chưa kịp hoạch định chính sách về Đông Dương.

ABBOT LOW MOFFAT: Có sự chia rẽ khá lớn trong Bộ Ngoại giao đối với Đông Dương. Cả văn phòng Viễn Đông và văn phòng châu Âu đều hoàn toàn đồng ý rằng chúng tôi muốn một nước Pháp mạnh mẽ phục hồi ở châu Âu sau chấn thương của Vichy và thất bại trong chiến tranh, nhưng bộ phận châu Âu cảm thấy rằng để giúp người Pháp đứng vững trở lại, chúng tôi thực tế nên đi cùng với bất cứ điều gì mà người Pháp muốn.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Đồng minh đã vạch ra một kế hoạch thỏa hiệp để giải giáp quân Nhật. Trên vĩ tuyến 16, quân Trung Quốc sẽ đầu hàng quân Nhật. Người Anh cũng sẽ làm như vậy ở miền Nam. Họ đến Sài Gòn vào đầu tháng Chín.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Chỉ huy người Anh, Tướng Douglas Gracey, là một sĩ quan thuộc địa dày dạn kinh nghiệm chính trị hạn chế. Lệnh của ông là giải giới quân Nhật, duy trì luật pháp và trật tự.

Thiếu Tá PHILIP MALINS: Ông ấy hoàn toàn không có quyền bắt đầu nói về việc bàn giao Đông Dương thuộc Pháp cho bất kỳ ai khác ngoài người Pháp. Ông ấy có những chỉ dẫn thẳng thắn, nghiêm khắc của mình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việt Nam đã chiến đấu trở lại, nhưng họ có ít vũ khí để sử dụng chống lại quân Pháp, và các chiến thuật tàn bạo của Việt Nam đã làm cho những người dân tộc miền Nam khác xa lánh.

Người Pháp giành lại quyền kiểm soát. Ở phía Bắc, Việt Minh của Hồ được sự ủng hộ rộng rãi, nhưng họ cũng phải đối mặt với một vấn đề: 150.000 quân Trung Hoa Quốc dân Đảng. Người Trung Quốc đến tước vũ khí của người Nhật. Họ ở lại để cướp phá và phá rối và họ đe dọa sẽ ở lại vô thời hạn.

Với mong muốn trục xuất quân đội Trung Hoa, Hồ Chí Minh đã thương lượng với người Pháp. Vào tháng 3 năm 1946, họ đã đạt được một thỏa thuận. Chính quyền thực dân Pháp phô trương quyền lực của mình khi Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến xác nhận thỏa thuận cho phép quân đội Pháp quay trở lại trong một thời hạn. Đổi lại, Pháp công nhận nhà nước Việt Nam mới, và quân đội Trung Quốc ra đi. Hồ Chí Minh đã đánh cược rằng người Pháp sẽ không cố gắng nắm chính quyền, và rằng một thỏa thuận tầm xa cuối cùng có thể được đàm phán.

Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP: Một hiệp định đình chiến đã được ký kết. Đã có những cuộc đàm phán trong tương lai để giải quyết các vấn đề giữa chúng tôi và Pháp. Trong điều kiện đó, ta cho phép một số lượng quân Pháp thế chỗ cho gần 200.000 quân của Tưởng Giới Thạch phải di tản ra khỏi nước ta càng sớm càng tốt. Vì vậy, chúng tôi đã có một thời gian thở để củng cố lực lượng của mình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Người Pháp ở Hà Nội chào đón những đoàn quân đến như những anh hùng chinh phạt. Người Việt Nam ở lại Việt Nam. Hồ Chí Minh sang Pháp để tiếp tục đàm phán. Nhưng nội các Pháp đã sụp đổ. Không có ai để thương lượng. Ông ấy phải đóng vai khách du lịch cho đến khi một liên minh mới được thành lập. Trong khi ông chờ đợi, chính quyền Pháp ở Sài Gòn, tự mình hành động, tuyên bố miền Nam Việt Nam tách khỏi miền Bắc. Đó là một sự vi phạm thỏa thuận tháng Ba và Hồ tự hỏi liệu có điểm nào để đàm phán thêm hay không. “Tôi có nên trở về nhà không?” ông ấy tự hỏi. Ông được cho biết chính phủ mới sẽ thẳng tay giải quyết vấn đề này ở Paris. Năm 1946, Hồ đã nổi tiếng là một người yêu nước trong một phần tư thế kỷ, và những người Việt Nam ở Paris đã quay ra chào đón vị chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Người Pháp chào hỏi một cách chính thức những người cộng sản kỳ cựu, với tư cách là một quốc trưởng. Vào thời điểm này ở Pháp, những người Cộng sản là một phần của chính phủ. Về mặt công khai, quan hệ thân mật, nhưng trên thực tế, các nhà đàm phán Pháp và Việt Nam rất xa nhau.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Các cuộc đàm phán, được tổ chức tại lâu đài lịch sử Fontainebleau, đã diễn ra tồi tệ. Người Việt khẳng định rằng miền nam Việt Nam là một phần của đất nước họ. Người Pháp bảo là không .

Thủ Tướng PHẠM VĂN ĐỒNG: Khi cuộc họp bắt đầu, trưởng phái đoàn Pháp, Max Andre, nói với tôi: “Chúng tôi chỉ cần một cuộc hành quân bình thường của cảnh sát trong tám ngày để quét sạch tất cả các người.” Không cần phải thương lượng.

Tướng JEAN-JULIEN FONDE: Giải pháp phải đến từ Fontainebleau. Sau đó các cuộc đàm phán tại Fontainebleau thất bại. Từ đó, các mối quan hệ xấu dần đi. Không khí đầy ảm đạm.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Thỏa thuận tháng Ba coi như đã chết. Với lực lượng của Pháp và Việt Minh ở cự ly gần, cuộc giao tranh ngày càng leo thang. Cả hai bên đều có những hành động khiêu khích. Tháng 11 năm 1946, Pháp pháo kích vào Hải Phòng. Nhiều sĩ quan Pháp tin rằng chỉ có vũ lực mới có thể ngăn chặn được Việt Minh.

HENRI MARTIN: Khi chúng tôi đến thăm Hải Phòng sau đó, tất cả các khu dân cư Việt Nam đã bị xóa sổ hoàn toàn. Có người chết bị chôn vùi dưới đống đổ nát … rất khó để biết con số chính xác. Nhưng phần lớn hơn của thành phố, đối với chúng tôi từ những gì chúng tôi nhìn thấy, gần như toàn bộ phần Việt Nam của thành phố đã bị phá hủy.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Tướng Fonde đã cố gắng tranh luận phản bác với Tướng Giáp.

Tướng JEAN-JULIEN FONDE: “Nghe này,” tôi nói, “Tôi biết chiến tranh: giết người, chết chóc, tàn phá, cầu bị nổ tung, nhà cháy. Đây là điều không thể tưởng tượng được. Chúng ta phải ngăn chặn điều này.” Anh ta nói với tôi, “Bạn nghe này. Chính trị đi trước kinh tế. Sự tàn phá không quan trọng. Cái chết – một triệu người Việt Nam chết – không quan trọng. Người Pháp cũng sẽ chết. Chúng tôi sẵn sàng. Nó sẽ kéo dài hai năm, năm năm nếu cần thiết. Chúng tôi sẽ không nhượng bộ nữa. “

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Cuối năm 1946, chính phủ của Hồ Chí Minh buộc phải rời khỏi Hà Nội, ra khỏi các thành phố. Cuộc chiến tranh Việt Nam đầu tiên đã bắt đầu. Người Pháp tự tin rằng họ có thể nhanh chóng quét sạch đội quân rởm của tướng Giáp. Họ là một đội quân hiện đại với vũ khí hiện đại, một số được mua bằng viện trợ của Hoa Kỳ. Việt Minh được sự ủng hộ rộng rãi của nông dân.

DƯƠNG VĂN KHÁNH: Tôi được nghe kể về Bác Hồ, người đã đấu tranh cho quyền lợi của nông dân và công nhân. Vì vậy, là một nông dân đã phải chịu đựng rất nhiều, tôi nhận ra rằng điều đúng đắn duy nhất đối với tôi là đi theo con đường tương tự.

NGUYỄN THỊ ĐỊNH: Lúc đầu chúng tôi không có vũ khí gì ngoài giáo tre. Nhưng ở miền Bắc nước ta, họ đang sản xuất vũ khí. Tôi được chỉ định vào đó để báo cáo tình hình miền Nam. Bác Hồ nói với tôi rằng Bác đã cưu mang miền Nam trong sâu thẳm trái tim, và tôi nên nói với Bác những gì chúng tôi cần để trung ương cung cấp cho chúng tôi để đánh Pháp và đuổi chúng ra khỏi đất nước. Tôi trả lời rằng chúng tôi cần súng. Bác Hồ nói rằng Trung ương chỉ có thể cấp cho chúng ta bao nhiêu khẩu súng vì họ không có nhiều. Điều chính, ông nói, là để bắt các khẩu súng của kẻ thù và sử dụng những khẩu súng này để chống lại chúng.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Người Pháp sa lầy trong một cuộc chiến cát lún. Họ tuyên bố một lần nữa rằng một khu vực “đã được bình định,” chỉ để thấy nó bị trượt trở lại quyền kiểm soát của Việt Nam. Du kích dường như có mặt ở khắp mọi nơi và không ở đâu cả. Trong một nỗ lực nhằm lấy sự ủng hộ của dân chúng khỏi Việt Nam, người Pháp đã tạo ra một chính phủ đối thủ của Việt Nam, Nhà nước Việt Nam. Với tư cách là người cai trị, người Pháp đã chọn cựu hoàng của Việt Nam, Bảo Đại. Nhưng họ đã đặt ra quá nhiều giới hạn đối với chế độ của ông ta đến nỗi đối với nhiều người Việt Nam, chế độ này dường như không hề độc lập.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: 1950 đã mang lại một nguồn trợ giúp mới cho Việt Nam. Lực lượng của Mao Trạch Đông đã đến biên giới Việt Nam, chiếm toàn bộ Trung Quốc. Họ mở rộng sự công nhận về mặt ngoại giao cho chính phủ của ông Hồ, quốc gia đầu tiên làm như vậy. Liên Xô nhanh chóng theo sau. Và một tuần sau, Hoa Kỳ công nhận quốc gia đối địch của Bảo Đại. Các đường dây đã được vẽ trong một cuộc Chiến tranh Lạnh tiếp tục.

DOUGLAS MACARTHUR II (cố vấn Bộ Ngoại giao): Vào đầu những năm 1950, Hoa Kỳ có khái niệm về chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa cộng sản quốc tế như một khối nguyên khối cứng của Trung Quốc và Nga, không có kẽ hở nào trong đó đang tìm cách mở rộng và giành vị trí thống trị trong thế giới. Ở châu Âu, họ đã đánh chiếm Đông Âu, đẩy sang Tiệp Khắc; và ở Đông Nam Á, một khu vực mà chúng tôi có mối quan tâm, họ dường như đang cố gắng làm điều tương tự.

Tổng thống HARRY TRUMAN, 1950: Chính nghĩa tự do đang bị thách thức trên khắp thế giới ngày nay bởi các lực lượng của chủ nghĩa cộng sản đế quốc …

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào tháng 5 năm 1950, lần đầu tiên Tổng thống Truman cho phép Hoa Kỳ viện trợ trực tiếp cho cuộc chiến của Pháp ở Đông Dương – 10 triệu đô la – khởi đầu cho cam kết của Hoa Kỳ.

Tổng Thống HARRY TRUMAN: … Họ đã chứng minh hết lần này đến lần khác rằng cuộc nói chuyện về hòa bình của họ chỉ là tấm áo choàng cho chủ nghĩa đế quốc.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Cam kết của Hoa Kỳ sâu sắc hơn sau khi quân đội Bắc Triều Tiên xâm lược Hàn Quốc vào cuối tháng 6 năm 1950.

DEAN RUSK: Vào cuối tuần xảy ra cuộc tấn công của Triều Tiên, chúng tôi đã quyết định tăng cường viện trợ rất đáng kể cho Pháp và Đông Nam Á. Bởi vì vào thời điểm đó, chúng tôi không biết liệu người Trung Quốc có thể cố gắng tiến vào khu vực đó như một phần của cuộc tổng tấn công ở châu Á hay không.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào cuối năm 1950, Hoa Kỳ đã viện trợ 150 triệu đô la cho lực lượng Pháp, bao gồm máy bay, xe tăng, nhiên liệu, đạn dược và bom napalm. Khi các chiến lược gia Hoa Kỳ nhìn vào châu Á, họ thấy một mối đe dọa từ Cộng sản đang lan rộng. Cuộc chiến ở Triều Tiên đã trở thành một cuộc chiến tranh quốc tế. Và tại Việt Nam, Việt Cộng đã liên kết với Trung Quốc Cộng sản. Năng lực chiến tranh của Việt Nam được cải thiện đáng kể.

Đại tá BÙI TÍN: Chúng tôi đã sử dụng vũ khí mới để tấn công quân Pháp. Chúng tôi đã có thể quét sạch hai đơn vị lớn của Pháp và thu giữ tất cả vũ khí của họ. Đã dọn đường cho liên lạc giữa Việt Nam và thế giới bên ngoài. Sau đó chúng tôi nhận được viện trợ quân sự từ Trung Quốc, đặc biệt là trang thiết bị.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Thất bại ở biên giới phía Bắc là một thảm họa đối với người Pháp. Chiến tranh Đông Dương không còn chỉ là một cuộc xung đột thuộc địa. Nó vẫn còn nhỏ, nhưng nó đã trở nên quốc tế, được các cường quốc lớn ủng hộ cả hai bên. Vào cuối năm 1953, Mỹ đã chi trả 80% chiến tranh, hơn một tỷ đô la mỗi năm. “Le jaunissement” – Việt Nam hóa chiến tranh của Pháp – và các chiến lược khác để giành được sự ủng hộ của Việt Nam đã thất bại. Người Pháp kiểm soát các thành phố, nhưng Việt Nam kiểm soát các vùng nông thôn. Người Pháp kiểm soát ban ngày; the Việt Minh, the night. Tướng Henri de Navarre trở thành chỉ huy thứ năm của Pháp trong vòng 5 năm.

Đại Úy JEAN POUGET: Khi Tướng Navarre đến, ông ấy đã mở ngay một tệp và trên tệp đó tôi viết “Mục tiêu Chiến tranh”. Chúng tôi tìm kiếm những gì để nói với quân đội. Chà, cho đến cuối tập tin này thực tế vẫn trống. Chúng tôi không bao giờ có thể thể hiện một cách cụ thể mục tiêu chiến tranh của mình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Tướng Navarre đã thử một chiến lược mới khác. Các đơn vị của Pháp được thiết lập ở những vùng xa xôi, được cung cấp bằng đường hàng không. Nhiệm vụ của họ là truy lùng và tiêu diệt Việt gian.

Người Pháp đã lên kế hoạch thí nghiệm chiến lược mới trong một vùng thung lũng ở đối núi miền Tây để dụ Việt Minh vào bẫy, cách xa Hà Nội 170 dặm (272 cây số): Điện Biên Phủ  

Việt Nam đã đi qua thung lũng trong một cuộc tấn công lớn vào Lào. Người Pháp mong đợi một cuộc tấn công khác và cho rằng Điện Biên Phủ   sẽ là nơi giao tranh với họ. Vào tháng 11 năm 1953, 12.000 quân Pháp bắt đầu thả xuống thung lũng, dưới sự chỉ huy của Đại tá Christian de Castries. Bộ chỉ huy cao nhất của Pháp ở Sài Gòn chắc chắn rằng Tướng Giáp sẽ không bao giờ có thể tập trung đủ số lượng quân xung quanh Điện Biên Phủ , không bao giờ cho pháo hạng nặng lên đồi, không bao giờ mở các đường tiếp tế. Ban chỉ huy tại Điện Biên Phủ cũng tự tin không kém. Sĩ quan pháo binh khẳng định rằng không một khẩu súng Việt Nam nào bắn được quá ba viên đạn.

CAPTAIN JEAN POUGET: Tôi đã thấy tất cả các loại chính quyền dân sự và quân sự đi qua Dienbienphu. Trừ khi trí nhớ của tôi hoàn toàn bị bóp méo, tôi không nhớ một ai, tuyệt đối không một ai trong số những nhà chức trách này không phát hiện ra rằng Dienbienphu là một căn cứ đáng gờm. Đó là vùng đất và căn cứ không quân tuyệt vời, nó “không thể nhầm lẫn.”

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việt Minh coi Điện Biên Phủ là một cơ hội lớn, nhưng cũng là một canh bạc lớn. Lực lượng của Hồ Chí Minh đã thất bại nặng nề trong các cuộc tấn công vào các cứ điểm khác của quân Pháp. Nhưng họ quyết định mạo hiểm.

Đại Úy CAO XUÂN NGHĨA: Từ Thái Nguyên, chúng tôi mất khoảng 45 ngày. Chúng tôi hành quân vào ban đêm và nghỉ ngơi vào ban ngày. Đôi khi chúng tôi chỉ ngủ ở ven đường nếu không có nơi trú ẩn xung quanh.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Bộ chỉ huy Pháp đã mời một trận chiến vì họ nghĩ rằng Việt Nam sẽ không bao giờ có đủ quân và súng đến Điện Biên Phủ. Nhưng họ đã làm. Năm mươi mốt ngàn lính Việt Nam – quân số gấp bốn lần quân Pháp – vượt núi, vác đồ tiếp tế trên lưng, xe đạp thồ, vác súng.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Cả hai bên đều có lý do đặc biệt khi muốn giành chiến thắng tại Đện Biên Phủ. Cùng lúc này, tháng Giêng năm 1954, các cường quốc đang họp tại Berlin. Họ ấn định ngày và địa điểm – ngày 26 tháng 4 tại Geneva – để gặp gỡ và thảo luận về các vấn đề châu Á, trong đó có cuộc khủng hoảng Đông Dương. Ngày 13 tháng 3, Giáp mở cuộc tấn công vào Điện Biên Phủ. Trận chiến bắt đầu với các cuộc tấn công “biển người” lớn. Các khẩu pháo của Việt Minh đã che chắn pháo binh Pháp từ các vị trí được đào và ngụy trang rất kỹ nên máy bay Pháp không thể bắn trúng được. Bài học đầu tiên đã bị rớt trong vòng tám giờ. Đến ngày hôm sau, ngày 14 tháng 3, trận pháo kích của Việt Minh đã phá hủy phi đạo chính. Bộ tham mưu Pháp bị sốc. Đại tá de Castries trở nên thu mình, thiếu thông thạo. Vào đêm thứ hai, người chỉ huy pháo binh Trung tá Charles Piroth đã tự sát nói rằng, “Tôi hoàn toàn bị ô nhục.” Bốn ngày sau trận chiến, Việt Minh đã kiểm soát toàn bộ chu vi. Cái giá phải trả là rất cao: hàng ngàn người chết và bị thương trong số những người Việt Nam. Giáp quyết định thay đổi chiến lược.

Tướng GIÁP: Quyết định ở mặt trận Dienbienphu đối với tôi là một trong những quyết định lớn nhất và khó khăn nhất trong cuộc đời chiến đấu của tôi.

Đại tá BÙI TÍN: Với tư cách chỉ huy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định chấm dứt cuộc tấn công này theo chiến thuật sóng người. Toàn bộ kế hoạch đã được thay đổi. Cuộc tấn công bị dừng lại và toàn bộ số pháo hạng nặng được kéo lùi về một phía xa. Sau đó, các chiến hào, địa đạo được đào và xây dựng lại tinh thần của bộ đội dựa trên khẩu hiệu: “Tiến công kiên cố, chiến đấu kiên cố.” Xẻng trở thành vũ khí vô cùng quan trọng. Tất cả các cán bộ, chiến sĩ đều dồn hết thời gian, sức lực vào việc đào hào, hầm. Chúng tôi từ từ bao vây Dienbienphu bằng các chiến hào, khoét vào phi đạo để nó không thể sử dụng được nữa, từ từ thắt thòng lọng quanh cổ quân Pháp.

LƯU Ý: Khi phi đạo ra ngoài, quân Pháp đồn trú phụ thuộc vào việc thả dù, nhưng hỏa lực phòng không Việt Nam buộc các phi công phải bay quá cao. Vật tư bắt đầu rơi vào tay kẻ thù. Sự thay đổi chiến lược của Tướng Giáp đã phát huy tác dụng, và ông đã giải quyết được một cuộc vây hãm lâu dài. Đối với người Pháp, Dienbienphu trở thành cơn ác mộng. Mùa mưa bắt đầu sớm với những cơn mưa như trút nước. Các hầm trú ẩn và hầm trú ẩn của quân Pháp bị sụp đổ. Nước sạch trở nên không thể tìm thấy. Vật tư y tế đã hết. Không máy bay nào có thể hạ cánh để sơ tán những người bị thương. Những người đàn ông bị thương trong chiến hào chìm dưới lớp bùn cao bằng thước để chết.

JEAN POUGET: Tôi đến vào đêm ngày 2 tháng 5 và Dienbienphu rơi vào ngày 7 tháng 5. Kỉ niệm tôi lưu giữ về nó là một khối thời gian. Không có ngày hay đêm. Tôi không bao giờ nằm. Tôi chưa bao giờ ngủ. Tôi không nhớ đã ăn. Bốn giờ sáng tạm lắng. 35 người chúng tôi ở lại đồn của tôi, với một khẩu súng máy, một trái lựu đạn. Vì vậy, tôi hỏi trên đài phát thanh, tôi nói, “Vì anh không thể gửi quân tiếp viện …” Anh ta nói, “Anh muốn tôi lấy chúng ở đâu? Anh biết là không còn gì cả.” “Vậy thì cho tôi ủy quyền đi ra ngoài.” Anh ta trả lời rất đơn giản, “Không thể nào. Anh là lính dù, anh phải ở đó để chết.” Chúng tôi dựng một rào chắn bằng xác chết ở lối vào vì chúng tôi không có bao cát, và chúng tôi chờ đợi. Và chúng tôi nhìn thấy những bóng đen lần lượt đến, Việt Minh. Tôi quyết định ném lựu đạn và chúng tôi ngay lập tức bị bắn trả. Một trong những ấn tượng cuối cùng của tôi là cảm thấy bức tường xác chết rùng mình dưới ngọn lửa bùng lên. Sau đó, một quả lựu đạn chắc chắn đã trúng vào mũ bảo hiểm của tôi vì lưới bị cháy và mũ bảo hiểm bị móp. Mũ bảo hiểm của Mỹ rất chắc chắn. Tôi bất tỉnh và khi tôi đến, phía trên tôi, rất gần, một chiếc mặt nạ của một bác sĩ phẫu thuật, từ đó vang lên một giọng nói: “Anh là tù binh của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Mặc dù các quay phim chiến đấu của Việt Nam có mặt tại Dienbienphu, nhưng các cảnh quay về trận chiến kéo dài 55 ngày đã được đạo diễn Liên Xô dựng lại sau trận Pháp bại trận. Một số phân cảnh phim là chân thực, một số tái hiện. Điện Biên Phủ khiến quân Pháp 1.500 người chết, 4.000 người bị thương, 10.000 người bị bắt làm tù binh. Nhiều người trong số các tù nhân đã chết trong các trại Việt Nam. Chiến thắng của Việt Nam tại Điện Biên Phủ còn khiến họ thiệt hại nhiều hơn: 8.000 người chết, 15.000 người bị thương.

JOHN FOSTER DULLES, tháng 6 năm 1954:

Tất cả các bạn đều biết rằng Pháp và đồng minh Việt Nam của họ đã phải hứng chịu những pha đảo ngược, đáng chú ý là sự thất thủ của Điện Biên Phủ sau một pha phòng ngự tuyệt vời. Tình hình hiện tại là nghiêm trọng, nhưng không có nghĩa là vô vọng. Trong hội nghị hiện nay tại Geneva, chúng tôi và các quốc gia tự do khác đang tìm kiếm một công thức để cuộc chiến có thể kết thúc và nhân dân Đông Dương đảm bảo độc lập thực sự. Cho đến nay, thái độ của Cộng sản tại Geneva là không đáng khích lệ.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Hội nghị Geneva gần như sa lầy ngay lập tức. Phái đoàn Hoa Kỳ được lệnh phải theo dõi và không được nói chuyện.

U. ALEXIS JOHNSON: Hướng dẫn của tôi là đi họp. Không tham gia vào họ và không đồng ý bất cứ điều gì ngoài việc ở đó và ngồi vào bàn. Và tôi thấy rằng một công việc rất khó khăn, ngồi vào bàn mà mọi người đang thảo luận và đưa ra một số kết luận mà không đồng ý với họ; trong những tình huống mà bản thân sự im lặng có xu hướng đồng ý. Tôi có thể nói với bạn rằng tôi đã rất rất rất không hạnh phúc và đổ mồ hôi rất rất rất tự do.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Hoàng đế Bảo Đại, người đứng đầu Nhà nước Việt Nam, cũng đã cử một phái đoàn đến Geneva.

BẢO ĐAI: Tôi đã được nói rằng tôi nên chấp nhận những người Cộng sản tại bàn hội nghị. Tôi nói: “Không, chỉ có một nhà nước Việt Nam. Đó là Cộng sản là những kẻ nổi loạn.” Với lập trường kiên quyết của tôi, họ đã biến hội nghị chính trị thành hội nghị quân sự.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào tháng 6, nội các Pháp sụp đổ, và một thủ tướng mới lên nắm quyền, một người chỉ trích cuộc chiến, Pierre Mendes-France. Mendes-France đã thực hiện lời hứa với Quốc hội Pháp. Nếu không giải quyết được vấn đề Đông Dương tại Geneva trong vòng 30 ngày, ông sẽ từ chức. Hoa Kỳ lo sợ điều này có nghĩa là Pháp có thể từ bỏ Đông Dương cho Cộng sản.

U. ALEXIS JOHNSON: Washington hoàn toàn không rõ ràng về loại thỏa thuận mà Mendes-France đang đề xuất thực hiện hoặc thỏa thuận nào mà ông ấy sẽ thực hiện – và nếu thỏa thuận sẽ là thứ mà chúng ta có thể sống hoặc chấp nhận , hoặc liệu chúng ta có phải tố cáo nó hay không và thực tế là phải bước ra khỏi hội nghị.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Sau nhiều cuộc điều động bí mật, một tuần trước thời hạn của mình, Mendes-France đã đưa tất cả những người tham gia vào vị trí tại Geneva. Vào ngày 20 tháng 7, một ngày trước thời hạn, hai vấn đề vẫn chưa được giải quyết.

PHẠM VĂN ĐỒNG: Tại hội nghị có hai vấn đề được thảo luận: Một là đường phân giới tạm thời giữa hai miền. Và ngày kia là ngày tổng tuyển cử thống nhất đất nước Việt Nam. Hai vấn đề này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Điều đó đã rất rõ ràng.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việt Nam, trước chiến thắng tại Điện Biên Phủ, đã cứng rắn trong cả hai vấn đề, nhưng vào ngày cuối cùng, Liên Xô và Trung Quốc đã buộc họ phải thỏa hiệp. Việt Nam, người kiểm soát phần lớn đất nước, sẽ nhận được ít hơn một nửa. Các cuộc bầu cử để thống nhất Việt Nam sẽ diễn ra; Không phải sớm, khi chắc chắn Việt Nam sẽ vô địch, mà là hai năm nữa. Họ đã bị cắt giảm bởi các đồng minh của họ. Người Liên Xô và người Trung Quốc có một số động cơ, trong số đó, là sự sợ hãi; nếu Mendes-France thất bại, Pháp có thể tiếp tục chiến đấu và Mỹ có thể can thiệp.

PREMIER PIERRE MENDES-PHÁP, ngày 21 tháng 7 năm 1954:

Lý trí và hòa bình đã chiến thắng. Sau những ngày đêm đàm phán cam go, đầy lo lắng và hy vọng, lệnh ngừng bắn đã được ký kết. Trong tâm hồn và lương tâm của tôi, tôi chắc chắn rằng đây là những điều kiện tốt nhất mà chúng tôi có thể hy vọng trong tình trạng hiện tại của mọi thứ.

U. ALEXIS JOHNSON: Cảm giác của riêng tôi khi kết thúc hội nghị là chúng tôi có lẽ đã thu được gần như tất cả những gì có thể thu được trong bối cảnh tình hình thực tế. Tôi không, tôi không nghĩ chúng ta có thể kiếm được nhiều hơn thế. Nhưng tôi phải nói rằng thành thật mà nói, tôi không mấy lạc quan rằng miền Nam Việt Nam sẽ có thể tồn tại.

Đại tá BÙI TÍN: Chúng tôi nghĩ rằng sau khi ký các hiệp định, người Pháp bây giờ sẽ bị dư luận thế giới buộc phải thực hiện các hiệp định Genève. Và chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng sẽ có một cuộc tổng tuyển cử được tổ chức sau hai năm nữa, và khi đó Cách mạng chắc chắn sẽ thắng lợi. Vì vậy, chúng tôi chào nhau, “Trong hai năm!” Chúng tôi dự kiến sẽ có một cuộc tổng tuyển cử và thống nhất trong hai năm.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào mùa thu năm 1954, Việt Nam đã hành quân vào Hà Nội, lấy lại từ tay người Pháp những gì họ đã mất tám năm trước đó. Đối với Mỹ và thế giới, có vẻ như Việt Nam cũng sẽ sớm tiến quân vào Sài Gòn, khi người Pháp rút quân, lấy đi mọi thứ: nhà cửa, xe tải, nhà máy, thậm chí cả xác chết của họ.

Among them was Ho Chi Minh.

Ho Chi Minh’s early years are difficult to trace. He was always mysterious about himself, giving few interviews, and preferring in later life to present himself as the benevolent “Uncle Ho.” Ho was born about 1890 as Nguyen Tat Thanh, the son of an official who resigned rather than serve under the French. As a young man, Ho left his country, working as a shiphand and cook in America, Britain and France.

In 1917, Ho moved to Paris. He took the pseudonym Nguyen Ai Quoc, “Nguyen the Patriot,” and began to agitate for Vietnam’s independence. He tried to plead his cause at the Versailles Conference following World War I, but was not admitted. His effort made him famous among the Vietnamese in France.

In 1920, Nguyen Ai Quoc became a founding member of the French Communist Party, the first Vietnamese Communist. He remained in France editing an anti-colonial paper called Le Paria (The Outcast), and supporting himself as a photographer’s assistant. His drawings, published in the newspaper, showed he was still concerned with Vietnam, which he had not seen for ten years.

The Communists sent him to Moscow for training in 1923.

He travelled widely, organizing expatriate Vietnamese into a revolutionary party. Reports during the next 17 years placed him in Germany, China, Thailand, France, Russia.

FRENCH NEWSREEL:
Pathe Journal presents a review of achievements accomplished under the protection of our flag.

In regions of hostility and misery French civilizers have brought peace, work, prosperity and joy.

The French overseas domain is an essential part of the world’s economy, an active force of civilization and a glorious testimony to the grandeur of France.

NARRATOR: World War II brought the end of this “grandeur of France.” Japan, pursuing its conquest of China, wanted to block the transport of war material through Vietnam. In June 1940, three days after France fell to Nazi Germany, Japan demanded the right to land forces in Indochina.

Japan’s arrival deeply impressed the Vietnamese. Asians like themselves had overthrown the European colonials — for it was clear who was in charge.

NARRATOR: The Japanese supported several Vietnamese nationalist groups. But other groups were both anti-French and anti-Japanese. The most important was the Vietminh, founded in 1941 by Nguyen Ai Quoc. He had returned to Vietnam after 30 years, with a new name: Ho Chi Minh, meaning, “He Who Enlightens.”

HOANG QUOC VIET: After the conference to establish the Vietminh, Uncle Ho sent out a letter calling for the support of the population. And it was this that rallied the entire country around the movement. And when people realized that Ho Chi Minh was actually Nguyen Ai Quoc, their trust in the movement was further established. This was because the name Nguyen Ai Quoc had been widely known in the country. People knew that he was a great patriot.

NARRATOR: The Vietminh organized guerrilla bases, trained cadres, harassed the French and Japanese and spread propaganda, urging the peasants to resist.

INTERVIEWER: Why did the Vietminh fight the Japanese while other Asian nationalists collaborated?

PREMIER PHAM VAN DONG: (Laugh) I apologize, but this is a very funny question. At that time, the Japanese had already overthrown the French and began to dominate our country, so of course we had to fight the Japanese.

NARRATOR: By early 1945, Vietnam was suffering a terrible famine. People blamed the French and Japanese, who were hoarding rice, feeding it to Japanese troops, and even exporting it to Japan — while an estimated two million Vietnamese out of eight million in the northern areas died.

DR. TRAN DUY HUNG: At that time, in our estimate, at least 40,000 starving, poor peasants arrived in Hanoi to beg for food and to wait for handouts, for alms. The French did not organize any hunger relief. And the Japanese specifically forbade us to carry out any hunger relief effort of our own. People dug into the garbage dumps in order to find any edible thing at all. They also ate rats. But this was not enough to keep them alive.

NARRATOR: The Vietminh organized the peasants to seize rice stocks, and gained tremendous prestige. This peasant support gave them a political edge they never lost.

PRESIDENT FRANKLIN D. ROOSEVELT, March 1, 1945:
It’s a long tough road to Tokyo. It is longer to go to Tokyo than it is to Berlin, in every sense of the word. The defeat of Germany will not mean the end of the war against Japan…

NARRATOR: As the war in Europe drew to a close, Allied attention turned to Asia and the war against Japan. One of the pressing needs was intelligence. The Vietminh believed Allied statements supporting the rights of oppressed peoples. They had given the Allies information about Japanese troop movements, so the Americans turned to the Vietminh and its leader, Ho Chi Minh.

ARCHIMEDES PATTI (O.S.S. Officer): I first met Ho on the China border between China and Indochina in the last days of April of 1945. He was an interesting individual. Very sensitive, very gentle, rather a frail type. We spoke quite at length about the general situation, not only in Indochina, but the world at large.

ABBOT LOW MOFFAT: We knew he was a Communist, but we also felt, as they did, and the way anybody who has known, met Ho Chi Minh, who I’ve ever talked with, had the same feeling: he was first a nationalist, and second a Communist. That is, he was interested in getting the independence of his people and then he thought probably the best thing for them was the Communist type of government. But he was a nationalist first and foremost.

NARRATOR: The Vietminh agreed to help the Allies. Major Patti sent a training group, the Deer Mission, into the northern mountains.

ARCHIMEDES PATTI: The Deer team went in and they organized. Out of about 500 Vietnamese, we selected, with the help of General Giap, selected 200. We spent the next four weeks training these young men into the art of using automatic weapons, demolition equipment, infiltrating and exfiltrating into various dangerous areas. There, for the first time, we saw what kind of troops the Vietminh were. They were a very willing, fine young nationalist, really what we used to say “gung ho” type. They were willing to risk their lives for their cause, the cause of independence against the French.

NARRATOR: Before Ho’s men could prove their willingness, World War II was over.

The sudden Japanese collapse took many in French Indochina by surprise, but the Vietminh were ready for what they called the “August Revolution.” Declaring Vietnam independent, they marched in to take Hanoi peacefully. Ho Chi Minh formed a government in Hanoi, carefully mixing in members of other nationalist groups. But in the South, away from Ho’s moderating influence, his followers started purging rival nationalists. Still with the Vietminh, and perhaps reinforcing the idea of American support, was the OSS.

ARCHIMEDES PATTI: Two or three days after I met Ho, he asked me to come in and stop and see him at which time he wanted to show me something, and what he wanted to show me was a draft of the Declaration of Independence that he was going to declare several days later. Of course, it was in Vietnamese and I couldn’t read it and when it was interpreted to me, I was quite taken aback to hear the words of the American Declaration of Independence. Words about liberty, life and the pursuit of happiness, etcetera. I just couldn’t believe my own ears.

NARRATOR: On September 2, 1945, on board the U.S.S. Missouri in Tokyo Bay, Japan formally surrendered. On the same day throughout Vietnam, the Vietnamese celebrated their self-proclaimed Independence Day and the formation of a new country, the Democratic Republic of Vietnam. In Hanoi, Ho Chi Minh read a speech that began, “All men are created equal. They are endowed by their creator with certain inalienable rights…”

DR. TRAN DUY HUNG: I can say that the most moving moment was when President Ho Chi Minh climbed the steps and the national anthem was sung. It was the first time that the national anthem of Vietnam was sung in an official ceremony. Uncle Ho then read the Declaration of Independence, which was a short document. As he was reading, Uncle Ho stopped and asked, “Compatriots, can you hear me?” This simple question went into the hearts of everyone there. After a moment of silence, they all shouted, “Yes, we hear you!” And I can say that we did not just shout with our mouths but with all our hearts, the hearts of over 400,000 people standing in the square then. After Uncle Ho finished reading the Declaration of Independence, an airplane, a small plane, circled over us. We did not know whose plane it was. We thought that it was a Vietnamese plane. But when it swooped down over us, we recognized the American flag. The crowd cheered enthusiastically.

NARRATOR: Ho appealed to President Harry Truman but he would probably have accepted anyone’s support. Truman did not respond to Ho’s letters. He had been in office only four months in August 1945 and had not had time to formulate a policy on Indochina.

ABBOT LOW MOFFAT: There was quite a division in the State Department over Indochina. Both the Far Eastern office and the European office were in complete agreement that we wanted a strong France recovered in Europe from the trauma of Vichy and the defeat in the war, but the European division felt that to help get the French back on their feet we should go along with practically anything that the French wanted.

NARRATOR: The Allies had worked out a compromise plan to disarm the Japanese. Above the 16th parallel, the Chinese would take the surrender of Japanese troops. The British would do the same in the South. They arrived in Saigon in early September.

NARRATOR: The British commander, General Douglas Gracey, was a seasoned colonial officer with limited political experience. His orders were to disarm the Japanese, and maintain law and order.

MAJ. PHILIP MALINS: He had absolutely no mandate whatever to start talking about handing over French Indochina to anyone other than the French. He had his straight, strict instructions.

NARRATOR: The Vietminh fought back, but they had few weapons to use against the French troops, and the Vietminh’s brutal tactics alienated other southern nationalists.

The French regained control. In the North, Ho’s Vietminh had widespread support, but they also faced a problem: 150,000 Nationalist Chinese troops. The Chinese came to disarm the Japanese. They stayed to loot and disrupt and they threatened to remain indefinitely.

Desperate to expel the Chinese, Ho Chi Minh negotiated with the French. In March 1946, they reached an agreement. The French colonial authorities displayed their power as Ho Chi Minh, President of the Democratic Republic of Vietnam, came to confirm the agreement permitting French troops back for a limited period. In return, France recognized the new Vietnamese state, and the Chinese army left. Ho Chi Minh was gambling that the French would not try to seize power, and that a long-range agreement could eventually be negotiated.

GENERAL VO NGUYEN GIAP: A truce was concluded. There were to be future negotiations to settle the problems between us and France. Under these conditions, we allowed a certain number of French troops to take the place of the nearly 200,000 troops of Chiang Kai-shek, which were to evacuate our country as soon as possible. So we had some breathing time to consolidate our forces.

NARRATOR: The French in Hanoi greeted the arriving troops as conquering heroes. The Vietnamese stayed home. Ho Chi Minh travelled to France to continue the negotiations. But the French cabinet had collapsed. There was no one to negotiate with. He had to play tourist until a new coalition was formed. While he waited, the French administration in Saigon, acting on its own, declared the southern part of Vietnam separate from the North. It was a violation of the March agreement and Ho wondered if there was any point to further negotiations. “Should I go back home?” he asked. He was told the new government would straighten it out in Paris. In 1946, Ho had been famous as a patriot for a quarter of a century, and the Vietnamese in Paris turned out to welcome this first president of an independent Vietnam. The French greeted the veteran Communist formally, as a chief of state. At the time in France, Communists were part of the government. In public, relations were cordial, but in fact the French and Vietnamese negotiators were far apart.

NARRATOR: The negotiations, held at the historic Fontainebleau chateau, went badly. The Vietnamese insisted that southern Vietnam was part of their country. The French would not budge.

PREMIER PHAM VAN DONG: When the meeting began, the chief of the French delegation, Max Andre, said to me: “We only need an ordinary police operation for eight days to clean all of you out.” There was no need for negotiations.

GENERAL JEAN-JULIEN FONDE: The solution had to come from Fontainebleau. Then the negotiations at Fontainebleau failed. From then on, relationships deteriorated. The climate deteriorated.

NARRATOR: The March agreement was dead. With French and Vietminh forces at close range, the fighting escalated. There were provocations on both sides. In November 1946, the French shelled Haiphong. Many French officers believed only force would stop the Vietminh.

HENRI MARTIN: When we visited Haiphong afterwards, all the Vietnamese neighborhoods were completely wiped out. There were dead buried under debris… it is difficult to know the exact figure. But the larger part of the city, it seemed to us from what we saw, almost the entire Vietnamese part of the city had been destroyed.

NARRATOR: General Fonde tried to reason with General Giap.

GENERAL JEAN-JULIEN FONDE: “Listen,” I said, “I know war: murders, deaths, destruction, bridges blown up, burning houses. This is unthinkable. We have to prevent this.” He said to me, “You listen. Politics come before economics. The destruction is not important. The deaths — one million Vietnamese deaths — not important. The French will die too. We are ready. It will last two years, five years if necessary. We will no longer give in.”

NARRATOR: By late 1946, Ho Chi Minh’s government was forced out of Hanoi, out of the cities. The first Vietnam war had started. The French were confident that they could wipe out Giap’s ragtag army quickly. They were a modern army with modern weapons, some bought with U.S. aid. The Vietminh had widespread support from the peasants.

DUONG VAN KHANH: I heard about Uncle Ho who fought for the rights of the peasants and the workers. So as a peasant who has suffered a lot, I realized that the only correct thing for me to do was to follow the same path.

NGUYEN THI DINH: At first we did not have any weapons except for bamboo spears. But in the northern part of our country, they were producing arms. I was appointed to go there to report on the situation in the South. Uncle Ho told me that he carried the South in the depth of his heart, and I should tell him what we needed so that the central government could supply us to fight the French and drive them out of the country. I replied that we needed guns. Uncle Ho said that the central government could only give us so many guns because they did not have many. The main thing, he said, was to capture the enemy’s guns and use these guns against them.

NARRATOR: The French bogged down in a quicksand war. Again and again they declared an area “pacified,” only to find it slipping back into Vietminh control. The guerrillas seemed to be everywhere and nowhere. In an attempt to take popular support away from the Vietminh, the French created a rival Vietnamese government, the State of Vietnam. As its ruler, the French picked Vietnam’s former emperor, Bao Dai. But they placed so many limitations on his regime that to many Vietnamese it did not seem at all independent.

NARRATOR: Nineteen-fifty brought a new source of help to the Vietminh. Mao Zedong’s forces arrived at Vietnam’s borders, having taken all of China. They extended diplomatic recognition to Ho’s government, the first country to do so. The Soviet Union followed quickly. And a week later, the United States recognized Bao Dai’s rival state. Lines were being drawn in a continuing Cold War.

DOUGLAS MACARTHUR II (State Department counselor): In the early 1950s, the United States had a concept of communism, international communism as a hard monolithic block of China and Russia with no crevices in it that were seeking to expand and gain a dominant position in the world. In Europe, they had taken over Eastern Europe, pushed into Czechoslovakia; and in Southeast Asia, an area in which we had interests, they seemed to be trying to do the same thing.

PRESIDENT HARRY TRUMAN, 1950:
The cause of freedom is being challenged throughout the world today by the forces of imperialistic communism…

NARRATOR: In May 1950, for the first time, President Truman authorized direct U.S. aid for the French war in Indochina — $10 million — the beginning of an American commitment.

PRESIDENT HARRY TRUMAN:
…They have proved time after time that their talk about peace is only a cloak for imperialism.

NARRATOR: The U.S. commitment deepened after North Korean troops invaded South Korea at the end of June, 1950.

DEAN RUSK: It was decided on the very weekend of the North Korean attack that we would step up our aid very significantly to the French and to Southeast Asia. Because we did not know at that point whether or not the Chinese might attempt to move into that area as part of a general offensive in Asia.

NARRATOR: By the end of 1950, the United States had given $150 million in aid to the French forces, including planes, tanks, fuel, ammunition and napalm. As U.S. strategists looked at Asia, they saw a spreading Communist menace. The fight in Korea had become an international war. And in Vietnam, the Vietminh had linked up with Communist China. Vietminh war capacities improved dramatically.

COLONEL BUI TIN: We used the new weapons to mount offensives against the French. We were able to wipe out two large French units and capture all their weapons. The way was cleared for communications between Vietnam and the outside world. Then we received military aid from China, especially equipment.

NARRATOR: The defeats on the northern border were a disaster for the French. The Indochina war was no longer just a colonial conflict. It was still small, but it had become international, supported on both sides by major powers. By the end of 1953, America was paying 80 percent of the war, over a billion dollars a year. “Le jaunissement” — France’s Vietnamizing of the war — and other strategies to gain Vietnamese support had failed. The French controlled the cities, but the Vietminh controlled the countryside. The French controlled the day; the Vietminh, the night. General Henri de Navarre came in as the fifth French commander in five years.

CAPTAIN JEAN POUGET: When General Navarre arrived, he opened a file right away and on that file I wrote “War Goals.” We looked for what to tell the troops. Well, until the end this file remained practically empty. We never could express concretely our war goals.

NARRATOR: General Navarre tried yet another new strategy. French units were set up in remote areas, supplied by air. Their mission was to search out and destroy the Vietminh.

The French planned to test their new strategy in a valley set among the western mountains, 170 miles from Hanoi: Dienbienphu. The Vietminh had passed through the valley during a major attack on Laos. The French expected another attack and thought Dienbienphu would be the place to engage them. In November 1953, 12,000 French troops began dropping into the valley, under the command of Colonel Christian de Castries. The top French command in Saigon was sure that Giap would never be able to mass enough troops around Dienbienphu, never get heavy artillery up the hills, never keep supply lines open. The command at Dienbienphu was equally confident. The artillery officer insisted that no Vietminh gun would be able to fire more than three rounds.

CAPTAIN JEAN POUGET: I saw all sorts of civilian and military authorities go through Dienbienphu. Unless my memory is completely twisted, I don’t remember a single one, absolutely not a single one of these authorities who didn’t find that Dienbienphu was a formidable base. It was the great land and air base, it was “untakeable.”

NARRATOR: The Vietminh saw Dienbienphu as a great opportunity, but a great gamble, too. Ho Chi Minh’s forces had lost heavily in attacks on other French strong points. But they decided to take the risk.

CAPTAIN CAO XUAN NGHIA: From Tahinguyen it took us about 45 days. We marched at night and rested during the day. Sometimes we just slept on the roadsides if there were no shelters around.

NARRATOR: The French command was inviting a battle because they thought the Vietminh would never be able to get enough troops and guns to Dienbienphu. But they did. Fifty-one thousand Vietminh soldiers — four times the number of French troops — crossed the mountains, carrying supplies on their backs and bicycles, and hauling guns.

NARRATOR: Both sides had a special reason for wanting to win at Dienbienphu. At this same time, January 1954, the great powers were meeting in Berlin. They set a date and place — April 26 in Geneva — to meet and discuss Asian issues, including the Indochina crisis. On March 13, Giap launched his attack on Dienbienphu. The battle began with massive “human wave” assaults. The Vietminh guns blanketed French artillery from positions so well dug in and camouflaged that the French planes could not get at them. The first post fell within eight hours. By the next day, March 14, the Vietminh shelling had destroyed the main airstrip. The French command staff was shocked. Colonel de Castries became withdrawn, uncommunicative. On the second night the artillery commander committed suicide saying, “I am completely dishonored.” Four days into the battle, the Vietminh controlled the entire perimeter. The cost was high: thousands were dead and wounded among the Vietminh. Giap decided to change strategy.

GENERAL GIAP: This decision on the Dienbienphu front constitutes for me one of the biggest and the most difficult decisions in my fighting life.

COL. BUI TIN: As commander, General Vo Nguyen Giap decided to end this attack based on the human-wave tactic. The entire plan was changed. The attack was stopped and all the heavy artillery pieces were pulled back to a distance. Then trenches and tunnels were dug and the morale of the troops was rebuilt based on the slogan: “Advance solidly, Fight solidly.” Shovels became extremely important weapons. All the cadres and soldiers put most of their time and energy into digging trenches and tunnels. We slowly surrounded Dienbienphu with trenches, cutting into the airstrip so it could not be used again, slowly tightening the noose around the necks of the French.

NARRATOR: With the airstrip out, the French garrison was dependent on parachute drops, but Vietminh anti-aircraft fire forced pilots to fly too high. Supplies began falling into enemy hands. General Giap’s change in strategy was working, and he settled in for a long siege. For the French, Dienbienphu became a nightmare. The rainy season started early with drenching downpours. French dugouts and shelters collapsed. Clean water became impossible to find. Medical supplies ran out. No planes could land to evacuate the wounded. Men who were wounded in the trenches sunk under the yard-high mud to die.

JEAN POUGET: I arrived during the night of May 2, and Dienbienphu fell on May 7. The memory I keep of it is one block of time. There was no day or night. I never lay down. I never slept. I don’t remember eating. At four o’clock in the morning there was a lull. We were 35 left at my post, with one machine gun, one grenade left. So I asked on the radio, I said, “Since you cannot send reinforcements…” He said, “Where do you want me to get them? You know there is nothing left.” “Then give me the authorization to get out.” He answered very simply, “No way. You’re paratroopers, you’re there to die.” We built a barricade with corpses at the entrance since we had no sandbags, and we waited. And we saw the shadows coming one by one, the Vietminh. I decided to throw my grenade and we immediately got return fire. One of my last impressions was to feel the wall of corpses shivering under the burst of fire. Then a grenade must have hit my helmet because the net was burned and the helmet dented. American helmets are very solid. I lost consciousness and when I came to, there was above me, very close, a surgeon’s mask from which a voice came: “You are a prisoner of the army of the Democratic Republic of Vietnam.

NARRATOR: Though Vietminh combat cameramen were present at Dienbienphu, scenes of the 55-day battle were restaged by a Soviet director after the French defeat. Some of the film sequences are authentic, some re-enacted. Dienbienphu cost the French 1,500 dead, 4,000 wounded, 10,000 taken prisoner. Many of the prisoners died in Vietminh camps. The Vietminh victory at Dienbienphu cost them even more: 8,000 dead, 15,000 wounded.

JOHN FOSTER DULLES, June 1954:
You are all aware that the French and their Vietnam ally have suffered reverses, notably the fall of Dienbienphu after a superb defense. The present situation is grave, but by no means hopeless. In the present conference at Geneva, we and other free nations are seeking a formula by which the fighting can be ended and the people of Indochina assured true independence. So far the Communist attitude at Geneva is not encouraging.

NARRATOR: The Geneva Conference bogged down almost immediately. The United States delegation was ordered to watch and not to talk.

U. ALEXIS JOHNSON: My instructions were to go to the meetings. To not participate in them and not to agree to anything but to be there and sit at the table. And I found that a very difficult job, to sit at a table at which people were making discussions and some conclusions were being arrived at, without agreeing to them; in situations in which silence itself tends to give assent. I can tell you that I was very, very unhappy and perspired very, very freely.

NARRATOR: Emperor Bao Dai, head of the State of Vietnam, also sent a delegation to Geneva.

BAO DAI: I was told I should accept the Communists at the conference table. I said, “No, there is only one Vietnamese state. It is I. The Communists are rebels.” Given my uncompromising position they turned the political conference into a military conference.

NARRATOR: In June, the French cabinet fell, and a new prime minister took over, a critic of the war, Pierre Mendes-France. Mendes-France made a promise to the French National Assembly. If he could not resolve the Indochina question at Geneva within 30 days, he would resign. The United States feared this meant France might abandon Indochina to the Communists.

U. ALEXIS JOHNSON: Washington was not at all clear as to what kind of an agreement Mendes-France was proposing to make or what agreement he would make — and if the agreement was going to be something with which we could possibly live or acquiesce, or whether or not we were going to have to denounce it and, in effect, walk out of the conference.

NARRATOR: After much secret maneuvering, one week before his deadline, Mendes-France got all the participants in place in Geneva. On July 20, the day before the deadline, two issues were still unresolved.

PREMIER PHAM VAN DONG: At the conference there were two issues under discussion: One was the temporary demarcation line between the two regions. And the other was the date of the general elections for the reunification of Vietnam. These two issues were closely connected. That was very clear.

NARRATOR: The Vietminh, flush with their victory at Dienbienphu, took a hard line on both issues, but on the last day, the Soviets and the Chinese forced them to compromise. The Vietminh, who controlled most of the country, would get less than half. The elections to reunify Vietnam would take place; not soon, when the Vietminh would surely win, but in two years. They had been undercut by their own allies. The Soviets and Chinese had several motives, among them, fear; if Mendes-France failed, France might keep fighting and America might intervene.

PREMIER PIERRE MENDES-FRANCE, July 21, 1954:
Reason and peace have won out. After days and nights of hard negotiations, filled with anxiety and hope, the cease-fire has been signed. In my soul and my conscience, I am sure these are the best conditions we could have hoped for in the present state of things.

U. ALEXIS JOHNSON: My own feeling at the end of the conference was that we had probably obtained just about all that could be obtained in the light of the situation on the ground. I don’t, I don’t think we could have obtained much more. But I must say that very honestly I did not have much optimism that South Vietnam was going to be able to survive.

COL. BUI TIN: We thought that having signed the agreements, the French would now be forced by world opinion to carry out the Geneva accords. And we strongly believed that there would be a general election held in two years, and then the Revolution would certainly win. So we greeted each other, “In two years!” We expected to have a general election and reunification in two years.

NARRATOR: In the fall of 1954, the Vietminh marched into Hanoi, taking back from the French what they had lost eight years before. To America and the world, it looked like the Vietminh would soon be marching into Saigon, too, as the French pulled out, taking everything: houses, trucks, factories, even their dead.

Youtube Lê Thái “bem” lộn nhà báo NPH thay vì NQT về việc đã dung “tiền của địch làm tiền của ta”

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

(P1 – Khen trước)

(P2 – Bem sau)

(P3 – Tiếp tay chống goia85c HDH)

(P4 – Archimedes Patti không hề sửa hay góp y bản TNĐL như HDH nói láo)

(P5 – PBS đã viết sử Việt Nam trung thực)