Một số hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cuộc bầu cử Quốc hội

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://www.bqllang.gov.vn/tin-tuc/tin-tong-hop/10337-mot-so-hinh-anh-chu-tich-ho-chi-minh-voi-cac-cuoc-bau-cu-quoc-hoi.html

Ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới-kỷ nguyên độc lập tự do cho nước nhà.

Một chính quyền vừa thành lập, với rất nhiều khó khăn, thách thức, phải đối mặt thù trong, giặc ngoài, vì vậy, ngày 03/9/1945, Người đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bao gồm: Khắc phục nạn đói; nạn dốt; giáo dục lại nhân dân với việc thực hiện cần, kiệm, liêm, chính; bỏ ba thứ thuế: Thuế thân, thuế chợ, thuế đò; thực hiện tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết và đặc biệt là phải tổ chức càng sớm càng tốt cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu.

Để triển khai thực hiện những nhiệm vụ này, Người đã ký các sắc lệnh, cũng như chỉ đạo trực tiếp đối với từng nhiệm vụ. Riêng với nhiệm vụ thực hiện Tổng tuyển cử trong cả nước, Người đặc biệt quan tâm, chú trọng để xây dựng được một nNhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Đồng thời, Người đã viết nhiều bài báo kêu gọi những người có tài có đức ra ứng cử, đóng góp sức lực cho đất nước.

Đặc biệt, đến sát ngày Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu (đăng Báo Cứu Quốc ngày 05/01/1946). Người khẳng định: “Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn” và kêu gọi “… mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.



Bac di bau cu

Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân đi bầu cử (Ảnh tư liệu)



bac bau cu ti ng tai duc

Bài viết “Tìm người tài đức” của Bác năm 1946 đăng trên Báo Cứu quốc số 411 ngày 20/11/1946.(Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu sac lenh bau cu

Sắc lệnh số 76-SL ngày 18/12/1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc ấn định lại ngày Tổng tuyển cử và hạn nộp đơn ứng cử. (Ảnh tư liệu)

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ lâm thời cũng như cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 06/01/1946, trong cả nước, có 89% tổng số cử tri đã đi bỏ phiếu, nhiều nơi đạt 95%. Cả nước đã bầu được 333 đại biểu Quốc hội, trong đó Hồ Chí Minh là ứng cử viên trúng cử với số phiếu cao nhất (98,4%).

Trong cuộc đời mình, Bác Hồ là ứng cử viên đồng thời cũng là cử tri đi bầu cử 3 nhiệm kỳ Quốc hội, gồm: Quốc hội khóa I (1946 – 1960), Quốc hội khóa II (1960 – 1964) và Quốc hội khóa III (1964 – 1971). Ở cương vị ứng cử viên hay cử tri, Bác đều để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng dân tộc về tinh thần, trách nhiệm của một người công dân đối với đất nước.

Quốc hội khóa II là Quốc hội đầu tiên hoạt động hoàn toàn trong thời kỳ đất nước bị chia cắt, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Lao động Việt Nam (Ðảng Cộng sản Việt Nam ngày nay), nhân dân Việt Nam thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc và tiến hành sự nghiệp xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa: miền Bắc bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội và cùng miền Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Quốc hội khóa III, được tổ chức theo Hiến pháp năm 1960, là Quốc hội của thời kỳ đất nước thực hiện cả hai chiến lược cách mạng, thời kỳ chống Mỹ cứu nước “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để thắng giặc Mỹ xâm lược”. Miền Bắc tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; Miền Nam đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng. Nhiệm kỳ của Quốc hội khóa III kéo dài từ tháng 6-1964 đến tháng 6-1971 là do hoàn cảnh có chiến tranh diễn ra trên phạm vi cả nước.

Quốc hội khóa IV đã tiếp tục động viên quân và dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: ở miền Nam tăng cường đấu tranh giải phóng dân tộc, ở miền Bắc kiên trì bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đánh thắng chiến tranh phá hoại của địch, động viên sức người, sức của cho tiền tuyến lớn đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai. Quốc hội khóa IV là Quốc hội chiến thắng giặc Mỹ xâm lược, kiên trì và tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, là Quốc hội khôi phục kinh tế, hàn gắn những vết thương chiến tranh, chuẩn bị đưa đất nước tiến vào thời kỳ mới.

Quốc hội khóa V là quốc hội ngắn nhất, từ 4-1975 đến 4-1976, vì đã rút ngắn nhiệm kỳ để tiến hành cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của đất nước thống nhất. Quốc hội khóa V thể hiện đầy đủ bản chất là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của khối đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên minh công nông. Quốc hội quyết định kế hoạch Nhà nước năm 1976, năm thứ nhất của kế hoạch 5 năm lần thứ hai, mở đầu thời kỳ xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa.

Quốc hội khóa VI là Quốc hội quyết định đổi tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội khóa VI đã có những đóng góp tích cực vào việc xây dựng hệ thống chính quyền mới ở miền Nam, xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất bảo vệ chính quyền trong điều kiện hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc. Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa VI đã thông qua Hiến pháp năm 1980.

Quốc hội khóa VII, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, là Quốc hội của thời kỳ bắt đầu công cuộc đổi mới, đã đẩy mạnh công tác lập pháp, tăng cường công tác giám sát và việc quyết định các vấn đề quan trọng khác để đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước. Xác định nguyên tắc, phương hướng xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Quốc hội khóa VIII được bầu ra và hoạt động trong giai đoạn bước ngoặt của đất nước, có trách nhiệm to lớn góp phần thực hiện công cuộc đổi mới. Hoạt động lập hiến của Quốc hội khóa VIII có nhiều thành tựu với 2 lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1980. Tại kỳ họp lần thứ 11, tháng 4 năm 1992, Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1992 – Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, phù hợp với thực tế của đất nước và xu thế tiến bộ của thời đại trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh, đặc điểm của Việt Nam, đánh dấu sự trưởng thành về trình độ lập hiến của nước ta.

Quốc hội khóa IX được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp năm 1992. Quốc hội khóa IX đã tiến hành đồng bộ và có hiệu quả các hoạt động nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ về lập pháp, về giám sát và về quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, bảo đảm cho công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu to lớn, đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới.

Quốc hội khóa X là Quốc hội của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Quốc hội khóa X có trọng trách tiếp tục thể chế hóacương lĩnh và chiến lược của Ðảng; cụ thể hóa đường lối, chính sách mà Ðại hội Ðảng lần thứ VIII và lần thứ IX đề ra.

Quốc hội khóa XI là Quốc hội của thời kỳ tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Quốc hội khóa XII được cử tri cả nước bầu ra ngày 20/5/2007 và hoạt động trong bối cảnh vừa có những thuận lợi cơ bản, vừa có những khó khăn thách thức. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo sau hơn 20 năm, gần nhất là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, 1 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, cũng là 6 năm đầu tiên của thế kỷ XXI, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử cả về lý luận và thực tiễn trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại, xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước, tăng cường đoàn kết toàn dân tộc.

Kể từ Quốc hội khóa đầu tiên đến nay, Quốc hội nước ta đã không ngừng lớn mạnh, thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Các thế hệ đại biểu Quốc hội luôn thể hiện và phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, phẩm chất, trí tuệ, xứng đáng là đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

Nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 – 06/01/2021), hãy cùng nhìn lại những hình ảnh quý giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cuộc bầu cử Quốc hội.


Bac di bau cu 1

Hồ Chủ tịch bỏ phiếu bầu cử các thành viên lãnh đạo Nhà nước và Quốc hội.
(Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu 2

Hồ Chủ tịch bỏ phiếu bầu cử Ban Thường trực Quốc hội.(Ảnh tư liệu)



Bac di bau cu 2 2

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các thành viên của Chính phủ tuyên thệ nhậm chức tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I (02/3/1946).(Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu ra mat DH

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Quốc hội đầu tiên của Hà Nội ra mắt cử tri tháng 02/1946. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu 3

Hồ Chủ tịch bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II tại Tiểu khu Trúc Bạch, khu phố Ba Đình, Hà Nội. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu nhan phieu

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận lá phiếu bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân khóa II ngày 08/5/1960. (Ảnh tư liệu)

 

Bac di bau cu hoi chuyen cu tri

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi chuyện một cử tri cao tuổi sau khi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội Khóa II. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu khai mac ky hop thi I

Hồ Chủ tịch trên Đoàn Chủ tịch kỳ họp thứ I, Quốc hội khóa II khai mạc ngày 07/7/1960. (Ảnh tư liệu)

 

Bac di bau cu cam on dong bao

Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ nhất đã bầu Hồ Chủ tịch giữ chức Chủ tịch nước. Hồ Chủ tịch đã phát biểu cảm ơn Quốc hội và thông qua Quốc hội cảm ơn đồng bào đã tin tưởng giao cho người trách nhiệm nặng nề, vẻ vang là lãnh đạo đất nước. (Ảnh tư liệu)

 

Bac di bau cu truong ban sua doi HP

Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa I đã quyết định sửa đội Hiến pháp, các đại biểu Quốc hội nhiệt liệt chào mừng
Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử làm Trưởng ban sửa đổi Hiến pháp. (Ảnh tư liệu)



Bac di bau cu Hien phap

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp sửa đổi năm 1960.(Ảnh tư liệu)

 

Bac di bau cu QH khoa 2 1963

Hồ Chủ tịch trên đoàn Chủ tịch kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa II, họp tại Hà Nội từ 29/4 đến 4/5/1963. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu tham khu bau cu ba dinh

Bác thăm khu vực bầu cử A.10, Khu Ba Đình, Hà Nội tháng 4 năm 1964. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu 1965

Bác Hồ tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội và khu phố Ba Đình ngày 25/4/1965. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu 1969

Bác Hồ tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội ngày 27/4/1969. (Ảnh tư liệu)

Tâm Trang (tổng hợp)

Archimedes Patti – nhân chứng lịch sử ngày 2-9-1945

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Ho-so/911472/archimedes-patti—nhan-ch…2-9-1945

THU HẰNG

Theo “Why Viet Nam?” của Archimedes Patti (HNMO) – Archimedes L.A.Patti (1913-1998) vinh dự là người nước ngoài đầu tiên được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời đến nghe bản dự thảo Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước ngày lễ Độc lập tại Hà Nội.

Archimedes L.A.Patti (1913-1998).

Ngày 22-8-1945, Thiếu tá Archimedes L.A Patti – Trưởng ban Đông Dương của OSS (Cơ quan Phục vụ Chiến lược Mỹ, tiền thân của CIA), Trưởng phái bộ tiền trạm của quân đội Mỹ có mặt tại Hà Nội để thực hiện nhiệm vụ giải cứu tù binh và chuẩn bị cho việc giải giáp quân Nhật tại Bắc Đông Dương.

Trong thời gian ở Hà Nội, Patti đã có những hành động thiết thực để thể hiện cảm tình của mình: Nhận chuyển giúp một số thư, điện của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Mỹ, đứng ra làm trung gian cho các cuộc tiếp xúc Việt – Pháp đầu tiên vào tháng 9-1945 và viết những bản báo cáo trung thực, khách quan về tình hình Việt Nam gửi lên cấp trên của mình.

Chính vì vậy, Patti đã giành được sự thân thiện và tình cảm đặc biệt của những nhà cách mạng Việt Nam, nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mặc dù vô cùng bận rộn, nhưng Người đã dành nhiều thời gian để trao đổi, tâm sự với Patti và thực sự coi ông như một người bạn.

Ngày lễ Độc lập Việt Nam trong mắt một người Mỹ

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một sự kiện trọng đại có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Trong biển người tham dự và chứng kiến buổi lễ lịch sử này, có Archimedes L.A Patti cùng các đồng nghiệp của ông. Trong cuốn hồi ký “Why Viet Nam?” (Tại sao Việt Nam – 1980), Patti đã miêu tả tỉ mỉ, sống động về thời khắc trọng đại đó:

“Từ sớm tinh mơ, dân chúng Hà Nội như các bầy ong, từng đoàn lúc lớn lúc nhỏ, lũ lượt dần dần kéo đến cạnh Quảng trường Ba Đình.

Ở nhiều chỗ là một khối dân chúng các làng ngoại ô. Đi theo trong biển người đó, có cả những tốp người miền núi với y phục địa phương của họ và nông dân trong những bộ khăn áo cổ truyền.

Giữa các khối khác nhau, người ta dễ dàng nhận ra các tổ chức của công nhân, sơ mi trắng, quần dài hoặc quần soóc trắng hoặc xanh. Phụ nữ mặc áo dài trắng hay mầu sáng, tay khoác nón…

…Mặt trời đã lên cao. Không khí oi bức, nhưng đôi lúc cũng có cơn gió nhẹ thổi làm phấp phới cả cái biển cờ trên quảng trường. Cao trên cột trước lễ đài, lá cờ đỏ với ngôi sao vàng lớn phấp phới bay.

Bất chợt có tiếng còi và các hiệu lệnh quân sự phát ra từ các đội hình. Đội danh dự và các đơn vị bộ đội đứng thẳng và chăm chú theo dõi khi có người đã bắt đầu xuất hiện trên lễ đài. Mấy phút sau, nổi lên tiếng hô: “Bồng súng chào!”.

Quần chúng bỗng im lặng trong khi các vị chức quyền tìm chỗ đứng vào đường sau cái bao lơn được trang trí bằng mầu trắng và đỏ. Trên lễ đài, mọi người đều bận đồ trắng, thắt cavát và để đầu trần, trừ một người nhỏ nhắn mặc áo kaki mầu sẫm và có cái gì như cái khăn trùm đầu – Đó là Hồ Chí Minh.

Bìa cuốn “Why Vietnam?: Prelude to America’s Albatross” của Archimedes Patti

…Một tiếng trong loa phóng thanh nổi lên phá vỡ sự im lặng, giới thiệu ông Hồ “là người giải phóng, vị cứu tinh của dân tộc”. Quần chúng được sự hướng dẫn của các đảng viên, lên tiếng hát và trong mấy phút liền hô vang “Độc lập”. Ông Hồ đứng yên mỉm cười, nhỏ nhắn trong vóc dáng, nhưng vĩ đại trong sự hoan hô của nhân dân ông. Ông giơ tay ra hiệu im lặng và bắt đầu đọc bản Tuyên ngôn, nay trở thành nổi tiếng của ông với những lời: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho chúng ta những quyền bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Ông Hồ dừng lại đột ngột và hỏi người nghe: “Đồng bào có nghe rõ tôi nói không?”. Quần chúng hô vang đáp lại: “Rõ!”. Thực là một nghệ thuật diễn thuyết bậc thầy! Từ lúc đó, quần chúng lắng nghe lấy từng lời. Cứ nghe giọng nói của ông Hồ, bình tĩnh và rõ ràng, ấm cúng và thân mật, và nghe thấy được quần chúng trả lời thì chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa là những lời của ông đã thấu tới quần chúng.

Sau đó, quay về bản Tuyên ngôn của Cách mạng Pháp 1791, nói về quyền con người và quyền công dân, ông Hồ nói Bản Tuyên ngôn đã công bố: “Mọi người sinh ra phải được tự do và có quyền bình đẳng. Đó là những chân lý không thể chối cãi được”…

Ấn tượng tốt đẹp về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Theo A.Patti, lần đầu tiên cái tên Hồ Chí Minh được nhắc đến trong một bức điện ngày 31-12-1942 của Đại sứ Mỹ thông báo việc bắt và giam Hồ Chí Minh ở Liễu Châu, Quảng Tây. Từ công việc, giữa người cách mạng Hồ Chí Minh và viên thiếu tá người Mỹ này đã dần dần thiết lập một mối quan hệ bạn bè đặc biệt. Trong thiên hồi ký “Why Viet Nam?”, Archimedes Patti đã dành những tình cảm xúc động khi viết về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhóm Con Nai năm 1945

Ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên với Hồ Chí Minh trong một ngôi làng nhỏ ở Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc ngày 27-4-1945 để bàn về việc phối hợp hoạt động chống Nhật giữa Mặt trận Việt Minh và OSS, Patti đã có ấn tượng sâu sắc và cảm tình đặc biệt trước trí tuệ uyên bác và phong cách ngoại giao giản dị mà đầy sức thuyết phục của Hồ Chí Minh.

Ông kể lại: “Mặc dù tôi đã tỏ ra khách quan và thận trọng một cách cố ý, không để mình dính vào những khía cạnh chính trị của vấn đề Đông Dương, nhưng sự chân thành, thái độ thực dụng và sự hùng biện của ông Hồ đã gây cho tôi một ấn tượng khó phai mờ được. Ông Hồ không hiện lên đối với tôi như một nhà cách mạng không thực tế hay một người cấp tiến cuồng nhiệt, theo đuổi những lời nói rập khuôn, hét to đường lối của đảng, hay thiên về phá hoại mà không có kế hoạch xây dựng lại. Đó là một con người thông minh, thấu hiểu những vấn đề của đất nước mình, một con người biết điều và tinh tế”… Và chính ấn tượng tốt đẹp này đã dẫn đến những sự hợp tác hết sức nhiệt thành và hiệu quả trong các hoạt động phối hợp chống phát xít Nhật giữa Mặt trận Việt Minh và tổ chức OSS.

Sau khi viết xong bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Archimedes Patti vinh dự được làm người đầu tiên nghe toàn văn văn kiện đặc biệt này trước khi Người công bố với quốc dân và thế giới.

Trong cuốn “Why Viet Nam?”, A.Patti đã viết: “Hồ Chí Minh nói rằng “đã phải làm quá nhiều việc trong một thời gian rất ngắn. Đã có một ủy ban để soạn thảo lời tuyên thệ nhận chức của ông và các bộ trưởng, nhưng bản thảo bản Tuyên ngôn Độc lập còn cần phải được làm xong gấp”. Theo ông, chính đó là một trong những lý do ông muốn gặp tôi. Ông gọi một người ở buồng bên mang bản thảo tới và đưa cho tôi với một dáng thỏa mãn. Rõ ràng trong việc khởi thảo bản này đã có bàn tay già dặn của ông. Bản tài liệu đánh máy bằng tiếng Việt Nam, có nhiều chữ bị xóa và được viết đè lên bằng bút mực, với nhiều ghi chú bên lề. Tôi ngây ra và ông Hồ thấy ngay là tôi không thể đọc được. Ông Hồ cho gọi một người trẻ tuổi vào để dịch và tôi chăm chú nghe. Trong mấy câu đầu, người phiên dịch đã nói lên một số danh từ rất đỗi quen thuộc và giống lạ lùng như bản Tuyên ngôn của chúng ta. Câu tiếp sau là “Lời tuyên bố bất hủ này đã được nêu lên trong Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776”. Tôi chặn người phiên dịch lại và kinh ngạc quay sang hỏi ông Hồ có thực ông có ý định sử dụng câu đó trong bản tuyên ngôn của ông không… Ông Hồ dựa vào ghế, hai tay úp vào nhau, ngón tay sát vào môi một cách nhẹ nhàng và đang như suy tưởng. Với một nụ cười nhã nhặn, ông hỏi lại tôi một cách dịu dàng: “Tôi không thể dùng câu ấy được à?”. Tôi cảm thấy ngượng ngập và lúng túng. “Tất nhiên”, tôi trả lời, “tại sao lại không?”. Bình tĩnh lại, tôi nói người phiên dịch đọc lại đoạn đó từ đầu một lần nữa. Anh ta đọc: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng…, họ đã được tạo hóa trao cho những quyền không thể nhượng lại được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Cố sức nhớ lại, tôi mới thấy các danh từ đã được chuyển vị và nhận xét là trật tự các chữ “tự do” và “quyền sống” đã bị thay đổi. Ông Hồ nắm ngay lấy và nói “đúng”, không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do”…

Đầu tháng 10-1945, OSS giải thể, Archimedes Patti bị triệu hồi về Mỹ. Trước khi Patti lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả một buổi tối để trò chuyện và tâm sự với ông. Buổi chia tay đã để lại trong hồi ức của Patti những ấn tượng không thể phai mờ. Tình cảm tốt đẹp và lòng khâm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người mà hình ảnh từ buổi đầu gặp mặt tới lúc chia tay lần cuối vẫn là “một dáng người mảnh mai nhưng bất khuất”, đã đi suốt cuộc đời Patti và được ông thể hiện trong những trang viết của cuốn hồi ký, trong tham luận tại Hội thảo Quốc tế về “Hồ Chí Minh – Anh hùng Giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới” do UNESCO tổ chức tại Hà Nội năm 1990 và trong những lần đến Việt Nam để gặp lại một ngưòi bạn mà ông rất kính trọng là Đại tướng Võ Nguyên Giáp…

Archimedes Patti sinh tại New York. Ông gia nhập quân đội Hoa Kỳ năm 1941 và trở thành một sĩ quan bộ binh trên chiến trường châu Âu trong Thế chiến II. Cuối năm 1944, ông chuyển sang công tác tại OSS. Sau khi Thế chiến II kết thúc, ông được thăng hàm thiếu tá và được cử làm Trưởng phái bộ tiền trạm của quân đội Hoa Kỳ, thực hiện nhiệm vụ giải cứu tù binh và chuẩn bị cho việc giải giáp quân Nhật tại Bắc Đông Dương.

Về Mỹ cuối năm 1945, ông được thăng hàm trung tá và tiếp tục công tác trong quân đội cho đến khi giải ngũ vào năm 1957. Ông làm việc ở Văn phòng tư pháp của Tổng thống Mỹ đến 1971 thì nghỉ hưu, sống tại Florida.

Do những cống hiến xuất sắc, ông được chính phủ Hoa Kỳ trao tặng huân chương Ngôi sao Đồng với Nhành sồi và khi qua đời ông được an táng tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington.

Sự thật về những lời xuyên tạc tình báo Archimedes Patti sửa bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

http://www.shoppbs.pbs.org/wgbh/amex/vietnam/series/pt_01.html

Trong số đó có Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh những năm đầu rất khó để theo dõi. Ông luôn tỏ ra bí ẩn về bản thân, ít trả lời phỏng vấn và sau này thích thể hiện mình là “Bác Hồ” nhân từ. Hồ sinh khoảng năm 1890 với tên gọi là Nguyễn Tất Thành, con trai của một quan chức đã từ chức thay vì phục vụ dưới thời Pháp. Khi còn trẻ, Hồ rời đất nước, làm thợ đóng tàu và nấu ăn ở Mỹ, Anh và Pháp.

Năm 1917, Hồ chuyển đến Paris. Ông lấy bút danh là Nguyễn Ái Quốc, “Nguyễn ái quốc,” và bắt đầu vận động đòi độc lập cho Việt Nam. Ông đã cố gắng bào chữa cho lý do của mình tại Hội nghị Versailles sau Thế chiến thứ nhất, nhưng không được chấp nhận. Nỗ lực của ông đã khiến ông trở nên nổi tiếng trong giới người Việt tại Pháp.

Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc trở thành Đảng viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, người Cộng sản Việt Nam đầu tiên. Ông vẫn ở Pháp để biên tập một tờ báo chống thực dân có tên là Le Paria (The Outcast), và hỗ trợ mình với tư cách là trợ lý nhiếp ảnh gia. Các bức vẽ của ông, được đăng trên báo, cho thấy ông vẫn quan tâm đến Việt Nam, điều mà ông đã không gặp trong mười năm.

Những người Cộng sản đã gửi ông đến Moscow để đào tạo vào năm 1923.

Ông đi khắp nơi, tổ chức những người Việt Nam xa xứ thành một đảng cách mạng. Các báo cáo trong 17 năm tiếp theo đã theo dõi ông ở Đức, Trung Quốc, Thái Lan, Pháp, Nga.

FRENCH NEWSREEL:

Tạp chí Pathe trình bày đánh giá về những thành tích đã đạt được đấu tranh sự bảo vệ của lá cờ của chúng tôi.

Ở những vùng thù địch và khốn khó, các nhà văn minh Pháp đã mang lại hòa bình, công việc, thịnh vượng và niềm vui.

Khu vực hải ngoại của Pháp là một phần thiết yếu của nền kinh tế thế giới, một động lực tích cực của nền văn minh và là minh chứng vẻ vang cho sự hùng vĩ của nước Pháp.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Chiến tranh thế giới thứ hai đã kết thúc “sự hùng vĩ của nước Pháp.” Nhật Bản, theo đuổi cuộc chinh phục Trung Quốc, muốn chặn đường vận chuyển vật liệu chiến tranh qua Việt Nam. Tháng 6 năm 1940, ba ngày sau khi Pháp rơi vào tay Đức Quốc xã, Nhật Bản đòi quyền đổ bộ lực lượng vào Đông Dương.

Sự xuất hiện của Nhật Bản đã gây ấn tượng sâu sắc đối với người Việt Nam. Những người châu Á giống như họ đã lật đổ các thực dân châu Âu – vì rõ ràng ai là người nắm quyền.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Người Nhật ủng hộ một số nhóm dân tộc chủ nghĩa Việt Nam. Nhưng các nhóm khác đều chống Pháp và chống Nhật. Quan trọng nhất là tổ chức Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc thành lập năm 1941. Ông đã trở lại Việt Nam sau 30 năm, với một cái tên mới: Hồ Chí Minh, có nghĩa là “Người khai sáng”.

HOÀNG QUỐC VIỆT: Sau hội nghị thành lập Việt Nam, Bác Hồ đã gửi thư kêu gọi toàn dân ủng hộ. Và chính điều này đã làm dậy sóng cả nước xung quanh phong trào này. Và khi mọi người nhận ra Hồ Chí Minh đích thực là Nguyễn Ái Quốc, thì lòng tin của họ đối với phong trào càng được củng cố. Đó là vì cái tên Nguyễn Ái Quốc đã được cả nước biết đến rộng rãi. Mọi người biết rằng ông là một người yêu nước vĩ đại.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việt Nam đã tổ chức các căn cứ du kích, huấn luyện cán bộ, quấy rối Pháp, Nhật và tuyên truyền cổ động, kêu gọi nông dân kháng chiến.

PHỎNG VẤN: Tại sao Việt Nam lại chiến đấu với quân Nhật trong khi những người theo chủ nghĩa dân tộc châu Á khác hợp tác?

THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG: (Cười) Tôi xin lỗi, nhưng đây là một câu hỏi rất buồn cười. Lúc đó, quân Nhật đã lật đổ Pháp và bắt đầu thống trị đất nước chúng tôi, nên tất nhiên chúng tôi phải đánh quân Nhật.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Đầu năm 1945, Việt Nam đang trải qua một nạn đói khủng khiếp. Người ta đổ lỗi cho người Pháp và người Nhật, những người đang tích trữ gạo, cung cấp cho quân đội Nhật Bản, và thậm chí xuất khẩu sang Nhật Bản – trong khi ước tính khoảng hai triệu người Việt Nam trong số tám triệu người ở các khu vực phía bắc đã chết.

DR. TRẦN DUY HƯNG: Vào thời điểm đó, theo ước tính của chúng tôi, có ít nhất 40.000 nông dân nghèo đói đến Hà Nội xin ăn và chờ cấp phát, bố thí. Người Pháp không tổ chức cứu đói. Và người Nhật đặc biệt cấm chúng tôi thực hiện bất kỳ nỗ lực cứu đói nào của riêng mình. Mọi người đào bới các bãi rác để tìm bất kỳ thứ gì có thể ăn được. Họ cũng ăn thịt chuột. Nhưng điều này không đủ để giữ cho họ sống sót.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việtminh đã tổ chức cho nông dân cướp kho thóc, gây được uy tín to lớn. Sự ủng hộ của nông dân này đã mang lại cho họ một lợi thế chính trị mà họ không bao giờ đánh mất.

TỔNG THỐNG FRANKLIN D. ROOSEVELT, ngày 1 tháng 3 năm 1945:

Đó là một con đường dài khó khăn để đến Tokyo. Đến Tokyo thì lâu hơn là đến Berlin, theo mọi nghĩa của từ này. Thất bại của Đức sẽ không có nghĩa là kết thúc cuộc chiến chống Nhật Bản …

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Khi chiến tranh ở châu Âu kết thúc, sự chú ý của Đồng minh chuyển sang châu Á và cuộc chiến chống Nhật Bản. Một trong những nhu cầu cấp thiết là trí thông minh. Việt Nam tin rằng các tuyên bố của Đồng minh ủng hộ quyền của các dân tộc bị áp bức. Họ đã cung cấp cho Đồng minh thông tin về chuyển quân của Nhật Bản, vì vậy người Mỹ đã chuyển sang Việt Nam và lãnh tụ của nó, Hồ Chí Minh.

ARCHIMEDES PATTI (Sĩ quan O.S.S.): Tôi gặp Hồ lần đầu tiên ở biên giới Trung Quốc giữa Trung Quốc và Đông Dương vào những ngày cuối tháng 4 năm 1945

ABBOT LOW MOFFAT: Chúng tôi biết ông ấy là một người Cộng sản, nhưng chúng tôi cũng cảm thấy, như họ đã làm, và theo cách mà bất kỳ ai từng biết, gặp Hồ Chí Minh, người mà tôi đã từng nói chuyện, đều có chung cảm giác: ông ấy lần đầu tiên là một theo chủ nghĩa dân tộc, và thứ hai là một người Cộng sản. Đó là, ông quan tâm đến việc giành độc lập cho người dân của mình và khi đó ông nghĩ điều tốt nhất cho họ là kiểu chính phủ Cộng sản. Nhưng trước hết ông là một người theo chủ nghĩa dân tộc.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Viet Minh đã đồng ý giúp Đồng minh. Thiếu tá Patti đã cử một nhóm huấn luyện, Deer Mission (Chiến dịch Nai Vàng), vào vùng núi phía bắc.

ARCHIMEDES PATTI: Chiến dịch Deer đã tham gia và họ tổ chức. Với sự giúp đỡ của Tướng Giáp, trong số khoảng 500 người Việt Nam, chúng tôi đã chọn ra 200 người. Chúng tôi đã dành bốn tuần tiếp theo để huấn luyện những thanh niên này về kỹ thuật sử dụng vũ khí tự động, thiết bị phá hủy, xâm nhập và đột nhập vào các khu vực nguy hiểm khác nhau. Ở đó, lần đầu tiên chúng tôi được thấy Việt Minh là loại quân đội gì. Họ là một thanh niên theo chủ nghĩa dân tộc rất sẵn sàng, tốt đẹp, thực sự là những gì chúng ta thường nói kiểu “gung ho” (Nhiệt huyết). Họ sẵn sàng liều mình vì chính nghĩa, sự nghiệp giành độc lập chống Pháp.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Trước khi người của Hồ có thể chứng tỏ sự sẵn sàng của họ, Thế chiến II đã kết thúc.

Sự sụp đổ bất ngờ của Nhật Bản đã khiến nhiều người ở Đông Dương thuộc Pháp bất ngờ, nhưng Việt Nam đã sẵn sàng cho cái mà họ gọi là “Cách mạng Tháng Tám”. Tuyên bố Việt Nam độc lập, họ tiến quân để chiếm Hà Nội một cách hòa bình. Hồ Chí Minh thành lập chính phủ ở Hà Nội, cẩn thận trà trộn thành viên của các nhóm dân tộc chủ nghĩa khác. Nhưng ở miền Nam, tránh xa ảnh hưởng vừa phải của Hồ, những người theo ông bắt đầu thanh trừng những người theo chủ nghĩa dân tộc đối thủ. Vẫn với Việt Nam, và có lẽ củng cố thêm ý tưởng về sự hỗ trợ của Mỹ, là OSS.

ARCHIMEDES PATTI: Hai hoặc ba ngày sau khi tôi gặp Hồ, ông ấy yêu cầu tôi vào nhà và dừng lại gặp ông ấy lúc đó ông ấy muốn cho tôi xem một thứ gì đó, và thứ ông ấy muốn cho tôi xem là bản thảo Tuyên ngôn Độc lập mà ông ấy sẽ tuyên bố vài ngày sau đó. Tất nhiên, nó là tiếng Việt và tôi không thể đọc được và khi nó được thông dịch viên giải thích cho tôi, tôi đã khá sửng sốt khi nghe những từ của Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ. Những từ về tự do, cuộc sống và theo đuổi hạnh phúc, vân vân. Tôi không thể tin vào tai mình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên tàu U.S.S. Missouri ở Vịnh Tokyo, Nhật Bản chính thức đầu hàng. Cùng ngày trên khắp đất nước Việt Nam, người Việt Nam kỷ niệm Ngày Độc lập tự xưng và sự hình thành một quốc gia mới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tại Hà Nội, Hồ Chí Minh đã đọc một bài diễn văn mở đầu, “Tất cả mọi người đều bình đẳng với nhau. Họ được tạo hóa ban tặng cho một số quyền bất khả xâm phạm …”

DR. TRẦN DUY HƯNG: Có thể nói, khoảnh khắc xúc động nhất là khi Chủ tịch Hồ Chí Minh leo lên bậc thềm và hát Quốc ca. Đây là lần đầu tiên Quốc ca Việt Nam được hát trong một buổi lễ chính thức. Sau đó, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập, đó là một văn kiện ngắn. Khi đang đọc, Bác dừng lại và hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” Câu hỏi đơn giản này đã đi vào trái tim của tất cả mọi người ở đó. Sau một giây phút im lặng, tất cả đều hô to: “Vâng, chúng tôi nghe!” Và tôi có thể nói rằng chúng tôi không chỉ hét bằng miệng mà bằng cả trái tim, trái tim của hơn 400.000 người đứng ở quảng trường khi đó. Sau khi Bác Hồ đọc xong Tuyên ngôn Độc lập, một chiếc máy bay, một chiếc máy bay nhỏ bay vòng qua chúng tôi. Chúng tôi không biết đó là máy bay của ai. Chúng tôi nghĩ rằng đó là một chiếc máy bay của Việt Nam. Nhưng khi nó sà xuống chúng tôi, chúng tôi đã nhận ra lá cờ Mỹ. Đám đông cổ vũ nhiệt tình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Hồ đã kêu gọi Tổng thống Harry Truman nhưng có lẽ ông ấy sẽ chấp nhận sự ủng hộ của bất kỳ ai. Truman không trả lời thư của Hồ. Ông chỉ mới nhậm chức được 4 tháng vào tháng 8 năm 1945 và chưa kịp hoạch định chính sách về Đông Dương.

ABBOT LOW MOFFAT: Có sự chia rẽ khá lớn trong Bộ Ngoại giao đối với Đông Dương. Cả văn phòng Viễn Đông và văn phòng châu Âu đều hoàn toàn đồng ý rằng chúng tôi muốn một nước Pháp mạnh mẽ phục hồi ở châu Âu sau chấn thương của Vichy và thất bại trong chiến tranh, nhưng bộ phận châu Âu cảm thấy rằng để giúp người Pháp đứng vững trở lại, chúng tôi thực tế nên đi cùng với bất cứ điều gì mà người Pháp muốn.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Đồng minh đã vạch ra một kế hoạch thỏa hiệp để giải giáp quân Nhật. Trên vĩ tuyến 16, quân Trung Quốc sẽ đầu hàng quân Nhật. Người Anh cũng sẽ làm như vậy ở miền Nam. Họ đến Sài Gòn vào đầu tháng Chín.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Chỉ huy người Anh, Tướng Douglas Gracey, là một sĩ quan thuộc địa dày dạn kinh nghiệm chính trị hạn chế. Lệnh của ông là giải giới quân Nhật, duy trì luật pháp và trật tự.

Thiếu Tá PHILIP MALINS: Ông ấy hoàn toàn không có quyền bắt đầu nói về việc bàn giao Đông Dương thuộc Pháp cho bất kỳ ai khác ngoài người Pháp. Ông ấy có những chỉ dẫn thẳng thắn, nghiêm khắc của mình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việt Nam đã chiến đấu trở lại, nhưng họ có ít vũ khí để sử dụng chống lại quân Pháp, và các chiến thuật tàn bạo của Việt Nam đã làm cho những người dân tộc miền Nam khác xa lánh.

Người Pháp giành lại quyền kiểm soát. Ở phía Bắc, Việt Minh của Hồ được sự ủng hộ rộng rãi, nhưng họ cũng phải đối mặt với một vấn đề: 150.000 quân Trung Hoa Quốc dân Đảng. Người Trung Quốc đến tước vũ khí của người Nhật. Họ ở lại để cướp phá và phá rối và họ đe dọa sẽ ở lại vô thời hạn.

Với mong muốn trục xuất quân đội Trung Hoa, Hồ Chí Minh đã thương lượng với người Pháp. Vào tháng 3 năm 1946, họ đã đạt được một thỏa thuận. Chính quyền thực dân Pháp phô trương quyền lực của mình khi Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến xác nhận thỏa thuận cho phép quân đội Pháp quay trở lại trong một thời hạn. Đổi lại, Pháp công nhận nhà nước Việt Nam mới, và quân đội Trung Quốc ra đi. Hồ Chí Minh đã đánh cược rằng người Pháp sẽ không cố gắng nắm chính quyền, và rằng một thỏa thuận tầm xa cuối cùng có thể được đàm phán.

Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP: Một hiệp định đình chiến đã được ký kết. Đã có những cuộc đàm phán trong tương lai để giải quyết các vấn đề giữa chúng tôi và Pháp. Trong điều kiện đó, ta cho phép một số lượng quân Pháp thế chỗ cho gần 200.000 quân của Tưởng Giới Thạch phải di tản ra khỏi nước ta càng sớm càng tốt. Vì vậy, chúng tôi đã có một thời gian thở để củng cố lực lượng của mình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Người Pháp ở Hà Nội chào đón những đoàn quân đến như những anh hùng chinh phạt. Người Việt Nam ở lại Việt Nam. Hồ Chí Minh sang Pháp để tiếp tục đàm phán. Nhưng nội các Pháp đã sụp đổ. Không có ai để thương lượng. Ông ấy phải đóng vai khách du lịch cho đến khi một liên minh mới được thành lập. Trong khi ông chờ đợi, chính quyền Pháp ở Sài Gòn, tự mình hành động, tuyên bố miền Nam Việt Nam tách khỏi miền Bắc. Đó là một sự vi phạm thỏa thuận tháng Ba và Hồ tự hỏi liệu có điểm nào để đàm phán thêm hay không. “Tôi có nên trở về nhà không?” ông ấy tự hỏi. Ông được cho biết chính phủ mới sẽ thẳng tay giải quyết vấn đề này ở Paris. Năm 1946, Hồ đã nổi tiếng là một người yêu nước trong một phần tư thế kỷ, và những người Việt Nam ở Paris đã quay ra chào đón vị chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Người Pháp chào hỏi một cách chính thức những người cộng sản kỳ cựu, với tư cách là một quốc trưởng. Vào thời điểm này ở Pháp, những người Cộng sản là một phần của chính phủ. Về mặt công khai, quan hệ thân mật, nhưng trên thực tế, các nhà đàm phán Pháp và Việt Nam rất xa nhau.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Các cuộc đàm phán, được tổ chức tại lâu đài lịch sử Fontainebleau, đã diễn ra tồi tệ. Người Việt khẳng định rằng miền nam Việt Nam là một phần của đất nước họ. Người Pháp bảo là không .

Thủ Tướng PHẠM VĂN ĐỒNG: Khi cuộc họp bắt đầu, trưởng phái đoàn Pháp, Max Andre, nói với tôi: “Chúng tôi chỉ cần một cuộc hành quân bình thường của cảnh sát trong tám ngày để quét sạch tất cả các người.” Không cần phải thương lượng.

Tướng JEAN-JULIEN FONDE: Giải pháp phải đến từ Fontainebleau. Sau đó các cuộc đàm phán tại Fontainebleau thất bại. Từ đó, các mối quan hệ xấu dần đi. Không khí đầy ảm đạm.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Thỏa thuận tháng Ba coi như đã chết. Với lực lượng của Pháp và Việt Minh ở cự ly gần, cuộc giao tranh ngày càng leo thang. Cả hai bên đều có những hành động khiêu khích. Tháng 11 năm 1946, Pháp pháo kích vào Hải Phòng. Nhiều sĩ quan Pháp tin rằng chỉ có vũ lực mới có thể ngăn chặn được Việt Minh.

HENRI MARTIN: Khi chúng tôi đến thăm Hải Phòng sau đó, tất cả các khu dân cư Việt Nam đã bị xóa sổ hoàn toàn. Có người chết bị chôn vùi dưới đống đổ nát … rất khó để biết con số chính xác. Nhưng phần lớn hơn của thành phố, đối với chúng tôi từ những gì chúng tôi nhìn thấy, gần như toàn bộ phần Việt Nam của thành phố đã bị phá hủy.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Tướng Fonde đã cố gắng tranh luận phản bác với Tướng Giáp.

Tướng JEAN-JULIEN FONDE: “Nghe này,” tôi nói, “Tôi biết chiến tranh: giết người, chết chóc, tàn phá, cầu bị nổ tung, nhà cháy. Đây là điều không thể tưởng tượng được. Chúng ta phải ngăn chặn điều này.” Anh ta nói với tôi, “Bạn nghe này. Chính trị đi trước kinh tế. Sự tàn phá không quan trọng. Cái chết – một triệu người Việt Nam chết – không quan trọng. Người Pháp cũng sẽ chết. Chúng tôi sẵn sàng. Nó sẽ kéo dài hai năm, năm năm nếu cần thiết. Chúng tôi sẽ không nhượng bộ nữa. “

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Cuối năm 1946, chính phủ của Hồ Chí Minh buộc phải rời khỏi Hà Nội, ra khỏi các thành phố. Cuộc chiến tranh Việt Nam đầu tiên đã bắt đầu. Người Pháp tự tin rằng họ có thể nhanh chóng quét sạch đội quân rởm của tướng Giáp. Họ là một đội quân hiện đại với vũ khí hiện đại, một số được mua bằng viện trợ của Hoa Kỳ. Việt Minh được sự ủng hộ rộng rãi của nông dân.

DƯƠNG VĂN KHÁNH: Tôi được nghe kể về Bác Hồ, người đã đấu tranh cho quyền lợi của nông dân và công nhân. Vì vậy, là một nông dân đã phải chịu đựng rất nhiều, tôi nhận ra rằng điều đúng đắn duy nhất đối với tôi là đi theo con đường tương tự.

NGUYỄN THỊ ĐỊNH: Lúc đầu chúng tôi không có vũ khí gì ngoài giáo tre. Nhưng ở miền Bắc nước ta, họ đang sản xuất vũ khí. Tôi được chỉ định vào đó để báo cáo tình hình miền Nam. Bác Hồ nói với tôi rằng Bác đã cưu mang miền Nam trong sâu thẳm trái tim, và tôi nên nói với Bác những gì chúng tôi cần để trung ương cung cấp cho chúng tôi để đánh Pháp và đuổi chúng ra khỏi đất nước. Tôi trả lời rằng chúng tôi cần súng. Bác Hồ nói rằng Trung ương chỉ có thể cấp cho chúng ta bao nhiêu khẩu súng vì họ không có nhiều. Điều chính, ông nói, là để bắt các khẩu súng của kẻ thù và sử dụng những khẩu súng này để chống lại chúng.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Người Pháp sa lầy trong một cuộc chiến cát lún. Họ tuyên bố một lần nữa rằng một khu vực “đã được bình định,” chỉ để thấy nó bị trượt trở lại quyền kiểm soát của Việt Nam. Du kích dường như có mặt ở khắp mọi nơi và không ở đâu cả. Trong một nỗ lực nhằm lấy sự ủng hộ của dân chúng khỏi Việt Nam, người Pháp đã tạo ra một chính phủ đối thủ của Việt Nam, Nhà nước Việt Nam. Với tư cách là người cai trị, người Pháp đã chọn cựu hoàng của Việt Nam, Bảo Đại. Nhưng họ đã đặt ra quá nhiều giới hạn đối với chế độ của ông ta đến nỗi đối với nhiều người Việt Nam, chế độ này dường như không hề độc lập.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: 1950 đã mang lại một nguồn trợ giúp mới cho Việt Nam. Lực lượng của Mao Trạch Đông đã đến biên giới Việt Nam, chiếm toàn bộ Trung Quốc. Họ mở rộng sự công nhận về mặt ngoại giao cho chính phủ của ông Hồ, quốc gia đầu tiên làm như vậy. Liên Xô nhanh chóng theo sau. Và một tuần sau, Hoa Kỳ công nhận quốc gia đối địch của Bảo Đại. Các đường dây đã được vẽ trong một cuộc Chiến tranh Lạnh tiếp tục.

DOUGLAS MACARTHUR II (cố vấn Bộ Ngoại giao): Vào đầu những năm 1950, Hoa Kỳ có khái niệm về chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa cộng sản quốc tế như một khối nguyên khối cứng của Trung Quốc và Nga, không có kẽ hở nào trong đó đang tìm cách mở rộng và giành vị trí thống trị trong thế giới. Ở châu Âu, họ đã đánh chiếm Đông Âu, đẩy sang Tiệp Khắc; và ở Đông Nam Á, một khu vực mà chúng tôi có mối quan tâm, họ dường như đang cố gắng làm điều tương tự.

Tổng thống HARRY TRUMAN, 1950: Chính nghĩa tự do đang bị thách thức trên khắp thế giới ngày nay bởi các lực lượng của chủ nghĩa cộng sản đế quốc …

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào tháng 5 năm 1950, lần đầu tiên Tổng thống Truman cho phép Hoa Kỳ viện trợ trực tiếp cho cuộc chiến của Pháp ở Đông Dương – 10 triệu đô la – khởi đầu cho cam kết của Hoa Kỳ.

Tổng Thống HARRY TRUMAN: … Họ đã chứng minh hết lần này đến lần khác rằng cuộc nói chuyện về hòa bình của họ chỉ là tấm áo choàng cho chủ nghĩa đế quốc.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Cam kết của Hoa Kỳ sâu sắc hơn sau khi quân đội Bắc Triều Tiên xâm lược Hàn Quốc vào cuối tháng 6 năm 1950.

DEAN RUSK: Vào cuối tuần xảy ra cuộc tấn công của Triều Tiên, chúng tôi đã quyết định tăng cường viện trợ rất đáng kể cho Pháp và Đông Nam Á. Bởi vì vào thời điểm đó, chúng tôi không biết liệu người Trung Quốc có thể cố gắng tiến vào khu vực đó như một phần của cuộc tổng tấn công ở châu Á hay không.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào cuối năm 1950, Hoa Kỳ đã viện trợ 150 triệu đô la cho lực lượng Pháp, bao gồm máy bay, xe tăng, nhiên liệu, đạn dược và bom napalm. Khi các chiến lược gia Hoa Kỳ nhìn vào châu Á, họ thấy một mối đe dọa từ Cộng sản đang lan rộng. Cuộc chiến ở Triều Tiên đã trở thành một cuộc chiến tranh quốc tế. Và tại Việt Nam, Việt Cộng đã liên kết với Trung Quốc Cộng sản. Năng lực chiến tranh của Việt Nam được cải thiện đáng kể.

Đại tá BÙI TÍN: Chúng tôi đã sử dụng vũ khí mới để tấn công quân Pháp. Chúng tôi đã có thể quét sạch hai đơn vị lớn của Pháp và thu giữ tất cả vũ khí của họ. Đã dọn đường cho liên lạc giữa Việt Nam và thế giới bên ngoài. Sau đó chúng tôi nhận được viện trợ quân sự từ Trung Quốc, đặc biệt là trang thiết bị.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Thất bại ở biên giới phía Bắc là một thảm họa đối với người Pháp. Chiến tranh Đông Dương không còn chỉ là một cuộc xung đột thuộc địa. Nó vẫn còn nhỏ, nhưng nó đã trở nên quốc tế, được các cường quốc lớn ủng hộ cả hai bên. Vào cuối năm 1953, Mỹ đã chi trả 80% chiến tranh, hơn một tỷ đô la mỗi năm. “Le jaunissement” – Việt Nam hóa chiến tranh của Pháp – và các chiến lược khác để giành được sự ủng hộ của Việt Nam đã thất bại. Người Pháp kiểm soát các thành phố, nhưng Việt Nam kiểm soát các vùng nông thôn. Người Pháp kiểm soát ban ngày; the Việt Minh, the night. Tướng Henri de Navarre trở thành chỉ huy thứ năm của Pháp trong vòng 5 năm.

Đại Úy JEAN POUGET: Khi Tướng Navarre đến, ông ấy đã mở ngay một tệp và trên tệp đó tôi viết “Mục tiêu Chiến tranh”. Chúng tôi tìm kiếm những gì để nói với quân đội. Chà, cho đến cuối tập tin này thực tế vẫn trống. Chúng tôi không bao giờ có thể thể hiện một cách cụ thể mục tiêu chiến tranh của mình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Tướng Navarre đã thử một chiến lược mới khác. Các đơn vị của Pháp được thiết lập ở những vùng xa xôi, được cung cấp bằng đường hàng không. Nhiệm vụ của họ là truy lùng và tiêu diệt Việt gian.

Người Pháp đã lên kế hoạch thí nghiệm chiến lược mới trong một vùng thung lũng ở đối núi miền Tây để dụ Việt Minh vào bẫy, cách xa Hà Nội 170 dặm (272 cây số): Điện Biên Phủ  

Việt Nam đã đi qua thung lũng trong một cuộc tấn công lớn vào Lào. Người Pháp mong đợi một cuộc tấn công khác và cho rằng Điện Biên Phủ   sẽ là nơi giao tranh với họ. Vào tháng 11 năm 1953, 12.000 quân Pháp bắt đầu thả xuống thung lũng, dưới sự chỉ huy của Đại tá Christian de Castries. Bộ chỉ huy cao nhất của Pháp ở Sài Gòn chắc chắn rằng Tướng Giáp sẽ không bao giờ có thể tập trung đủ số lượng quân xung quanh Điện Biên Phủ , không bao giờ cho pháo hạng nặng lên đồi, không bao giờ mở các đường tiếp tế. Ban chỉ huy tại Điện Biên Phủ cũng tự tin không kém. Sĩ quan pháo binh khẳng định rằng không một khẩu súng Việt Nam nào bắn được quá ba viên đạn.

CAPTAIN JEAN POUGET: Tôi đã thấy tất cả các loại chính quyền dân sự và quân sự đi qua Dienbienphu. Trừ khi trí nhớ của tôi hoàn toàn bị bóp méo, tôi không nhớ một ai, tuyệt đối không một ai trong số những nhà chức trách này không phát hiện ra rằng Dienbienphu là một căn cứ đáng gờm. Đó là vùng đất và căn cứ không quân tuyệt vời, nó “không thể nhầm lẫn.”

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việt Minh coi Điện Biên Phủ là một cơ hội lớn, nhưng cũng là một canh bạc lớn. Lực lượng của Hồ Chí Minh đã thất bại nặng nề trong các cuộc tấn công vào các cứ điểm khác của quân Pháp. Nhưng họ quyết định mạo hiểm.

Đại Úy CAO XUÂN NGHĨA: Từ Thái Nguyên, chúng tôi mất khoảng 45 ngày. Chúng tôi hành quân vào ban đêm và nghỉ ngơi vào ban ngày. Đôi khi chúng tôi chỉ ngủ ở ven đường nếu không có nơi trú ẩn xung quanh.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Bộ chỉ huy Pháp đã mời một trận chiến vì họ nghĩ rằng Việt Nam sẽ không bao giờ có đủ quân và súng đến Điện Biên Phủ. Nhưng họ đã làm. Năm mươi mốt ngàn lính Việt Nam – quân số gấp bốn lần quân Pháp – vượt núi, vác đồ tiếp tế trên lưng, xe đạp thồ, vác súng.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Cả hai bên đều có lý do đặc biệt khi muốn giành chiến thắng tại Đện Biên Phủ. Cùng lúc này, tháng Giêng năm 1954, các cường quốc đang họp tại Berlin. Họ ấn định ngày và địa điểm – ngày 26 tháng 4 tại Geneva – để gặp gỡ và thảo luận về các vấn đề châu Á, trong đó có cuộc khủng hoảng Đông Dương. Ngày 13 tháng 3, Giáp mở cuộc tấn công vào Điện Biên Phủ. Trận chiến bắt đầu với các cuộc tấn công “biển người” lớn. Các khẩu pháo của Việt Minh đã che chắn pháo binh Pháp từ các vị trí được đào và ngụy trang rất kỹ nên máy bay Pháp không thể bắn trúng được. Bài học đầu tiên đã bị rớt trong vòng tám giờ. Đến ngày hôm sau, ngày 14 tháng 3, trận pháo kích của Việt Minh đã phá hủy phi đạo chính. Bộ tham mưu Pháp bị sốc. Đại tá de Castries trở nên thu mình, thiếu thông thạo. Vào đêm thứ hai, người chỉ huy pháo binh Trung tá Charles Piroth đã tự sát nói rằng, “Tôi hoàn toàn bị ô nhục.” Bốn ngày sau trận chiến, Việt Minh đã kiểm soát toàn bộ chu vi. Cái giá phải trả là rất cao: hàng ngàn người chết và bị thương trong số những người Việt Nam. Giáp quyết định thay đổi chiến lược.

Tướng GIÁP: Quyết định ở mặt trận Dienbienphu đối với tôi là một trong những quyết định lớn nhất và khó khăn nhất trong cuộc đời chiến đấu của tôi.

Đại tá BÙI TÍN: Với tư cách chỉ huy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định chấm dứt cuộc tấn công này theo chiến thuật sóng người. Toàn bộ kế hoạch đã được thay đổi. Cuộc tấn công bị dừng lại và toàn bộ số pháo hạng nặng được kéo lùi về một phía xa. Sau đó, các chiến hào, địa đạo được đào và xây dựng lại tinh thần của bộ đội dựa trên khẩu hiệu: “Tiến công kiên cố, chiến đấu kiên cố.” Xẻng trở thành vũ khí vô cùng quan trọng. Tất cả các cán bộ, chiến sĩ đều dồn hết thời gian, sức lực vào việc đào hào, hầm. Chúng tôi từ từ bao vây Dienbienphu bằng các chiến hào, khoét vào phi đạo để nó không thể sử dụng được nữa, từ từ thắt thòng lọng quanh cổ quân Pháp.

LƯU Ý: Khi phi đạo ra ngoài, quân Pháp đồn trú phụ thuộc vào việc thả dù, nhưng hỏa lực phòng không Việt Nam buộc các phi công phải bay quá cao. Vật tư bắt đầu rơi vào tay kẻ thù. Sự thay đổi chiến lược của Tướng Giáp đã phát huy tác dụng, và ông đã giải quyết được một cuộc vây hãm lâu dài. Đối với người Pháp, Dienbienphu trở thành cơn ác mộng. Mùa mưa bắt đầu sớm với những cơn mưa như trút nước. Các hầm trú ẩn và hầm trú ẩn của quân Pháp bị sụp đổ. Nước sạch trở nên không thể tìm thấy. Vật tư y tế đã hết. Không máy bay nào có thể hạ cánh để sơ tán những người bị thương. Những người đàn ông bị thương trong chiến hào chìm dưới lớp bùn cao bằng thước để chết.

JEAN POUGET: Tôi đến vào đêm ngày 2 tháng 5 và Dienbienphu rơi vào ngày 7 tháng 5. Kỉ niệm tôi lưu giữ về nó là một khối thời gian. Không có ngày hay đêm. Tôi không bao giờ nằm. Tôi chưa bao giờ ngủ. Tôi không nhớ đã ăn. Bốn giờ sáng tạm lắng. 35 người chúng tôi ở lại đồn của tôi, với một khẩu súng máy, một trái lựu đạn. Vì vậy, tôi hỏi trên đài phát thanh, tôi nói, “Vì anh không thể gửi quân tiếp viện …” Anh ta nói, “Anh muốn tôi lấy chúng ở đâu? Anh biết là không còn gì cả.” “Vậy thì cho tôi ủy quyền đi ra ngoài.” Anh ta trả lời rất đơn giản, “Không thể nào. Anh là lính dù, anh phải ở đó để chết.” Chúng tôi dựng một rào chắn bằng xác chết ở lối vào vì chúng tôi không có bao cát, và chúng tôi chờ đợi. Và chúng tôi nhìn thấy những bóng đen lần lượt đến, Việt Minh. Tôi quyết định ném lựu đạn và chúng tôi ngay lập tức bị bắn trả. Một trong những ấn tượng cuối cùng của tôi là cảm thấy bức tường xác chết rùng mình dưới ngọn lửa bùng lên. Sau đó, một quả lựu đạn chắc chắn đã trúng vào mũ bảo hiểm của tôi vì lưới bị cháy và mũ bảo hiểm bị móp. Mũ bảo hiểm của Mỹ rất chắc chắn. Tôi bất tỉnh và khi tôi đến, phía trên tôi, rất gần, một chiếc mặt nạ của một bác sĩ phẫu thuật, từ đó vang lên một giọng nói: “Anh là tù binh của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Mặc dù các quay phim chiến đấu của Việt Nam có mặt tại Dienbienphu, nhưng các cảnh quay về trận chiến kéo dài 55 ngày đã được đạo diễn Liên Xô dựng lại sau trận Pháp bại trận. Một số phân cảnh phim là chân thực, một số tái hiện. Điện Biên Phủ khiến quân Pháp 1.500 người chết, 4.000 người bị thương, 10.000 người bị bắt làm tù binh. Nhiều người trong số các tù nhân đã chết trong các trại Việt Nam. Chiến thắng của Việt Nam tại Điện Biên Phủ còn khiến họ thiệt hại nhiều hơn: 8.000 người chết, 15.000 người bị thương.

JOHN FOSTER DULLES, tháng 6 năm 1954:

Tất cả các bạn đều biết rằng Pháp và đồng minh Việt Nam của họ đã phải hứng chịu những pha đảo ngược, đáng chú ý là sự thất thủ của Điện Biên Phủ sau một pha phòng ngự tuyệt vời. Tình hình hiện tại là nghiêm trọng, nhưng không có nghĩa là vô vọng. Trong hội nghị hiện nay tại Geneva, chúng tôi và các quốc gia tự do khác đang tìm kiếm một công thức để cuộc chiến có thể kết thúc và nhân dân Đông Dương đảm bảo độc lập thực sự. Cho đến nay, thái độ của Cộng sản tại Geneva là không đáng khích lệ.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Hội nghị Geneva gần như sa lầy ngay lập tức. Phái đoàn Hoa Kỳ được lệnh phải theo dõi và không được nói chuyện.

U. ALEXIS JOHNSON: Hướng dẫn của tôi là đi họp. Không tham gia vào họ và không đồng ý bất cứ điều gì ngoài việc ở đó và ngồi vào bàn. Và tôi thấy rằng một công việc rất khó khăn, ngồi vào bàn mà mọi người đang thảo luận và đưa ra một số kết luận mà không đồng ý với họ; trong những tình huống mà bản thân sự im lặng có xu hướng đồng ý. Tôi có thể nói với bạn rằng tôi đã rất rất rất không hạnh phúc và đổ mồ hôi rất rất rất tự do.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Hoàng đế Bảo Đại, người đứng đầu Nhà nước Việt Nam, cũng đã cử một phái đoàn đến Geneva.

BẢO ĐAI: Tôi đã được nói rằng tôi nên chấp nhận những người Cộng sản tại bàn hội nghị. Tôi nói: “Không, chỉ có một nhà nước Việt Nam. Đó là Cộng sản là những kẻ nổi loạn.” Với lập trường kiên quyết của tôi, họ đã biến hội nghị chính trị thành hội nghị quân sự.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào tháng 6, nội các Pháp sụp đổ, và một thủ tướng mới lên nắm quyền, một người chỉ trích cuộc chiến, Pierre Mendes-France. Mendes-France đã thực hiện lời hứa với Quốc hội Pháp. Nếu không giải quyết được vấn đề Đông Dương tại Geneva trong vòng 30 ngày, ông sẽ từ chức. Hoa Kỳ lo sợ điều này có nghĩa là Pháp có thể từ bỏ Đông Dương cho Cộng sản.

U. ALEXIS JOHNSON: Washington hoàn toàn không rõ ràng về loại thỏa thuận mà Mendes-France đang đề xuất thực hiện hoặc thỏa thuận nào mà ông ấy sẽ thực hiện – và nếu thỏa thuận sẽ là thứ mà chúng ta có thể sống hoặc chấp nhận , hoặc liệu chúng ta có phải tố cáo nó hay không và thực tế là phải bước ra khỏi hội nghị.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Sau nhiều cuộc điều động bí mật, một tuần trước thời hạn của mình, Mendes-France đã đưa tất cả những người tham gia vào vị trí tại Geneva. Vào ngày 20 tháng 7, một ngày trước thời hạn, hai vấn đề vẫn chưa được giải quyết.

PHẠM VĂN ĐỒNG: Tại hội nghị có hai vấn đề được thảo luận: Một là đường phân giới tạm thời giữa hai miền. Và ngày kia là ngày tổng tuyển cử thống nhất đất nước Việt Nam. Hai vấn đề này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Điều đó đã rất rõ ràng.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việt Nam, trước chiến thắng tại Điện Biên Phủ, đã cứng rắn trong cả hai vấn đề, nhưng vào ngày cuối cùng, Liên Xô và Trung Quốc đã buộc họ phải thỏa hiệp. Việt Nam, người kiểm soát phần lớn đất nước, sẽ nhận được ít hơn một nửa. Các cuộc bầu cử để thống nhất Việt Nam sẽ diễn ra; Không phải sớm, khi chắc chắn Việt Nam sẽ vô địch, mà là hai năm nữa. Họ đã bị cắt giảm bởi các đồng minh của họ. Người Liên Xô và người Trung Quốc có một số động cơ, trong số đó, là sự sợ hãi; nếu Mendes-France thất bại, Pháp có thể tiếp tục chiến đấu và Mỹ có thể can thiệp.

PREMIER PIERRE MENDES-PHÁP, ngày 21 tháng 7 năm 1954:

Lý trí và hòa bình đã chiến thắng. Sau những ngày đêm đàm phán cam go, đầy lo lắng và hy vọng, lệnh ngừng bắn đã được ký kết. Trong tâm hồn và lương tâm của tôi, tôi chắc chắn rằng đây là những điều kiện tốt nhất mà chúng tôi có thể hy vọng trong tình trạng hiện tại của mọi thứ.

U. ALEXIS JOHNSON: Cảm giác của riêng tôi khi kết thúc hội nghị là chúng tôi có lẽ đã thu được gần như tất cả những gì có thể thu được trong bối cảnh tình hình thực tế. Tôi không, tôi không nghĩ chúng ta có thể kiếm được nhiều hơn thế. Nhưng tôi phải nói rằng thành thật mà nói, tôi không mấy lạc quan rằng miền Nam Việt Nam sẽ có thể tồn tại.

Đại tá BÙI TÍN: Chúng tôi nghĩ rằng sau khi ký các hiệp định, người Pháp bây giờ sẽ bị dư luận thế giới buộc phải thực hiện các hiệp định Genève. Và chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng sẽ có một cuộc tổng tuyển cử được tổ chức sau hai năm nữa, và khi đó Cách mạng chắc chắn sẽ thắng lợi. Vì vậy, chúng tôi chào nhau, “Trong hai năm!” Chúng tôi dự kiến sẽ có một cuộc tổng tuyển cử và thống nhất trong hai năm.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào mùa thu năm 1954, Việt Nam đã hành quân vào Hà Nội, lấy lại từ tay người Pháp những gì họ đã mất tám năm trước đó. Đối với Mỹ và thế giới, có vẻ như Việt Nam cũng sẽ sớm tiến quân vào Sài Gòn, khi người Pháp rút quân, lấy đi mọi thứ: nhà cửa, xe tải, nhà máy, thậm chí cả xác chết của họ.

Among them was Ho Chi Minh.

Ho Chi Minh’s early years are difficult to trace. He was always mysterious about himself, giving few interviews, and preferring in later life to present himself as the benevolent “Uncle Ho.” Ho was born about 1890 as Nguyen Tat Thanh, the son of an official who resigned rather than serve under the French. As a young man, Ho left his country, working as a shiphand and cook in America, Britain and France.

In 1917, Ho moved to Paris. He took the pseudonym Nguyen Ai Quoc, “Nguyen the Patriot,” and began to agitate for Vietnam’s independence. He tried to plead his cause at the Versailles Conference following World War I, but was not admitted. His effort made him famous among the Vietnamese in France.

In 1920, Nguyen Ai Quoc became a founding member of the French Communist Party, the first Vietnamese Communist. He remained in France editing an anti-colonial paper called Le Paria (The Outcast), and supporting himself as a photographer’s assistant. His drawings, published in the newspaper, showed he was still concerned with Vietnam, which he had not seen for ten years.

The Communists sent him to Moscow for training in 1923.

He travelled widely, organizing expatriate Vietnamese into a revolutionary party. Reports during the next 17 years placed him in Germany, China, Thailand, France, Russia.

FRENCH NEWSREEL:
Pathe Journal presents a review of achievements accomplished under the protection of our flag.

In regions of hostility and misery French civilizers have brought peace, work, prosperity and joy.

The French overseas domain is an essential part of the world’s economy, an active force of civilization and a glorious testimony to the grandeur of France.

NARRATOR: World War II brought the end of this “grandeur of France.” Japan, pursuing its conquest of China, wanted to block the transport of war material through Vietnam. In June 1940, three days after France fell to Nazi Germany, Japan demanded the right to land forces in Indochina.

Japan’s arrival deeply impressed the Vietnamese. Asians like themselves had overthrown the European colonials — for it was clear who was in charge.

NARRATOR: The Japanese supported several Vietnamese nationalist groups. But other groups were both anti-French and anti-Japanese. The most important was the Vietminh, founded in 1941 by Nguyen Ai Quoc. He had returned to Vietnam after 30 years, with a new name: Ho Chi Minh, meaning, “He Who Enlightens.”

HOANG QUOC VIET: After the conference to establish the Vietminh, Uncle Ho sent out a letter calling for the support of the population. And it was this that rallied the entire country around the movement. And when people realized that Ho Chi Minh was actually Nguyen Ai Quoc, their trust in the movement was further established. This was because the name Nguyen Ai Quoc had been widely known in the country. People knew that he was a great patriot.

NARRATOR: The Vietminh organized guerrilla bases, trained cadres, harassed the French and Japanese and spread propaganda, urging the peasants to resist.

INTERVIEWER: Why did the Vietminh fight the Japanese while other Asian nationalists collaborated?

PREMIER PHAM VAN DONG: (Laugh) I apologize, but this is a very funny question. At that time, the Japanese had already overthrown the French and began to dominate our country, so of course we had to fight the Japanese.

NARRATOR: By early 1945, Vietnam was suffering a terrible famine. People blamed the French and Japanese, who were hoarding rice, feeding it to Japanese troops, and even exporting it to Japan — while an estimated two million Vietnamese out of eight million in the northern areas died.

DR. TRAN DUY HUNG: At that time, in our estimate, at least 40,000 starving, poor peasants arrived in Hanoi to beg for food and to wait for handouts, for alms. The French did not organize any hunger relief. And the Japanese specifically forbade us to carry out any hunger relief effort of our own. People dug into the garbage dumps in order to find any edible thing at all. They also ate rats. But this was not enough to keep them alive.

NARRATOR: The Vietminh organized the peasants to seize rice stocks, and gained tremendous prestige. This peasant support gave them a political edge they never lost.

PRESIDENT FRANKLIN D. ROOSEVELT, March 1, 1945:
It’s a long tough road to Tokyo. It is longer to go to Tokyo than it is to Berlin, in every sense of the word. The defeat of Germany will not mean the end of the war against Japan…

NARRATOR: As the war in Europe drew to a close, Allied attention turned to Asia and the war against Japan. One of the pressing needs was intelligence. The Vietminh believed Allied statements supporting the rights of oppressed peoples. They had given the Allies information about Japanese troop movements, so the Americans turned to the Vietminh and its leader, Ho Chi Minh.

ARCHIMEDES PATTI (O.S.S. Officer): I first met Ho on the China border between China and Indochina in the last days of April of 1945. He was an interesting individual. Very sensitive, very gentle, rather a frail type. We spoke quite at length about the general situation, not only in Indochina, but the world at large.

ABBOT LOW MOFFAT: We knew he was a Communist, but we also felt, as they did, and the way anybody who has known, met Ho Chi Minh, who I’ve ever talked with, had the same feeling: he was first a nationalist, and second a Communist. That is, he was interested in getting the independence of his people and then he thought probably the best thing for them was the Communist type of government. But he was a nationalist first and foremost.

NARRATOR: The Vietminh agreed to help the Allies. Major Patti sent a training group, the Deer Mission, into the northern mountains.

ARCHIMEDES PATTI: The Deer team went in and they organized. Out of about 500 Vietnamese, we selected, with the help of General Giap, selected 200. We spent the next four weeks training these young men into the art of using automatic weapons, demolition equipment, infiltrating and exfiltrating into various dangerous areas. There, for the first time, we saw what kind of troops the Vietminh were. They were a very willing, fine young nationalist, really what we used to say “gung ho” type. They were willing to risk their lives for their cause, the cause of independence against the French.

NARRATOR: Before Ho’s men could prove their willingness, World War II was over.

The sudden Japanese collapse took many in French Indochina by surprise, but the Vietminh were ready for what they called the “August Revolution.” Declaring Vietnam independent, they marched in to take Hanoi peacefully. Ho Chi Minh formed a government in Hanoi, carefully mixing in members of other nationalist groups. But in the South, away from Ho’s moderating influence, his followers started purging rival nationalists. Still with the Vietminh, and perhaps reinforcing the idea of American support, was the OSS.

ARCHIMEDES PATTI: Two or three days after I met Ho, he asked me to come in and stop and see him at which time he wanted to show me something, and what he wanted to show me was a draft of the Declaration of Independence that he was going to declare several days later. Of course, it was in Vietnamese and I couldn’t read it and when it was interpreted to me, I was quite taken aback to hear the words of the American Declaration of Independence. Words about liberty, life and the pursuit of happiness, etcetera. I just couldn’t believe my own ears.

NARRATOR: On September 2, 1945, on board the U.S.S. Missouri in Tokyo Bay, Japan formally surrendered. On the same day throughout Vietnam, the Vietnamese celebrated their self-proclaimed Independence Day and the formation of a new country, the Democratic Republic of Vietnam. In Hanoi, Ho Chi Minh read a speech that began, “All men are created equal. They are endowed by their creator with certain inalienable rights…”

DR. TRAN DUY HUNG: I can say that the most moving moment was when President Ho Chi Minh climbed the steps and the national anthem was sung. It was the first time that the national anthem of Vietnam was sung in an official ceremony. Uncle Ho then read the Declaration of Independence, which was a short document. As he was reading, Uncle Ho stopped and asked, “Compatriots, can you hear me?” This simple question went into the hearts of everyone there. After a moment of silence, they all shouted, “Yes, we hear you!” And I can say that we did not just shout with our mouths but with all our hearts, the hearts of over 400,000 people standing in the square then. After Uncle Ho finished reading the Declaration of Independence, an airplane, a small plane, circled over us. We did not know whose plane it was. We thought that it was a Vietnamese plane. But when it swooped down over us, we recognized the American flag. The crowd cheered enthusiastically.

NARRATOR: Ho appealed to President Harry Truman but he would probably have accepted anyone’s support. Truman did not respond to Ho’s letters. He had been in office only four months in August 1945 and had not had time to formulate a policy on Indochina.

ABBOT LOW MOFFAT: There was quite a division in the State Department over Indochina. Both the Far Eastern office and the European office were in complete agreement that we wanted a strong France recovered in Europe from the trauma of Vichy and the defeat in the war, but the European division felt that to help get the French back on their feet we should go along with practically anything that the French wanted.

NARRATOR: The Allies had worked out a compromise plan to disarm the Japanese. Above the 16th parallel, the Chinese would take the surrender of Japanese troops. The British would do the same in the South. They arrived in Saigon in early September.

NARRATOR: The British commander, General Douglas Gracey, was a seasoned colonial officer with limited political experience. His orders were to disarm the Japanese, and maintain law and order.

MAJ. PHILIP MALINS: He had absolutely no mandate whatever to start talking about handing over French Indochina to anyone other than the French. He had his straight, strict instructions.

NARRATOR: The Vietminh fought back, but they had few weapons to use against the French troops, and the Vietminh’s brutal tactics alienated other southern nationalists.

The French regained control. In the North, Ho’s Vietminh had widespread support, but they also faced a problem: 150,000 Nationalist Chinese troops. The Chinese came to disarm the Japanese. They stayed to loot and disrupt and they threatened to remain indefinitely.

Desperate to expel the Chinese, Ho Chi Minh negotiated with the French. In March 1946, they reached an agreement. The French colonial authorities displayed their power as Ho Chi Minh, President of the Democratic Republic of Vietnam, came to confirm the agreement permitting French troops back for a limited period. In return, France recognized the new Vietnamese state, and the Chinese army left. Ho Chi Minh was gambling that the French would not try to seize power, and that a long-range agreement could eventually be negotiated.

GENERAL VO NGUYEN GIAP: A truce was concluded. There were to be future negotiations to settle the problems between us and France. Under these conditions, we allowed a certain number of French troops to take the place of the nearly 200,000 troops of Chiang Kai-shek, which were to evacuate our country as soon as possible. So we had some breathing time to consolidate our forces.

NARRATOR: The French in Hanoi greeted the arriving troops as conquering heroes. The Vietnamese stayed home. Ho Chi Minh travelled to France to continue the negotiations. But the French cabinet had collapsed. There was no one to negotiate with. He had to play tourist until a new coalition was formed. While he waited, the French administration in Saigon, acting on its own, declared the southern part of Vietnam separate from the North. It was a violation of the March agreement and Ho wondered if there was any point to further negotiations. “Should I go back home?” he asked. He was told the new government would straighten it out in Paris. In 1946, Ho had been famous as a patriot for a quarter of a century, and the Vietnamese in Paris turned out to welcome this first president of an independent Vietnam. The French greeted the veteran Communist formally, as a chief of state. At the time in France, Communists were part of the government. In public, relations were cordial, but in fact the French and Vietnamese negotiators were far apart.

NARRATOR: The negotiations, held at the historic Fontainebleau chateau, went badly. The Vietnamese insisted that southern Vietnam was part of their country. The French would not budge.

PREMIER PHAM VAN DONG: When the meeting began, the chief of the French delegation, Max Andre, said to me: “We only need an ordinary police operation for eight days to clean all of you out.” There was no need for negotiations.

GENERAL JEAN-JULIEN FONDE: The solution had to come from Fontainebleau. Then the negotiations at Fontainebleau failed. From then on, relationships deteriorated. The climate deteriorated.

NARRATOR: The March agreement was dead. With French and Vietminh forces at close range, the fighting escalated. There were provocations on both sides. In November 1946, the French shelled Haiphong. Many French officers believed only force would stop the Vietminh.

HENRI MARTIN: When we visited Haiphong afterwards, all the Vietnamese neighborhoods were completely wiped out. There were dead buried under debris… it is difficult to know the exact figure. But the larger part of the city, it seemed to us from what we saw, almost the entire Vietnamese part of the city had been destroyed.

NARRATOR: General Fonde tried to reason with General Giap.

GENERAL JEAN-JULIEN FONDE: “Listen,” I said, “I know war: murders, deaths, destruction, bridges blown up, burning houses. This is unthinkable. We have to prevent this.” He said to me, “You listen. Politics come before economics. The destruction is not important. The deaths — one million Vietnamese deaths — not important. The French will die too. We are ready. It will last two years, five years if necessary. We will no longer give in.”

NARRATOR: By late 1946, Ho Chi Minh’s government was forced out of Hanoi, out of the cities. The first Vietnam war had started. The French were confident that they could wipe out Giap’s ragtag army quickly. They were a modern army with modern weapons, some bought with U.S. aid. The Vietminh had widespread support from the peasants.

DUONG VAN KHANH: I heard about Uncle Ho who fought for the rights of the peasants and the workers. So as a peasant who has suffered a lot, I realized that the only correct thing for me to do was to follow the same path.

NGUYEN THI DINH: At first we did not have any weapons except for bamboo spears. But in the northern part of our country, they were producing arms. I was appointed to go there to report on the situation in the South. Uncle Ho told me that he carried the South in the depth of his heart, and I should tell him what we needed so that the central government could supply us to fight the French and drive them out of the country. I replied that we needed guns. Uncle Ho said that the central government could only give us so many guns because they did not have many. The main thing, he said, was to capture the enemy’s guns and use these guns against them.

NARRATOR: The French bogged down in a quicksand war. Again and again they declared an area “pacified,” only to find it slipping back into Vietminh control. The guerrillas seemed to be everywhere and nowhere. In an attempt to take popular support away from the Vietminh, the French created a rival Vietnamese government, the State of Vietnam. As its ruler, the French picked Vietnam’s former emperor, Bao Dai. But they placed so many limitations on his regime that to many Vietnamese it did not seem at all independent.

NARRATOR: Nineteen-fifty brought a new source of help to the Vietminh. Mao Zedong’s forces arrived at Vietnam’s borders, having taken all of China. They extended diplomatic recognition to Ho’s government, the first country to do so. The Soviet Union followed quickly. And a week later, the United States recognized Bao Dai’s rival state. Lines were being drawn in a continuing Cold War.

DOUGLAS MACARTHUR II (State Department counselor): In the early 1950s, the United States had a concept of communism, international communism as a hard monolithic block of China and Russia with no crevices in it that were seeking to expand and gain a dominant position in the world. In Europe, they had taken over Eastern Europe, pushed into Czechoslovakia; and in Southeast Asia, an area in which we had interests, they seemed to be trying to do the same thing.

PRESIDENT HARRY TRUMAN, 1950:
The cause of freedom is being challenged throughout the world today by the forces of imperialistic communism…

NARRATOR: In May 1950, for the first time, President Truman authorized direct U.S. aid for the French war in Indochina — $10 million — the beginning of an American commitment.

PRESIDENT HARRY TRUMAN:
…They have proved time after time that their talk about peace is only a cloak for imperialism.

NARRATOR: The U.S. commitment deepened after North Korean troops invaded South Korea at the end of June, 1950.

DEAN RUSK: It was decided on the very weekend of the North Korean attack that we would step up our aid very significantly to the French and to Southeast Asia. Because we did not know at that point whether or not the Chinese might attempt to move into that area as part of a general offensive in Asia.

NARRATOR: By the end of 1950, the United States had given $150 million in aid to the French forces, including planes, tanks, fuel, ammunition and napalm. As U.S. strategists looked at Asia, they saw a spreading Communist menace. The fight in Korea had become an international war. And in Vietnam, the Vietminh had linked up with Communist China. Vietminh war capacities improved dramatically.

COLONEL BUI TIN: We used the new weapons to mount offensives against the French. We were able to wipe out two large French units and capture all their weapons. The way was cleared for communications between Vietnam and the outside world. Then we received military aid from China, especially equipment.

NARRATOR: The defeats on the northern border were a disaster for the French. The Indochina war was no longer just a colonial conflict. It was still small, but it had become international, supported on both sides by major powers. By the end of 1953, America was paying 80 percent of the war, over a billion dollars a year. “Le jaunissement” — France’s Vietnamizing of the war — and other strategies to gain Vietnamese support had failed. The French controlled the cities, but the Vietminh controlled the countryside. The French controlled the day; the Vietminh, the night. General Henri de Navarre came in as the fifth French commander in five years.

CAPTAIN JEAN POUGET: When General Navarre arrived, he opened a file right away and on that file I wrote “War Goals.” We looked for what to tell the troops. Well, until the end this file remained practically empty. We never could express concretely our war goals.

NARRATOR: General Navarre tried yet another new strategy. French units were set up in remote areas, supplied by air. Their mission was to search out and destroy the Vietminh.

The French planned to test their new strategy in a valley set among the western mountains, 170 miles from Hanoi: Dienbienphu. The Vietminh had passed through the valley during a major attack on Laos. The French expected another attack and thought Dienbienphu would be the place to engage them. In November 1953, 12,000 French troops began dropping into the valley, under the command of Colonel Christian de Castries. The top French command in Saigon was sure that Giap would never be able to mass enough troops around Dienbienphu, never get heavy artillery up the hills, never keep supply lines open. The command at Dienbienphu was equally confident. The artillery officer insisted that no Vietminh gun would be able to fire more than three rounds.

CAPTAIN JEAN POUGET: I saw all sorts of civilian and military authorities go through Dienbienphu. Unless my memory is completely twisted, I don’t remember a single one, absolutely not a single one of these authorities who didn’t find that Dienbienphu was a formidable base. It was the great land and air base, it was “untakeable.”

NARRATOR: The Vietminh saw Dienbienphu as a great opportunity, but a great gamble, too. Ho Chi Minh’s forces had lost heavily in attacks on other French strong points. But they decided to take the risk.

CAPTAIN CAO XUAN NGHIA: From Tahinguyen it took us about 45 days. We marched at night and rested during the day. Sometimes we just slept on the roadsides if there were no shelters around.

NARRATOR: The French command was inviting a battle because they thought the Vietminh would never be able to get enough troops and guns to Dienbienphu. But they did. Fifty-one thousand Vietminh soldiers — four times the number of French troops — crossed the mountains, carrying supplies on their backs and bicycles, and hauling guns.

NARRATOR: Both sides had a special reason for wanting to win at Dienbienphu. At this same time, January 1954, the great powers were meeting in Berlin. They set a date and place — April 26 in Geneva — to meet and discuss Asian issues, including the Indochina crisis. On March 13, Giap launched his attack on Dienbienphu. The battle began with massive “human wave” assaults. The Vietminh guns blanketed French artillery from positions so well dug in and camouflaged that the French planes could not get at them. The first post fell within eight hours. By the next day, March 14, the Vietminh shelling had destroyed the main airstrip. The French command staff was shocked. Colonel de Castries became withdrawn, uncommunicative. On the second night the artillery commander committed suicide saying, “I am completely dishonored.” Four days into the battle, the Vietminh controlled the entire perimeter. The cost was high: thousands were dead and wounded among the Vietminh. Giap decided to change strategy.

GENERAL GIAP: This decision on the Dienbienphu front constitutes for me one of the biggest and the most difficult decisions in my fighting life.

COL. BUI TIN: As commander, General Vo Nguyen Giap decided to end this attack based on the human-wave tactic. The entire plan was changed. The attack was stopped and all the heavy artillery pieces were pulled back to a distance. Then trenches and tunnels were dug and the morale of the troops was rebuilt based on the slogan: “Advance solidly, Fight solidly.” Shovels became extremely important weapons. All the cadres and soldiers put most of their time and energy into digging trenches and tunnels. We slowly surrounded Dienbienphu with trenches, cutting into the airstrip so it could not be used again, slowly tightening the noose around the necks of the French.

NARRATOR: With the airstrip out, the French garrison was dependent on parachute drops, but Vietminh anti-aircraft fire forced pilots to fly too high. Supplies began falling into enemy hands. General Giap’s change in strategy was working, and he settled in for a long siege. For the French, Dienbienphu became a nightmare. The rainy season started early with drenching downpours. French dugouts and shelters collapsed. Clean water became impossible to find. Medical supplies ran out. No planes could land to evacuate the wounded. Men who were wounded in the trenches sunk under the yard-high mud to die.

JEAN POUGET: I arrived during the night of May 2, and Dienbienphu fell on May 7. The memory I keep of it is one block of time. There was no day or night. I never lay down. I never slept. I don’t remember eating. At four o’clock in the morning there was a lull. We were 35 left at my post, with one machine gun, one grenade left. So I asked on the radio, I said, “Since you cannot send reinforcements…” He said, “Where do you want me to get them? You know there is nothing left.” “Then give me the authorization to get out.” He answered very simply, “No way. You’re paratroopers, you’re there to die.” We built a barricade with corpses at the entrance since we had no sandbags, and we waited. And we saw the shadows coming one by one, the Vietminh. I decided to throw my grenade and we immediately got return fire. One of my last impressions was to feel the wall of corpses shivering under the burst of fire. Then a grenade must have hit my helmet because the net was burned and the helmet dented. American helmets are very solid. I lost consciousness and when I came to, there was above me, very close, a surgeon’s mask from which a voice came: “You are a prisoner of the army of the Democratic Republic of Vietnam.

NARRATOR: Though Vietminh combat cameramen were present at Dienbienphu, scenes of the 55-day battle were restaged by a Soviet director after the French defeat. Some of the film sequences are authentic, some re-enacted. Dienbienphu cost the French 1,500 dead, 4,000 wounded, 10,000 taken prisoner. Many of the prisoners died in Vietminh camps. The Vietminh victory at Dienbienphu cost them even more: 8,000 dead, 15,000 wounded.

JOHN FOSTER DULLES, June 1954:
You are all aware that the French and their Vietnam ally have suffered reverses, notably the fall of Dienbienphu after a superb defense. The present situation is grave, but by no means hopeless. In the present conference at Geneva, we and other free nations are seeking a formula by which the fighting can be ended and the people of Indochina assured true independence. So far the Communist attitude at Geneva is not encouraging.

NARRATOR: The Geneva Conference bogged down almost immediately. The United States delegation was ordered to watch and not to talk.

U. ALEXIS JOHNSON: My instructions were to go to the meetings. To not participate in them and not to agree to anything but to be there and sit at the table. And I found that a very difficult job, to sit at a table at which people were making discussions and some conclusions were being arrived at, without agreeing to them; in situations in which silence itself tends to give assent. I can tell you that I was very, very unhappy and perspired very, very freely.

NARRATOR: Emperor Bao Dai, head of the State of Vietnam, also sent a delegation to Geneva.

BAO DAI: I was told I should accept the Communists at the conference table. I said, “No, there is only one Vietnamese state. It is I. The Communists are rebels.” Given my uncompromising position they turned the political conference into a military conference.

NARRATOR: In June, the French cabinet fell, and a new prime minister took over, a critic of the war, Pierre Mendes-France. Mendes-France made a promise to the French National Assembly. If he could not resolve the Indochina question at Geneva within 30 days, he would resign. The United States feared this meant France might abandon Indochina to the Communists.

U. ALEXIS JOHNSON: Washington was not at all clear as to what kind of an agreement Mendes-France was proposing to make or what agreement he would make — and if the agreement was going to be something with which we could possibly live or acquiesce, or whether or not we were going to have to denounce it and, in effect, walk out of the conference.

NARRATOR: After much secret maneuvering, one week before his deadline, Mendes-France got all the participants in place in Geneva. On July 20, the day before the deadline, two issues were still unresolved.

PREMIER PHAM VAN DONG: At the conference there were two issues under discussion: One was the temporary demarcation line between the two regions. And the other was the date of the general elections for the reunification of Vietnam. These two issues were closely connected. That was very clear.

NARRATOR: The Vietminh, flush with their victory at Dienbienphu, took a hard line on both issues, but on the last day, the Soviets and the Chinese forced them to compromise. The Vietminh, who controlled most of the country, would get less than half. The elections to reunify Vietnam would take place; not soon, when the Vietminh would surely win, but in two years. They had been undercut by their own allies. The Soviets and Chinese had several motives, among them, fear; if Mendes-France failed, France might keep fighting and America might intervene.

PREMIER PIERRE MENDES-FRANCE, July 21, 1954:
Reason and peace have won out. After days and nights of hard negotiations, filled with anxiety and hope, the cease-fire has been signed. In my soul and my conscience, I am sure these are the best conditions we could have hoped for in the present state of things.

U. ALEXIS JOHNSON: My own feeling at the end of the conference was that we had probably obtained just about all that could be obtained in the light of the situation on the ground. I don’t, I don’t think we could have obtained much more. But I must say that very honestly I did not have much optimism that South Vietnam was going to be able to survive.

COL. BUI TIN: We thought that having signed the agreements, the French would now be forced by world opinion to carry out the Geneva accords. And we strongly believed that there would be a general election held in two years, and then the Revolution would certainly win. So we greeted each other, “In two years!” We expected to have a general election and reunification in two years.

NARRATOR: In the fall of 1954, the Vietminh marched into Hanoi, taking back from the French what they had lost eight years before. To America and the world, it looked like the Vietminh would soon be marching into Saigon, too, as the French pulled out, taking everything: houses, trucks, factories, even their dead.

Nam bộ kháng chiến – miền Nam đi trước về sau…

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://baocantho.com.vn/-mien-nam-di-truoc-ve-sau–a125598.html

Năm 1858, thực dân Pháp và Iphanho (Tây Ban Nha) nổ súng bắn vào cửa biển Đà Nẵng xâm lược Việt Nam. Năm 1859, người Pháp vào Gia Định và sau đó bằng rất nhiều hiệp ước, nước Việt Nam mất dần vào tay thực dân Pháp.

Nhân dân Nam bộ nhất tề đứng lên dũng cảm chiến đấu với kẻ thù. Ảnh: Internet
Nhân dân Nam bộ nhất tề đứng lên dũng cảm chiến đấu với kẻ thù. Ảnh: Internet

Hơn 80 năm nô lệ, ngày 2-9-1945, cùng với nhân dân cả nước, người dân Sài Gòn nô nức chào đón ngày ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Chỉ 21 ngày sau, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam lần thứ 2. Vậy là, người dân Sài Gòn, người dân Nam bộ chỉ được hưởng không khí độc lập đúng 21 ngày.

* Lời thề Ngày Độc lập

Ngày 2-9-1945, Nam bộ tổ chức mít tinh chào mừng Ngày Độc lập. Hơn 1 triệu đồng bào từ các tỉnh, thành phố đã nô nức tề tựu về Sài Gòn để được chào mừng Ngày Độc lập và nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. Những lời tuyên bố lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh – vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau – đã không trực tiếp đến với đồng bào Nam bộ. Xứ ủy và Ủy ban hành chánh Nam bộ đã đề nghị nhà cách mạng Trần Văn Giàu, Chủ tịch Lâm ủy hành chánh Nam bộ đứng ra phát biểu ý kiến.

Chủ tịch Lâm ủy hành chánh Nam bộ Trần Văn Giàu đã nhanh chóng phác thảo ý kiến phát biểu chính. Bài phát biểu khẳng định niềm vui, niềm tự hào của người dân Nam bộ trước sự đổi đời từ một nước thuộc địa thành một nước dân chủ cộng hòa. Bài phát biểu cũng kêu gọi nhân dân đoàn kết chung quanh Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, sẵn sàng đặt lại quan hệ với nước Pháp trên cơ sở tôn trọng nền độc lập của Việt Nam với lời kêu gọi khi kết thúc: “Quốc dân hãy sẵn sàng chiến đấu!… Đứng lên! Ngày độc lập bắt đầu từ nay! Tiến tới, vì độc lập, vì tự do, tiến tới mãi! Không một thành lũy nào ngăn nổi chí của muôn dân trên đường giải phóng!”.

Đáp lời Chủ tịch Lâm ủy hành chánh Nam bộ, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch thay mặt Lâm ủy hành chánh Nam bộ long trọng đọc lời tuyên thệ trước đồng bào sẽ cương quyết lãnh đạo đồng bào giữ gìn đất nước, sẽ cùng đồng bào vượt qua khó khăn, nguy hiểm xây đắp nền độc lập hoàn toàn cho Việt Nam. Thay mặt nhân dân, Tổng thư ký Công đoàn Nam bộ Nguyễn Lưu đọc lời thề: “Chúng tôi, toàn thể nhân dân Việt Nam xin kiên quyết một lòng ủng hộ Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nếu người Pháp đến xâm lược Việt Nam một lần nữa thì chúng tôi cương quyết: không đi lính cho Pháp; không làm việc cho Pháp; không bán lương thực cho Pháp; không dẫn đường cho Pháp”. Hàng trăm ngàn người phía dưới hô to: “Xin thề! Xin thề! Xin thề”.

* Thực dân Pháp gây hấn ngay trong Ngày Độc lập

Trong khi hàng triệu người dân Nam bộ đang vui mừng chào đón Ngày Độc lập của dân tộc thì quân Pháp núp bóng quân Anh với danh nghĩa đồng minh đã bắn súng vào đoàn biểu tình trong lễ tuần hành mừng độc lập. Những ngày sau đó, dưới sự bảo trợ của quân Anh, quân Pháp ngày càng có nhiều hành vi khiêu khích trắng trợn.

Ngày 4-9-1945, tướng Anh Gracey ra lệnh phía chính quyền cách mạng “giải tán lực lượng vũ trang”, ngăn cản quần chúng xuống đường biểu tình. Cả Sài Gòn và Nam bộ sống trong một không khí ngộp thở, khẩn trương khi chuẩn bị tinh thần cho một cuộc chiến đấu mới. Từ thủ đô Hà Nội phát đi lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nhân dân Việt Nam hoan nghênh quân đồng minh kéo vào Việt Nam để tước khí giới quân Nhật, nhưng cương quyết phản đối quân Pháp kéo vào Việt Nam, vì mục đích của họ chỉ là hãm dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ một lần nữa”. Trước sự gây hấn của quân thù, ngày 9-9-1945, tại Sài Gòn, Tổng bộ Việt Minh đã ra lời kêu gọi đồng bào chuẩn bị tinh thần và lực lượng để chống trả quân thù “đang sửa soạn súng đạn để một lần nữa giày xéo đất nước ta, tiêu diệt nòi giống ta”.

* “Mùa thu rồi ngày hăm ba”

Ngày 25-8-1945, Ủy ban Hành chính lâm thời Nam bộ được thành lập do ông Trần Văn Giàu làm chủ tịch. Ủy ban Hành chính lâm thời Nam bộ tuyên bố mình là bộ phận phía Nam của Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Sau gần 80 năm đô hộ nước ta, thực dân Pháp, mặc dù trước đó đã thất bại và thúc thủ trước phát xít Nhật nhưng vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược lại nước ta một lần nữa.

Đêm 22-8-1945, Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam kỳ (thuộc Chính phủ De Gaulle) là Jean Cédile nhảy dù xuống gần Biên Hòa và bị nông dân bắt giữ giao cho quân đội Nhật và sau đó được thả ra. Ngày 27-8-1945, Cédile gặp ông Trần Văn Giàu đề nghị tương lai chính trị của Việt Nam. Trong cuộc họp này, ông Trần Văn Giàu yêu cầu điều kiện tiên quyết là Pháp trước hết phải công nhận nền độc lập của Việt Nam rồi mới bàn tới quan hệ giữa Việt Nam và Pháp. Trong đêm
22-9, ở bất cứ nơi nào quân Pháp đánh chiếm đều bị quân dân ta nhất loạt đứng lên chống trả quyết liệt.

Sáng 23-9-1945, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam bộ Trần Văn Giàu phát lời kêu gọi đồng bào:

“Đồng bào Nam bộ, nhân dân thành phố Sài Gòn,

Anh em công nhân, thanh niên, tự vệ, dân quân, binh sĩ!

Đêm qua, thực dân Pháp đánh chiếm trụ sở chính quyền ta ở trung tâm Sài Gòn. Như vậy là Pháp bắt đầu xâm chiếm nước ta một lần nữa.

Ngày 2-9, đồng bào đã thề quyết hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ độc lập của Tổ quốc.

Độc lập hay là chết!

Hôm nay, Ủy ban Kháng chiến kêu gọi: Tất cả đồng bào, già, trẻ, trai, gái hãy cầm võ khí xông lên đánh đuổi quân xâm lược. Ai không có phận sự do Ủy ban Kháng chiến giao phó, thì hãy lập tức ra khỏi thành phố. Những người còn ở lại thì:

– Không làm việc, không đi lính cho Pháp.

– Không đưa đường, không báo tin, không bán lương thực cho Pháp.

Hãy tìm thực dân Pháp mà diệt. Hãy đốt sạch, phá sạch các cơ sở, xe cộ, tàu bè, kho tàng, nhà máy của Pháp.

Sài Gòn bị Pháp chiếm phải trở thành một Sài Gòn không điện, không nước, không chợ búa, không cửa tiệm.

Hỡi đồng bào!

Từ giờ phút này, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt giặc Pháp, tiêu diệt tay sai của chúng.

Hỡi anh em binh sĩ, dân quân, tự vệ! Hãy nắm chặt vũ khí trong tay xông lên đánh đuổi thực dân Pháp, cứu nước. Cuộc kháng chiến bắt đầu!

Sáng ngày 23-9-1945

Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam bộ”.

Ngay chiều 23-9-1945, thực hiện lời kêu gọi của Ủy ban Kháng chiến, cả Sài Gòn đình công, bất hợp tác với Pháp. Các công sở, hãng buôn đóng cửa, chợ không họp, các ụ chiến đấu hình thành khắp nơi trong thành phố. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Nam bộ nhất tề đứng dậy, tiếng súng kháng chiến ở Sài Gòn rung động cả nước.

Ngày 24-9-1945, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời hiệu triệu nhân dân cả nước dốc sức ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Nam bộ. Ngày 26-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam bộ khẳng định quyết tâm kháng chiến của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta; đồng thời chỉ rõ mục tiêu chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc. Chỉ bằng mã tấu, gậy tầm vông và tấm lòng quả cảm, những người dân Nam bộ thành đồng đã nhất tề đứng lên dũng cảm chiến đấu với kẻ thù. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp những ngày đầu ở Nam bộ đã đánh đòn đầu tiên và mạnh mẽ vào âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, tiêu hao sinh lực địch, kìm chân địch trong thành phố và các thị xã trong một thời gian, góp phần giữ vững chính quyền non trẻ của nhân dân.

TS Vũ Trung Kiên

(Học viện Chính trị khu vực 2)

Hiệp định sơ bộ Pháp–Việt (1946)

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C4%91%E1%BB%8Bnh_s%C6%A1_b%E1%BB%99_Ph%C3%A1p%E2%80%93Vi%E1%BB%87t_(1946)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Chiến tranh Đông Dương
Hiệp định Sơ bộ 6/3 và Tạm ước 14/9/1946 thể hiện bản lĩnh, trí tuệ sáng  tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt là một hiệp định được ký ngày 6 tháng 3 năm 1946 giữa Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Hiệp định này được xem là một nước cờ chính trị của cả hai bên nhằm mưu đồ lợi ích riêng. Trong đó, các nhà sử học phương Tây và Việt Nam đều cho rằng Hồ Chí Minh đã đặt cược uy tín của mình để đẩy lùi nguy cơ chiến tranh giữa hai dân tộc Pháp – Việt.

Nguyên nhân

Sau cuộc đảo chính của Nhật ngày 9 tháng 3 năm 1945, thực dân Pháp mất quyền cai trị Liên bang Đông Dương. Tuy nhiên, sau khi Nhật đầu hàng khối Đồng MinhViệt Minh chớp thời cơ giành chính quyền từ tay Đế quốc Việt Nam được Đế quốc Nhật Bản bảo hộ, nhanh chóng kiểm soát đất nước, và thành lập chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Theo thỏa thuận của ba cường quốc Đồng Minh là Trung Quốc, Anh, Hoa Kỳ thì 20 vạn quân của quân đội Trung Hoa Dân Quốc sẽ tiến vào miền Bắc Việt Nam để làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Đế quốc Nhật Bản. Ở miền Nam Việt Nam, quân Anh tiến vào với nhiệm vụ tương tự. Tuy người Việt Nam đã tự thành lập chính quyền và tuyên bố độc lập, chính phủ Pháp vẫn quyết tâm tái lập quyền cai trị Đông Dương. Tưởng Giới Thạch nhanh chóng nhận thức được rằng với vị thế cường quốc của Trung Quốc sẽ giúp ông ép Pháp phải chấp nhận các điều kiện do ông đưa ra để giải quyết những xung đột lợi ích giữa Trung Quốc và Pháp nếu Pháp muốn quay lại thuộc địa cũ của mình.

Rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945, người Pháp, dưới sự giúp đỡ của quân đội Anh, đã dùng vũ lực buộc Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ phải giải tán, giao lại chính quyền cho người Pháp. Tuy nhiên, chính quyền người Việt đã thực hiện cuộc chiến tranh du kích để chống lại.

“Miền Nam đi trước về sau” 

“Từ ngày “Nam Bộ kháng chiến” (23-9-1945) đến ngày “Toàn quốc kháng chiến” (19-12-1946), nhân dân Nam Bộ đã tiến hành cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp trước cả nước 15 tháng. Thế nên, nói “miền Nam đi trước về sau” hay “ba mươi năm đi trước về sau” là nói đến sự kiện đặc biệt của 15 tháng “đi trước” ấy”.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, chính phủ của Hồ Chí Minh tổ chức Tổng tuyển cử trên cả nước. Mặc dù việc Hồ Chí Minh thắng cử là không thể nghi ngờ nhưng cuộc Tổng tuyển cử diễn ra không dễ dàng do sự chống phá của quân đội Pháp và những người thân Pháp cũng như thân Trung Hoa Dân quốc. Sau đó, chính phủ hợp hiến được thành lập bao gồm chủ yếu là những người dân tộc chủ nghĩa và Đảng Cộng sản, phần thiểu số thuộc về những đảng phái thân Pháp và thân Trung Hoa Dân quốc. Hồ Chí Minh chấp nhận sự có mặt của những người thân Pháp và thân Trung Hoa Dân quốc nhằm hai mục đích. Thứ nhất, lấy đó làm cơ sở để kêu gọi Mỹ công nhận nền độc lập và viện trợ cho Việt Nam. Thứ hai, nhằm tránh phải đụng độ vũ trang với Pháp và Trung Hoa Dân quốc.

Đầu 1946, với khoảng 40 ngàn quân, Pháp mới chỉ kiểm soát được một ít đất đai ngoài các thành phố, và các đường quốc lộ ở Nam Bộ. Tới tháng 3/1946, tướng Leclerc cũng chỉ mới có 50 ngàn quân. Khác với hầu hết những người Pháp, Leclerc nhận thức được khó khăn của cuộc chiến tranh du kích và có thiên hướng lựa chọn đàm phán để có được một giải pháp chính trị, chứ không chủ trương giải quyết vấn đề bằng quân sự. Điều này có nghĩa là Pháp phải từ bỏ toan tính tách rời xứ Nam Kỳ khỏi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thống nhất. Tướng Leclerc tin chắc rằng Việt Minh là một phong trào dân tộc chủ nghĩa mà Pháp không thể khuất phục bằng quân sự nên ông ép đại diện của Pháp ở miền Bắc, Jean Sainteny, ký bằng được một thỏa ước với Hồ Chí Minh, người đứng đầu chính phủ đang kiểm soát Hà Nội và Hải Phòng. Trong một báo cáo mật gửi về Paris hôm 27/3, Leclerc nói sẽ không một giải pháp nào bằng bạo lực là khả thi ở Đông Dương.

Ở miền Bắc, quân đội Trung Hoa Dân Quốc vẫn công nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho mưu đồ chính trị của họ. Tuy nhiên, người Pháp cũng đã thương lượng với chính phủ Trung Hoa Dân Quốc để đưa quân đội xâm nhập Bắc Việt Nam theo lệnh của phe Đồng Minh.

Ngày 28 tháng 2 năm 1946Hiệp ước Hoa – Pháp được ký kết, với các điều khoản chính như sau:

  • Pháp trả lại cho Tưởng các tô giới của Pháp trên đất Trung Hoa là: Hán KhẩuThiên TânThượng Hải, Quảng Đông, Quảng Châu Loan, Sa Diện và nhượng lại quyền khai thác lợi tức kinh tế cũng như quyền sở hữu tại toàn bộ tuyến đường sắt Hải Phòng – Côn Minh cho Trung Quốc.
  • Pháp từ bỏ một số quyền lợi kinh tế trên đất Trung Quốc và nhượng lại những quyền lợi đó cho Trung Quốc.
  • Pháp cũng từ bỏ quyền lãnh sự tài phán đối với công dân Pháp sống tại Trung Quốc (quyền lãnh sự tài phán là một đặc quyền bất bình đẳng, theo đó công dân Pháp sống tại Trung Quốc nếu phạm tội thì sẽ đưa về lãnh sự quán Pháp để xét xử chứ không xử bằng luật pháp nước sở tại)
  • Đồng thời, Trung Quốc cũng sẽ được một số quyền lợi ở miền Bắc Việt Nam như: Được quyền khai thác kinh tế tại một đặc khu của cảng Hải Phòng và Hải Phòng sẽ là một hải cảng tự do để Trung Quốc có thể ra vào buôn bán, hàng hoá của Trung Quốc nhập qua Miền Bắc Việt Nam sẽ không cần phải đóng thuế.
  • Ngược lại, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đồng ý cho Pháp thay thế quân Trung Hoa giải giáp quân Nhật tại miền Bắc Việt Nam, việc thay quân sẽ diễn ra từ ngày mùng 1 đến ngày 15 tháng 3 năm 1946, kỳ hạn chậm nhất sẽ là ngày 31 tháng 3 năm 1946 (Tuy nhiên, trên thực tế, Quân Trung Hoa Dân Quốc vẫn còn đồn trú tại miền Bắc Việt Nam cho đến ngày 15/6/1946 thì người lính cuối cùng của Trung Quốc mới rời khỏi Bắc Việt, trong thời gian Quân Trung Quốc còn ở Việt Nam đồn trú, ngày 18/3/1946, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã cử một phái đoàn sang Trùng Khánh để giữ quan hệ hoà hảo với Trung Quốc).

Về cơ bản, hiệp ước này cho phép quân đội Pháp trở lại miền Bắc Việt Nam thay thế cho quân Trung Hoa Dân Quốc để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Đổi lại, Pháp cũng đã trả lại các tô giới của mình trên đất Trung Quốc cho chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch và nhượng cho Trung Quốc một số đặc quyền về kinh tế và chính trị.

Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt

Trong thời gian đầu, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm nhiều thành phần kiên quyết chống lại việc Pháp tái lập chủ quyền ở Đông Dương. Nhưng sau đó những thành viên Chính phủ là đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương thay đổi ý kiến muốn ký kết Hiệp định với Pháp. Theo quan điểm của Ban Thường vụ TW 3 Đảng cộng sản Đông Dương (đã lui vào hoạt động bí mật), tháng 3 năm 1946, nếu Pháp cho Đông Dương tự trị theo tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 thì kiên quyết đánh, nhưng nếu cho Đông Dương tự chủ thì hòa để phá tan âm mưu của “bọn Tàu trắng, bọn phản động Việt Nam và bọn phát xít Nhật còn lại”.

Sáng ngày 6-3-1946, một cuộc họp đặc biệt của Hội đồng Chính phủ đã họp với sự có mặt của Hồ Chí Minh – Chủ tịch Chính phủ; các Bộ trưởng: Huỳnh Thúc KhángPhan AnhChu Bá PhượngĐặng Thai MaiTrương Đình TriVũ Đình HòeTrần Đăng Khoa; Cố vấn tối cao Vĩnh ThụyNguyễn Văn Tố – Trưởng ban Thường trực Quốc Hội; Võ Nguyên Giáp – Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến; Vũ Hồng Khanh – Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến; Hoàng Minh Giám – Thư ký Hội đồng Chính phủ. Sau khi nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo, Hội đồng bàn bạc và nhất trí quyết định sẽ ký Hiệp định sơ bộ với Pháp theo các điều kiện đã được thỏa thuận. Vì Nguyễn Tường Tam vắng mặt nên Hội đồng Chính phủ cử Vũ Hồng Khanh thay mặt để cùng với Hồ Chí Minh ký bản Hiệp định sơ bộ với Pháp. Ngày 6 tháng 3 năm 1946Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt được ký kết giữa Jean Sainteny, đại diện chính phủ Cộng hòa Pháp, và Hồ Chí Minh cùng Vũ Hồng Khanh, đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nội dung của Hiệp định bao gồm các điểm chính sau đây:

Về phía người Pháp Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt giúp họ đưa quân đội ra miền Bắc Việt Nam mà không gặp sự kháng cự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như ở Nam Kỳ, đồng thời Hiệp ước Hoa-Pháp giúp họ tránh khỏi sự cản trở của các tướng lĩnh Trung Hoa Dân quốc.

Về phía Việt Minh, quân Trung Hoa được xác định là nguy cơ lớn nhất. Để loại trừ nguy cơ của 20 vạn quân Trung Hoa chiếm đóng, tránh được tình thế bất lợi “phải cô lập chiến đấu cùng một lúc với nhiều lực lượng phản động (thực dân Pháp, Tàu trắng, bọn phản cách mạng trong nước)”, tập trung đối phó với người Pháp và “các đảng phái phản động”. Đồng thời, tranh thủ được thời gian hòa hoãn quý báu để “Bảo toàn thực lực giành lấy giây phút nghỉ ngơi và củng cố vị trí mới đã chiếm được, chấn chỉnh đội ngũ cách mạng, bổ sung cán bộ, bồi dưỡng và củng cố phong trào”. 

Một số thành viên trong Chính phủ Liên hiệp thuộc lực lượng Việt QuốcViệt Cách không tán thành việc này lên tiếng phản đối gây ra bất đồng sâu sắc, dân chúng cũng có người băn khoăn, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bình tĩnh giải thích và động viên đồng bào để đồng bào hiểu rõ “cần phải biết chịu đựng hy sinh để mưu sự nghiệp lớn”. 

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Pháp Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946) cho phép Pháp đưa quân vào miền Bắc đổi lại Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là trong Liên bang Đông Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp vì nếu không có hiệp ước nào thì quân đội Pháp cũng sẽ vào miền Bắc Việt Nam theo lệnh của phe Đồng Minh trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại chưa được nước nào công nhận nên chưa có vị trí quốc tế nào. Mặc dù Hiệp định có chữ ký của Vũ Hồng Khanh nhưng đa số lãnh đạo Việt Quốc rút sự ủng hộ của họ cho chính phủ Hồ Chí Minh để phản đối, chống lại những gì họ gọi là “thân Pháp” trong chính sách của Việt Minh. Bảo Đại rời khỏi đất nước vào ngày 18 tháng 3, ngày quân Pháp vào Hà Nội để theo phái đoàn ngoại giao đến Trùng Khánh nhằm tái khẳng định tình hữu nghị Việt – Trung và để thăm dò việc Tưởng Giới Thạch muốn hai nước sẽ có quan hệ thế nào sau khi ký Hiệp ước Hoa-Pháp. Một hội nghị liên tịch được tổ chức để khai thông các bất đồng dẫn đến việc thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam.

Do Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt chỉ mang tính chất là khung pháp lý chứ chưa phải văn bản pháp lý chính thức nên Bộ Ngoại giao Pháp chưa phê chuẩn cho đến khi có Hiệp ước chính thức giữa hai bên Việt-Pháp. Sau khi ký Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt, hai bên Việt-Pháp tiếp tục xúc tiến hội đàm tại Hội nghị Đà Lạt và Hội nghị Fontainebleau để đàm phán về nền độc lập của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp và việc thống nhất Việt Nam. Thực ra, Pháp cũng chẳng thực tâm muốn đàm phán hòa bình mà họ chỉ câu giờ để có thời gian chuẩn bị đủ lực lượng tái chiếm Đông DươngLeclerc, tổng chỉ huy Pháp ở Đông Dương khi đề nghị đàm phán đã bị chuẩn tướng Charles de Gaulle trách móc: “Nếu tôi mà đồng ý mấy thứ nhảm nhí này thì đế quốc Pháp đã tiêu vong lâu rồi. Hãy đọc thật kỹ câu chữ trong tuyên bố tháng 3 của Pháp về Đông dương”.

Tuy nhiên, hiệp định đã bị Cao ủy Đông DươngGeorges Thierry d’Argenlieu, làm mất giá trị khi ông tuyên bố chấp nhận sự thành lập Nam Kỳ quốc tại Sài Gòn vào ngày 1 tháng 6 cùng năm trong lúc Hội nghị Fontainebleau đang diễn ra.

Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến tan rã

Sau khi ký Hiệp định, Hồ Chí Minh lập tức đã đưa Việt Minh hòa vào một mặt trận rộng lớn hơn, chủ trương đoàn kết một số đảng phái của Việt Nam, nhờ đó mà giảm sức ép chính trị. Ngày 27/5/1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam được thành lập với mục tiêu giữ vững quyền tự chủ để đi đến hoàn toàn độc lập.

Ngày 15/6/1946, người lính cuối cùng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc rời khỏi Việt Nam. Các thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng minh hội đã lần lượt rút khỏi chính phủ Liên hiệp. Lãnh tụ đảng Việt Cách là Nguyễn Hải Thần và các thành viên Việt Quốc – Việt Cách khác trong chính phủ như Nguyễn Tường TamVũ Hồng Khanh và cánh thân Tưởng do Vũ Hồng Khanh lãnh đạo lưu vong sang Trung Quốc. Các đảng viên Đại Việt phần lớn vẫn ở lại Việt Nam chờ thời cơ. Nguyễn Tường Tam với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao dẫn đầu phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia Hội nghị trù bị tại Đà Lạt, nhưng do bất đồng đã không tham gia hầu hết các phiên họp, sau đó cũng không tham gia Hội nghị Fontainebleau, cuối cùng rời bỏ chính phủ. Tài liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định Nguyễn Tường Tam thiếu bản lĩnh chính trị, lập trường bấp bênh, biển thủ công quỹ rồi đào nhiệm sang nước ngoài Việc các thành viên chủ chốt của Việt Quốc, Việt Cách như Nguyễn Hải ThầnNguyễn Tường TamVũ Hồng Khanh rời bỏ chính phủ và đi sang Trung Quốc đã đánh dấu chấm hết cho thời kỳ hợp tác giữa Việt Minh và các đảng phái thân Trung Hoa tại miền Bắc, trong công cuộc “kháng chiến kiến quốc” mà Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến là biểu tượng.

Trong lúc đó, Võ Nguyên Giáp từng bước tìm cách loại bỏ dần các đảng phái thân Trung Hoa như Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt, những người Trotskist ủng hộ Pháp, lực lượng chính trị Công giáo thân Pháp,… Ngày 19/6/1946, Báo Cứu Quốc của Tổng bộ Việt Minh đăng xã luận kịch liệt chỉ trích “bọn phản động phá hoại Hiệp định sơ bộ Pháp Việt mùng 6 tháng 3“. Một trong những sự kiện nổi tiếng nhất trong chiến dịch truy quét các đảng phái đối lập là vụ án phố Ôn Như Hầu. Tướng Võ Nguyên Giáp bắt đầu chiến dịch truy quét các đảng phái đối lập bằng lực lượng công an và quân đội do Việt Minh kiểm soát với sự giúp đỡ của nhà cầm quyền Pháp. Ông Giáp cũng sử dụng các sĩ quan Nhật Bản trốn tại Việt Nam và một số vũ khí do Pháp cung cấp cho chiến dịch này.

Để thương thảo nhằm thực hiện tạm ước 6/3, Hồ Chí Minh dẫn một đoàn đại biểu sang Pháp nhưng khi đoàn tới nơi, chính phủ Pháp vừa đổ và phải mất hàng tuần cho một chính phủ mới ra đời. Cùng thời gian đó, hôm 1/6, sau khi Hồ Chí Minh lên đường sang Paris, cao ủy Pháp d’Argenlieu đã phá tan những gì Sainteny vừa đạt được. d’Argenlieu ra tuyên bố tại Sài Gòn về một Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ ly khai khỏi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Với một chính thể phụ thuộc vào Pháp như vậy, đã không còn chỗ cho một cuộc bỏ phiếu trưng cầu ý dân ở Nam Bộ. Hồ Chí Minh tức giận nói với Salan, người tháp tùng ông sang Pháp: “Các người vừa ngụy tạo ra một “Alsace – Lorraine” và chúng ta đã bị đẩy vào “Cuộc chiến tranh trăm năm”

Đánh giá của các bên có liên quan

Sau khi ký Hiệp định sơ bộ, trong cuộc mitting ngày 7/3/1946, Hồ Chí Minh giải thích về việc ký kết hiệp định “Chúng ta trên thực tế đã độc lập từ tháng 8/1945, nhưng cho đến nay chưa có cường quốc nào công nhận độc lập của chúng ta. Bản hiệp định ký với nước Pháp này mở đường cho sự công nhận của quốc tế. Bản hiệp định sẽ dẫn chúng ta đến một vị trí quốc tế ngày càng vững vàng và đó là một thắng lợi chính trị lớn lao. Quân đội Pháp sẽ đến theo lệnh của các nước Đồng Minh. Họ chỉ có 15000 người và chỉ ở lại trong 5 năm nữa, sau đó họ sẽ rút khỏi nước ta. Chọn thương lượng thay vì đánh nhau chính là bằng chứng hiểu biết về chính trị. Thực vậy, vì sao lại đi hy sinh 50 hoặc 100 ngàn người trong khi chúng ta có khả năng bằng con đường thương lượng mà đi đến độc lập có thể trong 5 năm“. Còn Võ Nguyên Giáp phân tích “Những người không thỏa mãn chỉ hiểu độc lập hoàn toàn như một khẩu hiệu, một nhật lệnh, trên giấy tờ hoặc ngoài cửa miệng. Họ không thấy rằng độc lập của đất nước là kết quả của những điều kiện khách quan và trong cuộc chiến đấu giành độc lập của chúng ta, phải biết cương nhu tùy lúc… Chúng ta đã chọn con đường thương lượng nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho công cuộc đấu tranh giành độc lập hoàn toàn, nhằm có thể đợi chờ cơ hội đi đến một nền độc lập nguyên vẹn“. Ngày 12/3/1946, bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Tường Tam tuyên bố “Trung Quốc và Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ cho hòa bình ở Viễn Đông… Trong lúc chờ đợi nước Pháp và nước Việt Nam lập lại được một nền hòa bình vững chắc, nước Mỹ phải giúp đỡ chúng ta về mọi phương diện hoàn toàn như Trung Quốc

Võ Nguyên Giáp cho rằng Hiệp định sơ bộ cũng giống Hòa ước Brest-Litovsk (năm 1918) giữa Đế quốc Đức và nước Nga Xô viết. Ông cho hay thỏa ước ngừng bắn này với Đức đã dừng được cuộc xâm lấn của Đức vào Nga, nhờ đó mà những người Xô viết đã củng cố lực lượng quân đội và chính quyền của mình. Theo Võ Nguyên Giáp, Hiệp định Sơ bộ là nhằm bảo vệ và củng cố được vị thế về chính trị, quân sự và kinh tế của Việt Nam và để chuẩn bị lực lượng kháng chiến, do Việt Nam chưa sẵn sàng về binh lực cho cho một cuộc kháng chiến lâu dài với Pháp. Đối với những ý kiến phê phán bản Hiệp định sơ bộ không chứa đựng từ “độc lập”, ông Giáp cho rằng những người phản đối không nhận thấy rằng độc lập của một quốc gia là kết quả của các điều kiện khách quan, và trong cuộc đấu tranh để giành độc lập toàn vẹn, phong trào giành độc lập phải biết ứng biến theo tình hình, sẽ có những thời điểm phải cứng rắn và những thời điểm thì lại phải mềm dẻo.

Về phần Hồ Chí Minh, ông đã chỉ ra một thực tế rằng dù Việt Nam giành được độc lập từ tháng 8/1945, nhưng chưa có nước nào xác lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Hiệp định Sơ bộ sẽ mở đường cho sự công nhận quốc tế, đồng thời hạn chế lực lượng của Pháp ở Việt Nam ở mức 15 ngàn quân, với thời hạn là 5 năm. Như vậy Việt Nam có thể giành độc lập từng bước không cần đổ máu. Đồng thời ông cũng tuyên bố: “Tôi, Hồ Chí Minh, đã cùng với đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước”.

Về phía Cao ủy Pháp, Đô đốc d’Argenlieu và những người theo chủ trương của Thống chế de Gaulle – phe chủ chiến, Hiệp định này được coi như “Hiệp ước Munich của Pháp”. Họ không thực tâm muốn hòa bình mà chỉ coi bản Hiệp ước là một bước lấn tới (điều quân Pháp ra miền Bắc), rồi sau đó sẽ sử dụng sức mạnh vũ trang để tái chiếm Việt Nam làm thuộc địa.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://nld.com.vn/thoi-su/clip-chu-tich-nuoc-nguyen-xuan-phuc-dang-huong-tuong-niem-cac-vua-hung-20210421102605675.htm

(NLĐO)- Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cùng các vị Lãnh đạo Đảng, Nhà nước dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng, tưởng nhớ, tri ân công đức tổ tiên đã có công dựng nước trong ngày giỗ Tổ Hùng Vương sáng 21-4 (tức ngày 10-3 âm lịch).

Sáng nay 21-4 (tức 10-3 âm lịch), tại điện Kính Thiên trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh thuộc Khu Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đền Hùng (tỉnh Phú Thọ), thay mặt đồng bào cả nước, tỉnh Phú Thọ tổ chức trọng thể Lễ dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng, tưởng nhớ, tri ân công đức tổ tiên đã có công dựng nước.Current Time0:07/Duration0:32Auto

Video clip Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương Đền Hùng

Tham dự Lễ dâng hương Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2021 có Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc; Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng; Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai; Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Đỗ Văn Chiến; cùng các lãnh đạo Bộ, ban ngành Trung ương; đại biểu các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Sơn La, Thái Nguyên, Hòa Bình, Yên Bái, Cao Bằng, Điện Biên, Lai Châu.

Về phía tỉnh Phú Thọ có Bí Thư Tỉnh ủy Bùi Minh Châu; Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Văn Quang; Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Hoàng Công Thủy; Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hồ Đại Dũng cùng các lãnh đạo ban ngành tỉnh…

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 2.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cùng đoàn ban Lãnh đạo Đảng, Nhà nước dâng hương

Trong giờ phút thiêng liêng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tỉnh Phú Thọ… đã thành kính dâng hương, hoa, lễ vật tưởng nhớ, tri ân công đức của các Vua Hùng đã có công dựng nước, cầu cho xã tắc thịnh vượng, quốc thái dân an, bách gia trăm họ vạn đại trường tồn, đất nước ngày càng vững mạnh, hùng cường.

Trước anh linh các Vua Hùng, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Bùi Văn Quang, Chủ lễ Giỗ Tổ, đọc Chúc văn bày tỏ lòng tự hào, biết ơn công đức tổ tiên; ôn lại và tự hào về truyền thống dựng nước, giữ nước vẻ vang của dân tộc Việt Nam; kính cáo trước anh linh các bậc tiền nhân về những thành tựu to lớn mà đất nước đạt được trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế.

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 3.

Đoàn rước kiệu có mặt từ rất sớm để chuẩn bị cho buổi lễ

Bên cạnh thời cơ, vận hội mới đang mở ra, đất nước ta gặp khó khăn, thách thức không hề nhỏ, thế hệ con cháu Lạc Hồng xin nguyện tiếp nối truyền thống Tiên Rồng phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết vượt qua mọi khó khăn; phát huy sức mạnh, trí tuệ tổng hợp, tập trung chỉ đạo quyết liệt hơn, đổi mới sáng tạo hơn, đưa đất nước trở nên giàu mạnh, hùng cường, làm rạng danh cơ đồ dân tộc và mãi khắc ghi lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Con cháu Lạc Hồng cầu mong Thánh Tổ phù hộ mưa thuận, gió hòa, nhân khang, vật thịnh; dịch bệnh, nhất là đại dịch Covid-19, được đẩy lùi, xã tắc thịnh vượng, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Con cháu Lạc Hồng trên khắp mọi miền đất nước và kiều bào ta ở nước ngoài có cuộc sống an khang, thịnh vượng. Các tỉnh, thành phố trong cả nước thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026.

Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng năm 2021 được tổ chức trang nghiêm, thành kính, an toàn, tiết kiệm; đồng thời bảo đảm các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19; mang tính cộng đồng sâu sắc gắn với các hoạt động nhằm tôn vinh giá trị văn hóa thời đại Hùng Vương.

Một số hình ảnh Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo Đảng, Nhà nước dâng hương tưởng niệm các vua Hùng:

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 4.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc vẫy tay chào người dân đến hành hương

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 5.

javascript:if(typeof(admSspPageRg)!=’undefined’){admSspPageRg.draw(2011253);}else{parent.admSspPageRg.draw(2011253);}https://api.dable.io/widgets/id/6XggQDXN/users/45328671.1618299695071?from=https%3A%2F%2Fnld.com.vn%2Fthoi-su%2Fclip-chu-tich-nuoc-nguyen-xuan-phuc-dang-huong-tuong-niem-cac-vua-hung-20210421102605675.htm&url=https%3A%2F%2Fnld.com.vn%2Fthoi-su%2Fclip-chu-tich-nuoc-nguyen-xuan-phuc-dang-huong-tuong-niem-cac-vua-hung-20210421102605675.htm&ref=https%3A%2F%2Fwww.google.com.hk%2F&cid=45328671.1618299695071&uid=45328671.1618299695071&site=nld.com.vn&id=dablewidget_6XggQDXN&category1=Th%E1%BB%9Di%20s%E1%BB%B1%20trong%20n%C6%B0%E1%BB%9Bc&ad_params=%7B%7D&item_id=20210421102605675&pixel_ratio=1&client_width=765&network=non-wifi&lang=en&is_top_win=1&top_win_accessible=1

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 6.

Khoảng 7 giờ sáng 21-4, buổi lễ bắt đầu

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 7.

Đoàn rước kiệu di chuyển lên đền Thượng

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 8.

Trong ngày 21-4, tiết trời mát mẻ, việc rước kiệu diễn ra thuận lợi

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 9.

Hàng trăm thanh niên đại diện cho con Lạc, cháu Hồng cầm cờ di chuyển lên đền Thượng

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 10.

Nghi thức được diễn ra trang trọng và thành kính

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 11.

Rất đông người dân có mặt

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 12.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cùng đoàn ban Lãnh đạo Đảng, Nhà nước lên dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 13.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cùng đoàn ban Lãnh đạo Đảng, Nhà nước thực hiện nghi thức trên đền Thượng

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 14.
CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 15.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc thành kính dâng hương

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 16.
CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 17.
CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 18.

Chủ tịch UBND TP Hà Nội Chu Ngọc Anh thành kính dâng hương

Ngô Nhung

Những hình ảnh lịch sử ngày 30 tháng tư năm 1975

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

  1. Miền Nam Việt Nam – 30/4/1975

    Tại Ban Mê Thuột



  1. * 2 giờ 20 sáng ngày thứ hai – 10 tháng 3 năm 1975, quân cộng sản bắc việt bắt đầu nã pháo đại bác 130 ly, hỏa tiển 122 ly vào các cứ điểm quân sự và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu .

    * 4 giờ chiều ngày thứ hai – 10 tháng 3 năm 1975, quân cộng sản bắc việt chiếm thị xã Ban Mê Thuột, ngoại trừ khu vực Bộ tư lệnh sư đoàn 23 bộ binh còn được trấn giữ…

    * 6 giờ chiều ngày 10 tháng 3 năm 1975, trận chiến giữa Việt Nam Cộng Hòa và cọng sản bắc việt được coi như kết thúc.

    Thành phố bây giờ như một bãi tha ma, chứa đầy tử khí. Những đống tro tàn của nhiều khu phố bị cháy, bụi khói và gạch vụn gợi cho người ta cái cảm xúc của một chiến trường tàn cuộc lạnh lẽo rợn người”. (Nguyễn Định, BMTNĐCC.) – theo nguồn Quốc Gia Hành Chánh

Chiều ngày 10 tháng 3 năm 1975 Ban Mê Thuộc thất thủ

2. Tại Quảng Trị và Huế



Trên đèo Hải Vân

Ngày 18 tháng 3 năm 1975, người dân ở Huế, lũ lượt kéo vô Đà Nẵng để lánh nạn. Dòng người di tản ồ ạt chật cả đường phố. Xe nghẹt cả đèo Hải Vân, đứng dưới đèo nhìn lên thấy một dòng xe ngoằn ngoèo

Ngày 20 tháng 3 năm 1975 hàng mấy ngàn người dân già trẻ lớn nhỏ ở HUẾ ghồng ghánh ẳm bồng con cái chạy trốn cộng sản cã trăm cây số trên quốc lộ 1 vì họ còn ám ảnh nặng nề của năm Mậu Thân 1968 và Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Ngày 21 tháng 3 năm 1975, cọng sản đã cắt đứt quốc lộ 1 ở Truồi, giữa Huế & Đà Nẳng . cọng sản đang đống chốt ở đèo Phú Gia, có nhiều người dân di tản trên đoạn đường này bị chết.

Dân chúng di tản trên quốc lộ 1 từ Huế hướng về Đà Nẵng và cọng sản đả pháo kích trúng những vào những người dân đang di tản họ chết nằm bên lề đường, người sống bị thương nằm, ngồi la liệt .

Những người Lính Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa trên đường rút quân vô Đà Nẵng và đang kẹt trên đèo Hải Vân với dân chúng di tản .

























Ngày 21 tháng 3 năm 1975 nguyên gia đình bị cọng sản bắn chết ở quốc lộ 1,
gần đèo Hải Vân đang trên đường di tản

Người phụ nữ này 1 mình dẩn mấy đứa con chạy nạn từ Huế đang ngồi trên đèo Hải Vân với nổi lo âu































Chiếc xà lan quân vận vùng 1, di tản Quân & Dân chuyến cuối cùng từ Thuận An




Ngày 26 tháng 3 năm 1975 Quảng Trị và Huế đã thất thủ


Tại Đà Nẵng

Ngày 27-28 tháng 3 năm 1975, người Đà Nẳng chạy trốn cộng sản



Ngày 27 – 3 – 1975 Chuyến máy bay dân sự đầu tiên của Mỹ mướn đáp xuống phi trường Đà Nẵng để đưa người di tản,
nhưng mỗi khi máy bay đáp xuống những hỗn loạn diễn ra dữ dội. Nên các chuyến bay dân sự đó phải đình chỉ.






Sau đó thay đổi bằng 4 máy bay C-130 nhưng hỗn loạn vẩn liên tục nên 4 chiếc này
chỉ cất cánh duy nhất được một lần vào ngày 29-3-1975








Ngày 27 tháng 3 năm 1975 tại bến tàu Đà Nẵng












Cảng Đà Nẵng, trong giờ phút hấp hối .

Người dân chạy trốn cọng sản được câu lên tàu SS. Pioneer Contender




CUỘC DI TẢN CỦA KHÔNG QUÂN VNCH hay Ngày Chim Vỡ Tổ

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Bảy Năm Phục Vụ Không Quân Việt Nam Cộng Hòa 1968-1975 của Đào Hiếu Thảo –  PEN Vietnam

Ngày Chim Vỡ Tổ:

Tập ‘Quân sử Không Quân’ trang 199 ghi lại: ‘Về Không Quân VNCH, ngoài một số nhỏ quân nhân và gia đình được di tản bằng phi cơ C130, C141 của KQHK từ ngày 20/4, đa số còn lại chỉ di tản sau ngày 28/4/1975, khi Bộ Tư lệnh KQ không còn hoạt động theo đúng chức năng của một Bộ Tư lệnh nữa.

Số lượng phi cơ của KQVN bay thoát được sang Utapao, Thái Lan, do các tác giả đưa ra, không thống nhất, theo Robert Miskesh trong ‘Flying Dragons: the South Vietnamese Air Force thì tổng cộng vào khoảng 132 chiếc, gồm khoảng 25 F-5, 27 A-37, 11 A-1, 13 C-47, 6 C-130, 3 AC-119, 5 C-7 và 45 UH-1., theo Wayne Muntza trong “The A-1 Skyraider in Viet Nam”: The Spad’s Last War, và Ralph Wetterhahn trong ‘Escape to Itupao thì con số máy bay được cho là 165 chiếc, thêm vào đó là các U-17 và O-1, ngoài ra không kể vài phi cơ dân sự của Air VN.

Cũng vào ngày cuối cùng, một số trực thăng đã bay ra đáp xuống các chiến hạm của HQHK, con số này được ước lượng là khoảng 100 chiếc, đa số là UH-1 và CH-47. Cũng có những chiếc tuy bay được ra biển nhưng do trục trặc kỹ thuật, hoặc hết nhiên liệu đã rớt xuống biển. Con số này được ước lượng là khoảng 18 chiếc.

37 năm sau ngày 30/4/1975, các tài liệu quân sự được giải mật và những bài hồi ký, bút ký của nhiều tác giả trong cuộc đã giúp ‘vẽ lại’ toàn cảnh (có thể chưa hoàn toàn chính xác) về cuộc di tản hay đúng hơn là ‘tự tan hàng’ của KQ VNCH.

Cuộc di tản chiến thuật, rút bỏ Quân Đoàn II vào ngày 6/3/1975 đã bỏ lại tại Pleiku 64 phi cơ các loại.

Ngày Quân Đoàn I tan hàng tại Đà Nẵng (30/3/1975), 180 phi cơ đã bị bỏ lại, trong số này có 33 phi cơ vận tải C-7 Caribou đang bị đình động còn bọc kin trong bao tồn trữ.

Trong những tháng cuối cùng của cuộc chiến, khả năng chiến đấu của KQ VNCH càng ngày càng bị giới hạn do không còn một hệ thống chỉ huy và kiểm soát hữu hiệu. KQ VNCH không có những phi cơ trang bị hệ thống chỉ huy, dẫn đạo không trợ bay trên vùng cần yểm trợ hành quân (theo phương pháp của KQ HK: dùng các C-130 làm trạm chỉ huy trên vùng). Trong khi đó sự kiện bị mất các đài Kiểm Báo và Không Trợ như Trung Tâm CRC (Combat Report Center), Panama Đà Nẵng, các Trạm CRP (Combat Report Point) Peacock PleiKu, Pyramid Ban Mê Thuột đã khiến Hệ thống Kiểm Báo Chiến Thuật trở thành tê liệt, vô hiệu. Tuy Trung Tâm CRC Tân Sơn Nhất vẫn còn hoạt động nhưng nhiệm vụ chinh lại không phải là để điều hành các phi vụ yểm trợ chiến trường, hoặc hướng dẫn oanh tạc các mục tiêu dưới đất. Các phi vụ oanh tạc tùy thuộc vào các phi cơ quan sát FAC (Forward Air Controller = Điều Không tiền tuyến) và tùy phi công có mặt trên vùng, nhận định mục tiêu bằng mắt thường.

Vào thời điểm của trận Xuân Lộc: KQVNCH còn 1492 phi cơ các loại, trong đó có 976 chiếc hoạt động được, 135 chiếc hư hỏng không bay được và 381 chiếc kể như phế thải. Lực lượng phi cơ chiến đấu gồm 169 chiếc A-37 (trong đó 92 chiếc khả dụng) và 109 F-5s (93 chiếc khả dụng).

Những phi vụ hành quân cuối cùng của KQ VNCH trên không phận Sài Gòn:

Trong những ngày cuối cùng của VNCH, KQVN vẫn còn hoạt động với một số phi vụ yểm trợ bộ binh và chống pháo kích. Đ/úy phi công Trần văn Phúc PĐ 518 ghi nhận một số phi xuất trong những ngày 28 và 29/4 như:

PĐ 518 với phi vụ Phi Long 51 do một phi tuần gồm 2 Skyraiders (một do Đ/úy Phúc và một do Th/tá Trương Phùng) bay vào sáng 29/4. Phi cơ của Th/tá Phùng bị phòng không cộng quân bắn hạ. Ông đáp xuống ruộng gần cầu Bình Điền, bị bắt và sau đó bị cộng quân hành quyết vào ngày 30/4.

PĐ 514 với một phi tuần 2 Skyraiders cất cánh từ Cần Thơ để bay trên không phận Sài gòn vào sáng 29, do các Th/tá Hồ ngọc Ân và Đ/úy Nguyễn Tiến Thụy điều khiển.

Những phi vụ Tinh Long của các AC-119 như Tinh Long 06, Tinh Long 07:

Tinh Long 07 (sáng 29/4) do Tr/úy Trang văn Thành điều khiển đã bị SA-7 của cộng quân bắn hạ, phi cơ gẫy làm đôi và rơi ngày tại vòng đai phi trường. Phi hành đoàn gồm 9 người, 8 hy sinh ngoại trừ nhân viên nhảy dù thoát được.

Theo Đ/úy Phúc: ‘Ngoài Tinh Long 07, còn có thể có thêm 2 AC 119 khác bị bắn hạ (?) (một rơi tại đường Ngô Quyền và một rơi tại Tân Tạo)’.

Sáng 30/4, một phi xuất A-37 (Tr/úy Nguyễn Mạnh Dũng PĐ 526 lái) từ Cần Thơ, phối hợp với O-1 (Đ/úy Mai Trí Dũng PĐ112 lái) từ Đồng Tâm, bay yểm trợ khu vực Hoàng Hoa Thám ngay trước giờ Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng. Đây có thể là phi vụ hành quân cuối cùng của KQ VNCH.

(Xin xem bài: Những Phi vụ hành quân sau cùng của KQ VNCH, của Trần Lý)

Những giờ phút cuối cùng tại Bộ Tư lệnh KQVNCH
Chiều 28/4, CSBV đã dùng 4 A-37 (lấy được từ Phan Rang) oanh kich phi trường TSN, gây tổn hại cho 3 chiếc C-119 và nhiều C-47.

Tối 28/4: một sự kiện ‘kỳ lạ’ đầy bí ẩn đã xẩy ra tại TSN: Tác giả Thiên Lôi Ngô Đức Cửu trong ‘Chuyện 30 năm trước’ (website bgkq.net/hoiky) ghi lại như sau:

… ‘8 giờ tối 28/4/1975, tôi trở về ụ đậu phi cơ đầu phi đạo 07 phải, nơi tạm trú của 3 Phi đoàn 524, 534 và 548 di tản từ các căn cứ về. Bước xuống xe, tôi thấy các nhân viên phi đạo đang bận rộn kéo các A-37 trang bị đầy bom đạn từ trong vòm trú ẩn ra đậu hàng ngang dài phía trước, cách ụ 50 feet. Tôi bước đến hỏi trưởng phi đạo tại sao dời phi cơ khỏi ụ ? Anh ta trả lời: “Theo lệnh Trung tá kỹ thuật và Bộ CH Hành quân.” Tôi vào phòng trong ụ, nhắc điện thoại gọi Trung tâm Hành quân, thì sĩ quan trực cho biết hình như lệnh của Bộ Tư lệnh KQ hay Bộ TTM gì đó ? Tôi hỏi: “Anh có biêt là hồi chiều phi đạo 07 vừa bị dội bom không ? Tôi liên lạc với Đ/tá Ước, nhưng không được. Trở lại bãi đậu, tôi yêu cầu trưởng phi đạo di chuyển phi cơ trở lại ụ nhưng không được.

Tôi tự hào trong hàng ngũ phi công khu trục KL VNCH, nhất là Không Đoàn 92 có các PĐ 524, 534, và 548 cho đến giờ phút này, 22 giờ 18 tối 28/4,  tât cả phi công đều có mặt ứng chiến, không thiếu một ai.

Suốt đêm tất cả anh em 3 phi đoàn chờ đợi, điều động cất cánh nhưng tuyệt nhiên không một tiếng điện thoại reo.

Nửa đêm, VC bắt đầu pháo kích và hơn 50 chục A-37 bị phá hủy. Giờ đây hơn trăm phi công chiến đấu bằng tay không ư?

6 giờ 15 sáng 29/4, tất cả phi công lên xe chạy về Bộ Chỉ huy KĐ 33. Đ/tá Thảo chạy vào rồi chạy trở ra. Đến nơi các phòng vắng lặng, không còn ai cả. Trở lại sân cờ KĐ 33, Đ/tá Thảo tuyên bố tạm thời tan hàng, anh em rán tự tìm lấy phương tiện di tản.

Mọi người xuống xe, nhưng chạy về đâu bây giờ ? Tan hàng, nghe thảm thiết quá. Một trong những đơn vị chiến đấu kiên cường nhất của QL VNCH, giờ đang bị bó tay. Lệnh ai cho sắp trên 50 chiếc A-37 hàng ngang, cánh liền cánh, xăng nhớt bom đạn trang bị đầy đủ để hủy diệt? Nếu không cho chúng tôi chiến đấu thì cũng để chúng tôi có phương tiện ra khỏi phi trường chứ ? Chúng tôi đâu có rã ngũ. 

Sự kiện phi cơ bị ‘tự hủy'(?) này cũng được ghi nhận trong ‘Can trường trong Chiến bại’ của Tướng Hải Quân Hồ văn Kỳ Thoại, trang 306-307′ như sau:

… ‘Tới đêm 28/4, tại căn cứ Duyên đoàn ở Vũng Tàu, một sĩ quan KQ cấp tá xin vào gặp tôi và cho biết có một số trực thăng đang đậu tại Vũng Tàu, có Tướng Huỳnh Bá Tính, Sư đoàn trưởng SĐ 3 KQ muốn đến gặp tôi, cần trình bầy một sự kiện quan trọng.

Tướng Tính vào căn cứ duyên đoàn gặp tôi và các tướng lãnh khác (Nguyễn duy Hinh, Trần văn Nhựt…) kể chuyện xẩy ra, rất bi thảm Ông không biết lịnh từ đâu… bỗng nhiên một số phi cơ phát nổ, sau đó được biết có lệnh của Saigon, cho phá hủy các phi cơ của KQ ?

Tướng Tính phân vân, không muốn về trình diện Bộ TLKQ khi ông chưa biết ai ra lệnh hủy phi cơ thuộc SĐ của ông ? Chúng tôi thuyết phục ông Tính liên lạc trực tiếp với Tướng Minh Tư Lệnh KQ.

Đêm 28 rạng sáng 29/4, cộng quân bắt đầu pháo kích vào phi trường TSN, phá hủy nhiều phi cơ.

Khoảng 8 giờ sáng, Tướng Phan Phụng Tiên, Sư đoàn trưởng SĐ5 KQ, đến gặp Tướng Minh, và sau đó bỏ đi.

10 giờ 30 phút sáng 29/4, sau khi họp riêng với Tướng Minh Tư lệnh KQVN, Tướng Nguyễn Cao Kỳ (không có một chức vụ chính thức nào trong Chính Phủ cũng như trong Quân lực VNCH) bay trực thăng riêng về Bộ TTM. Thấy không còn ai. Tướng Kỳ gặp Tướng Ngô Quang Trưởng đang ngồi không nên rủ Tướng Trưởng lên trực thăng, theo đoàn tùy tùng bay ra USS Midway đang đậu ngoài khơi Vũng Tàu.

Khoảng 11 giờ, Trung tướng Nguyễn văn Mạnh Cựu TMT Liên quân cùng với Trung tướng Dư Quốc Đống vào gặp Tướng Minh. Không thấy HK liên lạc như đã dự trù, Tướng Minh cùng các tướng tá Bộ binh và KQ tùy tùng đã di chuyển sang DAO để chờ di tản.

Từ 1 giờ trưa, Trung Tâm Hành quân KQ coi như bỏ trống. Các Phi đoàn trưởng ra lệnh tan hàng. Phi công bay đi đâu hoặc chạy đâu, tự ý quyết định.

Riêng SĐ 4 KQ tại Trà Nóc Cần Thơ, còn hoạt động (cho đến sáng 30/4 một số phi vụ vẫn từ Cần Thơ bay lên yểm trợ chiến trường quanh Sài Gòn) và Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Tần, Sư đoàn trưởng có thể được xem là vị Tư lệnh sau cùng của KQ VNCH (?)

Trong bài bút ký ‘Giây phút nát lòng’ (Lý Tưởng Tháng 4/2002) Tác giả Không Quân Liệt Lão, Chỉ huy trưởng Phòng vệ BTLKQ đã kể lại những giây phút tan hàng tại Tân Sơn Nhất với những đoạn tạm trích như sau:

… ‘ Tôi lên trình diện Tư lệnh bộ, toan phúc trình tình hình phòng thủ, nhưng chẳng ai bận tâm. Người người nhìn nhau đăm chiêu dường như trong thâm tâm ai cũng muốn buông rơi tât cả. Ai cũng thần sắc không còn, dũng khí tiêu tan như ‘đại bàng xệ cánh’. ‘Tôi trông chờ một lệnh họp khẩn cấp, duyệt xét tình hình chung, lấy quyết định tối hậu ‘Chiến’ hay ‘lui’ Chiến thì chiến ra sao ? Lùi thì lùi thế nào ? Có tuần tự, trước sau, không bỏ một ai hay hỗn loạn mạnh ai nấy chuồn ? Tôi chờ lệnh, nhưng không có lệnh!

Bài viết có thêm những chi tiết di tản của một số Tướng KQ và BB như:

… ‘ Tôi đưa tay chào nghiêm túc theo quân cách, Cửu Long (danh hiệu của Tướng Minh, Tư lệnh KQ), chào trả, ngập ngừng chân bước, ái ngại nhìn tôi và đột nhiên dứt khoát:
– Toa ở lại, đi sau với Lành (Tướng Võ Xuân Lành) nghe.

… ‘ Tôi mỉm cười, quay bước vào phòng tình hình, lúc này chỉ còn ông Linh, ông Lành. Ông Lượng đã đi đâu lúc nào tôi không biết. Được một lúc khoảng 10 giờ gì đó, Đ/Tá Vũ văn Ước đáp trực thăng trên sân banh, chạy vội vào gặp ông Lành, xong cùng ông Lành trở ra, kéo luôn theo tôi, miệng nói:
– Đi mày.
Tôi nhìn Lành, quay qua hỏi Ước: – Đi đâu ?
– Qua Tổng Tham Mưu (TTM) xem tìmh hình ra sao ?
Ước nói và nắm tay tôi lôi đi. Tôi, Ước, và Linh lên trực thăng qua đáp tại sân cờ trươc tiền đình Bộ TTM. Linh và Ước chạy lên văn phòng TTM trưởng.Tôi không theo.

Đảo mắt chỗ khác thấy trực thăng Tướng Kỳ. Đàn em trước kia của tôi hiện là cận vệ ông Kỳ, từ trực thăng nhảy xuống, chạy đến tôi nói nhỏ: – Trực thăng sẽ bay ra Blue Ridge. Ông hảy lên, cùng đi.Tôi hỏi: – Tướng đâu ?- Họp trên văn phòng TTM Trưởng.

Tôi bước lại trực thăng, nhìn vào thấy Đ/tá Hà Xuân Vịnh ngồi trên đó từ hồi nào. Tôi leo lên ngồi cạnh. Đang miên man suy nghĩ cho mạt vận của đất nước, mạt kiếp của mình thì ông Linh từ bộ TTM chạy ra một mình đến bên trực thăng có tôi và Vịnh đang ngồi đăm chiêu, mỗi người một ý nghĩ. Ông Linh cứ loanh quanh ở dưới chẳng chịu lên. Tôi vội leo xuống, lại gần Linh nhỏ to: ‘ Linh! Kỳ sẽ rút ra Đệ Thất hạm đội. Lên đi, hết cách thôi.’
Linh có điều gì bất ưng, nhất định không lên tàu.Tôi hỏi: Sao ? Linh nói: “Thiếu gì máy bay.” Tôi vội báo động: “Máy bay nào ? Còn duy nhất chiếc này thôi.” “Chiếc kia kìa.” Linh vừa nói vừa chỉ tay về chiếc trực thăng mà tôi, Ước và Linh vừa đáp hồi nẫy. “Tàu còn đó, hoa tiêu bỏ đi rồi.” Tôi nói với Linh vì thấy họ phóng xe jeep ra khỏi TTM.
Linh nhất định không lên tàu. Tôi đành ở lại bên anh. Tôi còn đang phân vân bàn thảo với Linh những bước kế tiếp thì ông Kỳ từ đại sảnh bộ TTM bước ra, đi về hướng trực thăng và dẫn theo số đông tướng lãnh, bay đi cùng Ước, để lại tôi và Linh tự quyết định lấy phận mình.

Tôi và Linh, cùng với Đặng Duy Lạc (Đ/tá Không Đoàn trưởng KĐ 62) không biết từ đâu chui ra, yêu cầu Quân Cảnh TTM hộ tống chúng tôi về lại Bộ TL KQ. Xe rồ máy phóng đi trực chỉ cổng Phi Long.

Tinh cầu trên vai, Linh cho lệnh mở cửa. Quân ta phớt tỉnh… không nghe. Đặng Duy Lạc vẫn ngồi yên như khúc gỗ. Tình hình thực gây cấn. Thấy ông Linh hết ‘linh’, tôi bước xuống xe tiến thẳng đến chỗ anh KQ bất tuân thượng lệnh, điềm đạm ra lệnh mở cổng. Anh líu ríu vâng lời.

Chúng tôi vào Bộ Tư lệnh KQ gặp ông Lành. Niềm tự hào của KQ đang ở chỗ này: Tướng Lành trước thế quân tan vỡ, quân binh đang đua nhau bỏ ngũ, ông vẫn trầm tĩnh, kiên trì thủ đài Chỉ huy Hành quân Chiến cuộc KQ. Ông giữ vững liên lạc với SĐ 4 KQ, SĐ KQ duy nhất còn hăng say chiến đấu trong khi nhiều đơn vị đã tự ngừng nghỉ.

Ông Linh tóm lược tình hình bên Bộ TTM cho ông Lành rõ. Ông Linh đề nghị rút khỏi Tân Sơn Nhứt. Tướng Lành nói với Linh trươc sự hiện diện của tôi và Đặng Duy Lạc:
– Moa chưa có lệnh..
Ông vẫn đợi lệnh. Chúng tôi vẫn đợi, vẫn chờ… nhưng chờ lệnh ai đây ? Mọi người đã bỏ đi cả rồi, tội cho ông Lành vẫn ngồi chờ lệnh, mà lệnh của ai đây ? Tôi buột miệng:- Ông chờ lệnh ai ? Còn ai đây nữa mà ra lệnh cho mình?Ông Lành trầm ngâm không nói, chúng tôi lặng yên chờ (lại chờ) quyết định của ông, chợt Tướng Lê quang Lưỡng (Nhảy dù) xịch xe jeep đến, thấy tụi này còn đương nhìn nhau, hỏi:- Tụi toa định làm gì đây ?Ông Lành ngượng nghịu chưa biết phải nói sao cho đỡ khó nói? Tôi nhìn thẳng Tướng dù nói nhanh:- Tụi này zulu đây. Ông có theo thì cùng đi ?- Zulu ? Zulu bỏ mấy đứa con (ý nói quân dù) lang thang. Sao đành!
Ông Lành hỏi:- Toa còn mấy đứa con ?- Sáu đứa chung quanh đô thành.

Lúc này trực thăng TQLC Mỹ đổ bộ và bốc người loạn cào cào trên không phận SàiGòn. Tôi đỡ lời ông Lành:- Tân sơn Nhất không giữ được. Không Quân chúng tôi phải rút khỏi tầm pháo địch trước đã.Ông Lưỡng vội hỏi: – Tụi toa định rút đi đâu ?Tôi nhanh nhẩu: – Có thể vùng 4… Có thể đi luôn!- Chờ moa một chút, cho moa về thu xếp với mấy đứa con cái đã.
Nói xong, ông Lưỡng lên xe jeep về sư đoàn Dù.

Trong khi chờ Tướng Dù trở lại, các sĩ quan cấp Không đoàn và Tham mưu Bộ Tư lệnh KQ hiện diện cùng với một số binh sĩ thuộc Tổng hành dinh KQ vội tập họp quanh chúng tôi tại tiền đình Bộ TL nghe ngóng tình hình. Tôi nói thẳng:- Dưới áp lực của pháo Cộng, Bộ TLKQ buộc phải rút khỏi đây. Ai muốn đi theo, hãy sẵn sàng. Kể từ giờ phút này, các anh không còn trách nhiệm gì với KQ nữa. Các anh có thể rời đơn vị, lo cho sự an nguy của vợ con càng sớm càng tốt.

Cùng trong lúc đó, Tướng Dù đã trở lại. Chúng tôi thảo luận kế rút đi. Sau k hi xét kỷ lại nghề bay trong chúng tôi, không có ai là hoa tiêu vận tải. Tướng Lành, Thảo nâu, Duy Lạc… đều là hoa tiêu phóng pháo. Ông Linh đề nghị qua DAO. Tôi hỏi nhỏ ông Linh: – SĐ 5 KQ thì sao ? Linh thở dài trả lời:
– Các hoa tiêu đã tự ý rút cả rồi.Sau phút suy tính, vị chỉ huy đoạn hậu BTLKQ cho lệnh rút. Tất cả lên 3 xe jeep trực chỉ cơ quan DAO. Tới cổng DAO, một dân sự Mẽo, mặc áo giáp, M17 cầm tay chặn lại và hách dịch ra lệnh:- Generals only.

Hai Tướng KQ, một Tướng Dù bước vào trong hàng rào kẽm gai. Tôi lắc đầu quay ra, tự tay gỡ kẽm gai bước khỏi vùng phân ranh Mỹ-Việt. Anh Mẽo gác cửa chẳng hiểu tại sao cái anh phi hành đã vào rồi lại bỏ ra trong khi nhiều người muốn vào lại không được.

Tác giả sau đó, cùng một số sĩ quan cấp Tá quay lại BTL KQ để tìm phương cách khác tự di tản.

(Ghi chú: Danh sách một số Tướng, Tá và chức vụ tại Bộ TLKQ, trong những ngày cuối cùng của VNCH

  • Trung Tướng Trần văn Minh, Tư lệnh KQVN
  • Thiếu Tướng Võ Xuân Lành, Tư lệnh phó
  • Chuẩn Tướng Võ Dinh, TM Trưởng
  • Ch/Tướng Đặng Đình Linh, TM Phó Kỹ thuật/Tiếp vận

Bác sĩ Phạm gia Lữ trong bài ‘Tân sơn Nhất trong giờ hấp hối’ (Lý Tưởng, tháng 4/2002) kể lại một số diễn biến tại Trung Tâm Y Khoa KQ..với nhiều tiết khá chua chát của một đơn vị hầu như bị… bỏ quên ?

…’Chiều thứ Hai 28/4, lệnh giới nghiêm 24/24 bắt đầu. Cổng Phi Long đóng cửa. Phi trường TSN vừa bị A-37 oanh kích trước đó.

Khoảng nửa đêm, Th/t L. nhào vào bô bô nói: – Tình hình thế này mà các cậu ngủ được thì lạ thật. Đàn anh biến đi đâu hết rồi.(hắn ám chỉ các anh lớn của KQ). Họ đang lập cầu không vận đi Côn Sơn kia kìa. SĐ5 KQ đang tổ chức di tản cho thân nhân binh sĩ thuộc sư doàn đi Côn Sơn.

Đêm 28/4, CQ pháo kich vào phi trường gây thiệt hại cho nhiều máy bay.

Khoảng 7 giờ sáng 29/4, trong lúc quanh quẩn tại BCHHKQ, tôi gặp Đ/tá H Giám đốc Trường Chỉ huy và Tham mưu Trung cấp KQ trước cửa văn phòng ông, vẻ buồn bã lộ trên nét mặt. Tuy thuộc cấp chỉ huy nhưng không có cánh, máy bay không có trong tay, nên cũng chẳng xoay sở gì được. Đ/tá Th. Chỉ huy trưởng Trung Tâm Kiểm báo, cũng là người rất kỷ luật, cứ nằm lỳ trong đơn vị để làm gương cho thuộc cấp nên cũng bị kẹt trong cơn hấp hối của TSN.

Khoảng 10 giờ, cùng Th/t Vũ BH thuộc trường CH/TM lái xe đi thăm tình hình.Trên đường chạy ra phi đạo, một dẫy dài xe hơi bỏ trống, nối dài từ cửa chính vào văn phòng Tư lệnh ra đến ngoài đường. Tôi gặp chiếc Falcon màu vàng nhạt của Th/tá Khoa (đen), vẫy tay ra hiệu cho anh ngưng lại và hỏi: – Đi đâu bây giờ ?Khoa trả lời vắn tắt: – Theo moa.Vừa khỏi vòng rào BTL, Khoa quẹo phải rồi quẹo trái, thì ra anh ở nhà cũ của LCK. Sau khi vợ con hành lý lên xe, chúng tôi nối đuôi nhau trở ra phi đạo. Trạm canh ra phi đạo không còn quân cảnh canh gác.

Bay đi Utapao:

Để thoát khỏi Việt Nam, các phi cơ vận tải, phản lực nếu đủ nhiên liệu có thể tự bay sang Singapore ( 590 miles về phia Tây-Nam) hoặc gần hơn là sang Utapao, Thái Lan (350 miles phia Tây-Bắc). Đa số các phi cơ vận tải và phản lực đã chọn Utapao, chỉ một số rất ít C-130 bay đến Singapore.

Bài viết chinh thức về cuộc di tản của các phi cơ VNCH đến Utapao trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến VN: Escape to Utapao của Tác giả Ralph Westerhaan đã được đăng trên Tập san Air and Space/ Smithsonian Số Dec-Jan 1997.

… ‘ Vài ngày trước khi có cuộc di tản của KQVNCH ra khỏi Sài gon, Tướng KQHK Harry Aderholt, Chỉ huy trưởng Phái bộ Quân viện HK tại Thái Lan (MAC-Thai) đã gửi Đại úy KQ Roger L YoungBlood bay đến Phi trường Trat, nằm sát biên giới Thái-Miên. Bay trên một chiếc phi cơ AU-23 của Không lực Thái Lan (AU -23 là một phi cơ cải biến từ loại Pilatus PC-6, có khả năng đáp được xuống những phi đạo thật ngắn) YoungBlood bay vòng vòng trên không phận Thái Lan cùng một phi công phụ VNCH. Phi công phụ này giữ tần số vô tuyến và hướng dẫn các phi cơ VN bay về Utapao.’

Skyraiders A-1:

11 chiếc Skyraiders đã đến được Utapao, gồm 5 A-1E, một A-1G và 5 A-1H. Trong số này 7 chiếc thuộc Phi đoàn 514, 3 chiếc thuộc PĐ 518 và 1 thuộc PĐ 530:

Chiếc Skyraider A-1H, số hiệu 139606 thuộc PĐ 518 là chiếc Skyraider sau cùng bay khỏi VN đến Utapao, phi công đã chở cả gia đình ‘nêm’ chật cứng trong phòng lái (danh từ lóng của KQ Mỹ gọi đây là một hell hole).

Trên một chiếc A-1E, phi công (Th/tá Hồ văn Hiển PD 514) đã cất cánh, chở theo 15 người, nhét cứng trong..’blue room’. Tác giả Phi Long 51 trong bài ‘Chuyến bay định mệnh’ (trên Diễn đàn Cánh thép) ghi lại:

… ‘ Sáng 29/4, tôi trở lại Bộ chỉ huy Hành quân KQ sau 10 giờ và khám phá ra PĐ 518 đã cất cánh đi Cần Thơ. Tôi gặp Tr/tá NCP trong BCH và tìm phi cơ để đi. Do cơ trưởng Lợi huớng dẫn, chúng tôi tìm được một AD-5 (chiếc này có 2 chỗ ngồi lái và một phòng trống khoảng 3x4x3 feet cao ở phía sau ghế pilot). Phi cơ trang bị đầy bom đạn. Sau khi thay bình điện, phi cơ rời ụ và tuy quá tải cũng cất cánh được. Không liên lạc được với đài kiểm soát, phi cơ bay đi Cần Thơ xin đáp nhưng bị từ chối, sau đó đành bay ra An Thới (Phú Quốc), thả bớt bom xuống biển. Tại An Thới, phi cơ được bỏ bớt đạn đại bác, bị tạm giữ không cho cất cánh. Đến 10 giờ sáng, sau khi có lệnh đầu hàng, phi cơ bay đi Utapao cùng với 15 người trên phi cơ.

Số Skyraiders bị bỏ lại là 40 chiếc, trong đó 26 chiếc bỏ lại ở TSN.

F-5s:

Trong số 26 chiếc F-5s bay thoát khỏi VN (gồm 22 chiếc F-5E và 4 chiếc F-5A/B), có 2 trường hợp đặc biệt được Anthony Tambini ghi lại trong F-5 Tigers over Việt Nam:

Một chiếc F-5F (loại 2 chỗ ngồi), đã chở theo 4 phi công trong 2 phòng lái, bằng cách tháo bỏ các dù, hạ ghế xuống thấp hết mức, một phi công ngồi và phi công thứ nhì đứng khom lưng đối mặt, lưng dựa vào cockpit. Phi cơ cất cánh khi phi trường đang bị pháo kích. Lúc đầu, phi cơ định bay lên với hệ thống thắng để mở. Cảm nhận được tình hình không thể bay lên, phi công đã phải mở dù ‘drag chute) để làm chậm vận tốc, sau đó đóng hệ thống thắng để phi cơ bay lên được và bay đi Thái Lan. Tuy nhiên, có lẽ hệ thống thắng đã bị hư hại khi bị pháo kích nên không còn sử dụng được. Phi cơ đáp xuống một phi dạo thô sơ và chật hẹp. Không ngừng được nên đâm vào cây và phát nổ, gây tử thương cho cả 4 phi công (Th/tá Mai Tiến Đạt, Nguyễn Đức Toàn, Ngô văn Trung và Đ/úy Lê Thiện Hữu.)

Một F-5A khác, cất cánh với 3 phi công, cất cánh ngược hướng bay, bay qua đầu các phi cơ đang đậu trên phi đạo chờ đến lượt bay lên. Phi cơ đến được Utapao.

Số F-5 bị bỏ lại gồm 87 chiếc, trong đó có 27 F-5E

A-37s:

Gần 50 chiếc A-37 đã bị hủy diệt trong đợt pháo kich đêm 28/4 (xem phần trên) và Đ/tá Thảo (KĐ trưởng KĐ 33) đã cho lệnh tan hàng vào khoảng 8 giờ sáng 29.

Th/tá Ngô Đức Cửu đón được một L-19 và về đáp Trà Nóc (Cần Thơ). Tại đây ông trình bày tình hình của Bộ Tư lệnh KQ Sàigòn (đã bỏ ngỏ) và hướng dẫn các PĐ A-37 còn lại bay đi Utapao: … ‘Từ Bình Thủy đi Utapao, hướng 300, khoảng 45 phút là đến. Anh em nên lấy bản đồ ra kiểm soát lại và ghi các chi tiết tần số tower.’
10 giờ sáng 30/4 sau khi có lệnh ‘đầu hàng’, căn cứ Bình Thủy cũng tự động tan hàng. Bãi đậu phi cơ vắng lặng, không còn quân cảnh, không còn chuyên viên kỹ thuật.

… ‘tôi rất thán phục anh em A-37 Cần Thơ, có nôn nóng nhưng rất trật tự, có thể nói là lịch sự. Tôi lên tiếng vì nhu cầu, tất cả hoa tiêu A-37 phải rời VN, anh em bắt cặp lấy, mỗi phi cơ phải đi được 3 người, không dù không hành lý. Ngoại trừ phi công bay ghế trái phải đội helmet để liên lạc. Tất cả phi cơ phải bay ở 12 ngàn bộ, không cần dưỡng khí.’

Đa số bình điện của các phi cơ yếu, Th/tá Cửu và Th/tá Kim (Liên đoàn trưởng Kỹ thuật) đã dùng APU khởi động từng phi cơ theo thứ tự. Th/tá Cửu lên chiếc sau cùng rời phi đạo để hợp đoàn với gần 30 chiếc A-37, bay về hướng Utapao.

Đây có thể được xem là ‘chuyến di tản’ trật tự và ‘thành công’ nhất của KQ VNCH.

Ngoài ra, còn có một A-37 đáp xuống một xa lộ gần căn cứ KQ Korat, phía Bắc Bangkok, gần một trường học, bom đạn còn đầy dưới cánh và Tướng Aderholt đã phải gửi một Đ/úy phi công Mỹ đến để bay chiếc này về căn cứ Udorn.

Theo thống kê 27 chiếc A-37 đến được Utapao. 95 chiếc bị bỏ lại VN.

Phi cơ vận tải:

Tân Sơn Nhất là căn cứ tập trung của nhiều phi đoàn vận tải của KQVNCH. Cuộc di tản cũng rất hỗn loạn, nhiều phi cơ bị bỏ lại vì không có phi công, không người đổ xăng. Có những trường hợp phi cơ không cất cánh nổi do quá tải, hay do quá vội. Một số phi cơ vận tải đã bay được sang Utapao vì đã ở sẵn và cất cánh từ Côn đảo. Tất cả đều chở vượt quy định. Có những C-47 bay đến Utapao với cả trăm hành khách (bình thường chỉ chở 30 binh sĩ), bánh đáp bị gãy khi chạm đất.

Phi công Hungphan trong bài hồi ký ‘Những giờ phút sau Tinh Long 07’ ghi lại: Sáng 29/04/75

…’ Đồng loạt không ai bảo ai, chúng tôi tháo chạy về phia Không đoàn bộ (PĐ 437), bên cạnh là đại bản doanh của PĐ 435, chúng tôi đang ngơ ngác tìm nơi trú ẩn, thì thấy ông PĐ trưởng Tr/tá MMC bước ra, nhìn chúng tôi lên tiếng: ‘ Giờ này pilot quý lắm, ai ở phi đoàn nào về phi đoàn nấy.’ Chúng tôi im lặng rút sâu vào tầng dưới của SĐ bộ, thấy đủ mặt văn võ bá quan. T/Tá Vinh con 435, T/Tá Vinh Trô 437, Tr/Tá Dinh, Đ/úy Chư… đã có mặt từ lúc nào, gần giống một cuộc họp của Không đoàn.

Không biết thời gian nặng nề dai dẵng này kéo dài bao lâu, thỉnh thoảng có tiếng pháo kích như để phá tan bầu im lặng. Tiếng pháo vẫn vang lên bên ngoài, bỗng có tiếng điện thoại reo trên lầu, rồi im lặng. Tất cả khuôn mặt không dấu vẻ lo lắng đợi chờ. Tình hình căng thẳng, khoảng mười phút sau, tiếng chuông điện thoại lại reo lên. Chưa hết tiếng reo đột nhiên có tiếng của ai đó hét to: “Ra xe (chưa ai nghe điện thoại).” Không ai bảo ai, chúng tôi chạy nhanh lên xe.

Tôi cũng nhảy lên một chiếc Step van. Chạy được một quảng, 4, 5 anh phòng thủ với súng ống đầy mình, chạy ra chận xe lại. Có tiếng trong xe la lớn: ‘ĐM, lên xe luôn, giờ này mà chặn cái gì?’ thế là thêm đông. Đến parking, tôi chạy về chiếc GZA 027, Herky 027 mà tôi biết tàu tốt vì tôi mới bay về tối hôm qua. Trên phòng lái, có độ 10 ông pilot C-130 !!! Phí thật.

Chỉ một phút sau, chúng tôi take-off. Hai phút sau đã lên cao độ an toàn (T/Tá Nhân nhẩy vào ghế pilot thay Đ/úy Chuân, ngồi co-pilot là Tr/Tá Đinh).

(14 chiếc C-130 bị bỏ lại, 9 chiếc đến được Utapao, ngoài ra còn 1 chiếc đã đào thoát sang Singapore từ khoảng đầu tháng 4)

Tác giả ‘Không quân liệt lão’ trong bài ‘Giây phút não lòng’ (xem phần trên) ghi tiếp:

… “Thảo bảo tôi: “Mình ra khu trực thăng, moa thấy nhiều lắm, đậu phía gần phi đạo hướng Bà quẹo đó.” Đến khu trực thăng, lên chiếc nào mở máy cũng không nổ, tàu nào cũng khô ran (Tướng Tiên cho lệnh rút xăng khỏi tàu vì sợ các phi công… tự động tan hàng). Chọn trực thăng không xong, Thảo Nâu chở tôi trên jeep đi tìm Cessna. Gặp Cessna, Thảo leo lên, bảo tôi ngồi ghế phài. Thảo quay máy, máy nổ. Bỗng nhiên con tàu xao động dữ dội. Quan quân ở đâu đông thế đang dành nhau leo lên tàu. Cessna chỉ có 5 chỗ, làm sao chở nỗi cả chục người. Không ai chịu xuống.

Tôi tự quyết định, nhường chỗ, mở cửa buớc xuống leo lên jeep để lái đi. ,có QC Vân cùng bỏ Cessna lái đi..tìm xem còn chiếc nào để quá giang..

Trên đường rời khỏi SĐ 5KQ, ngang qua văn phòng Tư lệnh phó SĐ, thấy có ánh đèn, cửa mở, tôi đậu xe bước vào.. Gặp Đinh thạch On ngồi thẫn thờ sau bàn giấy..Tôi hỏi:

– On, sao còn ngồi đây? Tât cả bỏ đi hết rồi, anh cũng đi đi thôi.
On như người mất hồn: “C-130 tụi nó lấy trốn cả rồi.”
Tôi nhắc: “Còn C-47 mà.” On thở dài: Đã lâu lắm, tôi không lái C-47.

.. Sau khi ngồi chờ ông On lôi quyển kỹ thuật C-47 ra ‘ôn bài’, cả đám đi tìm C-47 để chạy. Đến bãi đậu, các phi cơ đều bất khả dụng: hoặc không xăng, hoặc bị trúng đạn pháo kích. Đang tuyệt vọng, cả đám tìm được một C-47 đang nằm trong hangar. khóa kín..Đó là chiếc phi cơ riêng của Tư lệnh Vùng II. Sau đó có thêm Đ/úy Qui chạy đến. Phi cơ chở đến gần 80 người cộng theo thiết bị linh tinh… cố gắng cất cánh… sau cùng đến được Utapao.

Nhóm của BS Phạm gia Lữ (xem phần trên) sau đó đến phi đạo C-47 để tìm máy bay di tản, có chiếc không khởi động được do bình điện yếu. Chiếc DC-6 ‘Bình Long Anh Dũng’ tuy nằm cạnh nhưng được canh giữ. Sau đó tìm được chiếc C-47 của Tư lệnh KQ, Kh bắn bể khóa. Tất cả leo lên tàu để bay ra Côn sơn. Sau những trục trặc như không có bản đồ phi hành, phi cơ hết dầu thắng (tìm được 2 gallon nơi đuôi phi cơ), phi cơ đáp được xuống Côn Sơn. Th/tá Khoa bay thêm một chuyến trở lại Saigon (TSN đã bỏ ngỏ) để đón thân nhân và bay lại ra Côn Sơn. Dùng nón sắt để chuyển xăng, phi cơ đã bay đi Utapao sáng 30/4 khi DV Minh ra lệnh đầu hàng.

Tác giả Nguyễn Cao Thiên trong bài ‘PĐ 314, Chuyến bay không phi vụ lệnh ‘(Đặc san Liên khóa 64SVSQ, 2009) ghi lại một số chi tiết mô tả tình trạng hoảng loạn, vô trật tự tại TSN khi phi trường bị pháo kich. Sau khi PĐ phó Tấn từ KĐ trở về cho biết ‘Trên đó có ai đâu ? vắng hoe ?’.. Mạnh ai nấy chạy tự tìm phi cơ để bay đi. Có phi cơ cất cánh quá vội, quên cả gỡ kẹp đuôi nên rơi ngay tại phi trường. Chiếc C-47 của PĐ 314 bay đến Utapao với trên 40 người.

(16 chiếc C-47, đủ loại kể cả EC, AC đến được Utapao. 38 chiếc bỏ lại.)

Ngoài ra cũng có 3 AC-119 và 6 C-7A Caribou đến Utapao, 37 chiếc AC-119 cùng 6 chiếc C-119 vận tải bị bỏ lại. Số Caribou lên đến 33 (trong tình trạng đình động)

Tại Utapao còn có:

– 14 chiếc Cessna U-17 Skywagon

– 12 chiếc UH-1

– 3 chiếc O-1 Bird dog

Bảng tổng kết của HK ghi nhận: số phi cơ của KQVN bỏ lại còn có 434 chiếc UH-1, 114 chiếc O-1, 32 chiếc CH-47 Chinook và 72 phi cơ các loại khác gồm U-17, O-2A, T-37, T-41 và cả U-6 Beaver..
Bay ra biển:

Các phi cơ trực thăng (UH-1 và Chinook) khi tự động tan hàng, đa số tìm đường thoát bằng cách bay ra biển để đáp xuống bất cứ tàu bè nào đang di chuyển ngoài khơi: đáp trên chiến hạm Mỹ, nếu có chỗ đáp là tốt nhất, đáp trên chiến hạm VN và trong tình trạng ‘bi thảm ‘nhất’ là đáp xuống biển, phi công tự thoát, nếu may mắn sẽ được tiếp cứu và vớt lên tàu.

Trường hợp đặc biệt nhất được ghi vào lịch sử KQ và HQ Hoa Kỳ là trường hợp đáp của một L-19 chở đầy ‘hành khách’ trên Hàng Không Mẫu hạm..

Sau đây là một số trường hợp được kể lại trong các bài hồi ký:

Phi đoàn Thần Tượng 215

Khoảng 10 giờ sáng 29/4, bộ chỉ huy Phi đoàn 215 đã dùng 3 trực thăng để ‘di tản ‘về Côn Sơn. Trên các trực thăng có Phi đoàn trưởng (Tr/tá Khưu văn Phát), PĐ phó (Th/tá Đức) và các phi đội trưởng. Tuy nhiên do hết xăng nên cả 3 chiếc sau khi gặp tàu chở dầu của hãng Shell đã cố gắng thả người (nhảy từ máy bay xuống sàn tàu từ cao độ chừng 3 m) và phi công còn lại sau cùng đã đáp xuống biển, bơi thoát khỏi chiếc phi cơ đang chìm và được canô vớt. Cả 3 phi công (Đ/úy Chín, Đ/u Vĩnh và Th/tá Lương) đều được an toàn. (Vĩnh Hiếu: Phi đoàn Thần tượng Giờ thứ 25)

Phi đoàn Lôi Vũ 221:

Phi đoàn di tản từ Biên Hòa về TSN trong đêm 27/4, khi phi trường bị pháo kích. Chiều 29/4, Tr/Tá Nguyễn văn Trọng, PĐT tuyên bố giải tán phi đoàn. 13 trực thăng của phi đoàn bay được ra hạm đội HK. Trong đoàn di tản còn có Đ/tá Phước, Đ/tá Vy (Sư đoàn phó SĐ 1 KQ) (Tâm tư Lôi Vũ -52, Van Nguyên).

Phi đoàn Lôi Thanh 237 (Chinook CH-47)

Ngày 29/4, lúc 4 giờ sáng, 4 trực thăng Chinook CH-47 đậu song song với nhau trước phi cảng Hàng Không dân sự. Các nhân viên phi hành chờ quyết định của Th/tá Nguyễn văn Ba, Phi đoàn phó, nhưng ông vẩn trì hoãn chờ PĐ trưởng (Tr/tá Ch.) còn đang kẹt ở Biên Hòa. Các sỉ quan tham mưu của PĐ đều vắng mặt. Sau đó, ông quyết định di tản 4 phi cơ khả dụng đi Vũng Tàu. Khi 4 phi cơ vứa đáp xuống Vũng Tàu thì phi trường này cũng vừa bị pháo kích. Chỉ 3 phi cơ bay về Cần Thơ, một chiếc đã tự tách khỏi hợp đoàn. Ba phi cơ đáp xuống Mỹ Tho, 1 bay trở lại Sàigòn để đón gia đình Khi trở lại Mỹ Tho, phi cơ bị trục trặc nên đành bỏ lại nơi bờ sông. Hai chiêc còn lại cất cánh lúc 2 giờ trưa, bay ra hạm đội HK, thả người xuống chiến hạm Kirk và phi công ‘ditching’ để sau đó được vớt (Chuyến bay cuối cùng – Nguyển văn Ba – Lý Tưởng Úc châu, số kỷ niệm Ngày Không Lực 1-7-2011)
O-1 Birđ Dog (L-19) đáp trên Hàng Không Mẫu hạm:

Một trường hợp đặc biệt nhất của cuộc di tản, được ghi vào quân sử Hoa Kỳ, phi cơ hiện được lưu giữ tại viện bảo tàng là trường hợp dùng L-19 đáp xuống Hàng không Mẫu hạm Midway của Thiếu tá Lý Bửng, Sĩ quan trưởng phòng hành quân của PĐ Sao Mai 114/ KĐ 62 CT/ SĐ 2 KQ.

Việc O-1 đáp trên Hàng không Mẫu hạm đang di chuyển là chuyện không thể tưởng tượng nổi, ngay cả với các phi công Hoa Kỳ và những chuyên viên thiết kế máy bay của hãng Cessna.
Điều gây ‘kinh ngạc’ hơn nữa là trên phi cơ còn có thêm 6 người (vợ và 5 đứa con) ngồi chật cứng trên ghế sau.
Phi công Lý Bửng kể lại như sau (Chuyến bay về vùng tự do của KQ Lý Bửng- Đặc san Lý Tưởng số 02/2010):

… ‘Sáng 29/4, tôi, Hường, và Nhị cùng bay chiếc O-1 này ra Côn Sơn. Vợ con tôi đã ra Côn Sơn bằng phương tiện trực thăng trước, hình như của PĐ 215. Chiếc O-1 này tình trạng máy tốt, chỉ có vô tuyến là không hoạt động được. Tôi cất cánh từ TSN trong lúc phi trường đang bị pháo kich. Chúng tôi quyết định bay ra Côn sơn vì không rõ tình hình Cần Thơ. Đêm nghỉ tại Côn Sơn, chúng tôi chưa biết chắc sẽ đi Thái Lan bằng phi cơ gì. 
Sáng 30/4, có lệnh đầu hàng. Tôi sắp xếp cho tất cả anh em PĐ 114 trật tự lên các C-123 và C-130 đi Thái Lan. Tôi và gia đình dự trù sẽ đi chiếc C-123 sau cùng nhưng chiếc này bị hư không cất cánh được. Khoảng 130 người còn lại đành chờ tàu HQ. Cảnh tượng xuống tàu rất hỗn loạn. Tôi quyết định dùng chiếc O-1 mà tôi đã bay ra Côn Sơn hôm qua để chở cả gia đình để bay đi nhưng chưa biết đi đâu? Trời rất xấu, mưa mù mịt, tôi bay rase motte trên mặt biển, khoảng từ 500 đến 700 bộ. Trong lúc bay, tôi thấy nhiều trực thăng bay ra biển, tôi cũng lấy hướng bay này cho đến khi thấy chiếc hàng không mẫu hạm.

Chiếc O-1 bị hỏng hệ thống vô tuyến nên tôi không thể liên lạc được với ai. Tôi dùng phương thức bay qua đài kiểm soat của chiến hạm, lắc cánh để cho biết hệ thống vô tuyến bị hỏng và xin đáp. Dưới mẫu hạm bắn hỏa pháo đỏ liên tiếp ra dấu cho biết là họ không chấp thuận cho hạ cánh có lẽ vì không còn chỗ ? Tôi lấy bản đồ, giấy tờ trong máy bay viết chữ xin hạ cánh vì phi cơ còn có vợ con và buộc vào botte để thả xuống sàn tàu. Sau đó nhân viên trên tàu xô một số trực thăng xuống biển và dọn các trực thăng khác để lấy chỗ cho tôi đáp. Phi đạo họ dành cho cho tôi đáp là cạnh ngắn, khoãng 150 feet…’

Sau một lần đáp thử để ước lượng các thông số kỹ thuật, như gió ngang, sự di chuyển của mẫu hạm. Phi công Lý Bửng đã đáp thành công xuống Mẫu hạm Midway trước sự kinh ngạc và thán phục của nhân viên thủy thủ trên tàu.

Trong ‘chiến dịch di tản’ Frequent Wind’:

Hàng không mẫu hạm Midway đã tiếp nhận khoảng 60 trực thăng của KQ VNCH, trong đó có chiếc UH-1 của Tướng Kỳ và cả vài trực thăng của Air America..

Chiến hạm USS Kirk, trong thời gian yểm trợ đoàn tàu di tản của HQ VNCH đã là nơi đáp cho 16 chiếc trực thăng của KQ VNCH. Sàn đáp của chiến hạm chỉ dành cho một trực thăng nên sau khi đáp, trực thăng phải đẩy xuống biển để lấy chỗ cho chiếc kế tiếp. Ngoài 16 chiếc UH-1, còn có 1 Chinook sau khi thả người trên sàn đáp đã phải đáp xuống biển, phi công được cứu thoát. Số người trên các trực thăng đáp xuống USS Kirk lên đến gần 200 người. USS Kirk chở được về Subic Bay 3 chiếc UH-1.

Các chiến hạm khác như Blue Ridge, Mobile (LK 115) đều tiếp nhận các trực thăng của KQVN.

Tài liệu của Air America ghi nhận một số trường hợp các phi công VN dùng súng ‘tạm mượn’ phi cơ của Air America để bay ra Hạm đội Hoa Kỳ: Chiếc UH-1H (69-16715) của Air America màng dấu hiệu ICSS (Ủy Ban Liên hợp 4 bên) đã do phi công VN bay ra đáp tại Chiến hạm Blue Ridge trưa ngày 29/4. Tất cả có 6 chiếc trực thăng bị phi công VN “mượn tạm”, trong đó 5 chiếc loại UH-1 và một chiếc Bell 204B (?), chiếc Bell này sau đó đáp trên USS Kirk. (Air America in South Viet Nam: The Collapse. Tác giả Joe Leeker)

Số phận những phi cơ… đến được Utapao:

Ngay khi các phi cơ của KQ VNCH đáp xuống Utapao, vừa ngừng bánh, tắt máy, các nhân viên phi đạo lập tức sơn lại cờ chuyển từ VNCH sang thành máy bay của Hoa Kỳ. Người Thái Lan không muốn ‘chứa chấp’ những người Việt vừa phải bỏ nước ra đi nên HK đã phải lập cầu không vận, dùng các C-141 để đưa người tỵ nạn sang Guam.

Một trục trặc nhỏ đã xẩy ra: 65 người, tất cả trên cùng một chuyến C-130 đến Utapao đã đòi trở về VN. Dưới sự lãnh đạo của Tr/úy Cao van Le (?), những nhân viên KQVN này khi bay khỏi TSN, không biết là họ sẽ phải biệt xứ trong khi gia đình còn kẹt lại tại VN… và dọa sẽ tự tử nếu không được như ý. Một Đại tá KQVN và một Tuyên úy quân đội HK đã giúp điều đình để giải quyết vấn đề, chỉ còn 13 người cương quyết đòi về. Sau cùng cả 13 người đã được chích thuốc ngủ để đưa lên C-141 đi Guam.

CSVN đã lên tiếng đòi hỏi chủ quyền về những máy bay tỵ nạn tại Thái. Hà Nội đã đòi đưa một phái đoàn đến Thái để kiểm kê các phi cơ. Chính quyền Thái do áp lực của Hà Nội đã đòi’ tạm giữ’ các máy bay đang ở Utapao. 
Tướng Aderholt cho biết’ các phi cơ này thuộc quyền sở hữu của HK theo một điều khoản có ghi trong Thỏa ước Viện trợ Quân sự Mỹ-Việt’ nhưng chưa chắc Thái Lan đồng ý nên ông tìm cách chuyển các phi cơ khỏi Thái càng nhanh càng tốt. Trước hết, Aderholt ‘tặng’ cho Tư lệnh KQ Thái Lan 5 chiếc F-5 để mua chuộc giới quân sự Thái (Thật ra Aderholt không có quyền nhưng trước chuyện đã rồi, HK khó lấy lại được 5 phi cơ này). Khi Hàng không mẫu hạm Midway ghé một căn cứ HQ Thái Lan gần Utapao ngày 5/5, khoảng 140 phi cơ đủ loại đã được chở ra khỏi Thái Lan (trong số này có lẽ gồm cả một số phi cơ, trong tổng số 93 chiếc của Không lực Kmer đã bay sang Thái khi Nam Vang thất thủ). Bốn chiếc Skyraiders được Aderholt cho bay đi, cất giấu tại Căn cứ Takhli. Mẫu hạm Midway đã chở về Guam 101 phi cơ của KQVN, trong đó có 21 chiếc F-5E.

Theo ‘Escape to Utapao’ một chiếc C-123K được đưa ra khỏi Thái (số đuôi 54-00592). Chiếc này hiện ở Phi trường Avra Valley và không ai biết về trường hợp này. (Theo danh mục trong Flying Dragons trang 164 thì chiếc này của KQVN)

Tài liệu của Hải Quân Thái Lan ghi nhận: Trong danh mục phi cơ thuộc HQ Thái Lan có một số phi cơ ‘cũ’ của KQVN như:

– C-47A (43-48101, VNAF)

– VC-47D (43-48777, VNAF ‘EY’

– AC-47D (43-49095, VNAF ‘EK’

– RC-47 (43-49701, VNAF) và (43-49925, VNAF ‘EF’) và (44-76418, VNAF ‘EB’)

– EC-47 P (45-1044, VNAF ‘WA’)

Ngoài ra còn 3 chiếc U-7 mang các số đuôi 71-1438; 71-1442 và 7-1455 được ghi là VNAF(?)
Trần Lý
(tháng 4/2012)

Đà Nẵng những ngày cuối tháng Ba 1975!

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Bác sĩ Phùng Văn Hạnh

Sau khi thỏa hiệp Paris ký kết, Mỹ xuống thang chiến tranh. Dân sự bị thương cũng giảm. Các bác sĩ AMA giảm dần. Ban mê Thuột rồi Pleiku mất. Cao nguyên di tản. Quảng trị, Thừa thiên mất. Những ngày cuối tháng ba, 1975, Đà- nẵng đầy người chạy giặc. Cộng sản có biết tại sao mà lắm người sợ họ thế?

Ông bác tôi đã từng nếm mùi trại giam cộng sản, đã đứng tim chết khi nghe cộng sản trở lại. Cha tôi cũng thế. Lính khắp nơi ùn về đầy đường.

Tôi gặp một tiểu đội Địa phương quân. Họ vẫn còn kỷ luật lắm. Anh tiểu đội trưởng đi đầu, súng mang trên vai. Các đội viên đi hàng một, mũi súng chúc xuống đất. Chắc họ từ một đồn nhỏ ở ngoại ô vào thành phố. Mắt họ buồn và sợ sệt. Họ đi mất hút ở cuối đường. Có súng nổ lẻ tẻ. Xe tăng, súng ca-nông bỏ lại trên đường phố. Dân sự di tản từ Quảng Trị, Huế, Quảng Tín, Quảng Ngãi, ngủ trên lề đường.

Một thiếu phụ gia tài chỉ là đôi thúng gánh trên vai. Trong mỗi thúng là một em bé 2 đến 4 tuổi. Rất nhiều gia đình đã đi bộ vượt đèo Hải vân 20 km đường dốc núi. Bên Sơn Chà xe nhà binh nghẹt đường. Ngoài bờ biển, bến cảng mọi người ùn ra tìm ghe để có thể ra tàu lớn đậu ngoài khơi. Gia đình tôi lên phi trường.

Lúc gần đến, gặp cả đoàn xe cộ của một ông tướng sư đoàn cũng chạy giặc, phải tránh ra bên đường, nhường cho họ qua. Ngay cổng phi trường, xe dân sự sắp hàng dài hai bên đường. Chỉ đi bộ vào cổng. Một ký giả ngoại quốc chận tôi lại phỏng vấn. Tôi đã nói gì, bây giờ chẳng nhớ. Song một người bạn ở Thụy sĩ lúc đó có thấy tôi xuất hiện trên truyền hình. Máy bay hàng không dân sự đã ngừng bay. Một nhóm người thiện chí đứng ra liên lạc với Saigon. Họ tổ chức ra máy bay trong trật tự. Có hai chuyến cất cánh suông sẻ.

Song Việt cộng bắt đầu pháo kích vào phi trường. Mọi người tìm chỗ núp, rồi ùn ùn rời phi trường vì Saigon cho biết là máy bay không ra nữa. Chúng tôi đi bộ về nhà. Nửa đường gặp xe của một nha sĩ bạn. Anh ta chở gia đình tôi về đến nhà. Súng lính vất lại, nghẹt cả đường cống sâu trước nhà. Vào nhà, vợ tôi chia cho mỗi đứa con một xách áo quần và một ít tiền. Tất cả quì xuống trước bàn thờ Chúa. Nhà tôi dặn: “đang loạn lạc như thế nầy, chúng ta có thể bị ly tán. Nếu may ra các con đi chung với nhau, nhớ đứa lớn che chở đứa bé. Anh em nhớ yêu thương nhau”.

Thấy cảnh đau lòng, tôi rời nhà lên bệnh viện, định phi tang những bài viết chống cộng mà tôi bỏ lại ở văn phòng, trong ấy có một bài đả kích Hồ chí Minh. Vào hành lang, thấy người ta nằm la liệt. Kẻ thủng bụng, ruột lòng thòng. Người bể đầu, gảy tay chân, băng quấn sơ sài, đẫm máu. Một bạn giáo sư trung học, ôm chầm lấy năn nỉ:

“vợ tôi bị bắn thủng ruột đã 6 giờ rồi, chưa được ai chăm sóc”. Lúc ấy nhà thương không còn một bác sĩ nào cả. Tôi ghé văn phòng làm việc trống trơn, huỷ diệt bức thư điều trần, đưa kế sách cứu miền Nam, và những bài báo chống Cộng do tôi viết. Tôi xé nhỏ, bỏ vào nhà cầu và dội nước. Xong tôi vào khu giải phẫu. May sao nhân viên còn tại chỗ một nửa. Tôi cho mang vợ người bạn vào mổ.

Sau đó các ca khác lại tuần tự mang vào. Chiều hôm đó BS Phạm văn Lương vào phòng mổ thăm tôi. Tôi hỏi sao không lo trên BV Duy Tân mà xuống đây. Ông y tá trưởng nói nhỏ vào tai tôi là BS Lương nay làm thị trưởng, đi thị sát BV toàn khoa đó. Sau nầy tôi mới biết là BS Lương được tỉnh hội Phật Giáo đưa lên làm thị trưởng Đà-Nẵng trong những ngày cuối tháng ba, 1975(đài BBC có loan tin).

Một mình mổ đến chiều hôm sau thì ông y tá trưởng gỏ cửa phòng mổ và nói: “có ông sĩ quan cách mạng nói bác sĩ hãy ngừng mổ cho dân sự, và mổ cho các chiến sĩ cách mạng bị thương”. Hởi ôi, thế là cộng sản đã vào thành phố! Tôi nói với ông y tá trưởng là cứ ca nào nặng thì đem vào trước, không phân biệt dân sự, cách mạng. Đó là va chạm đầu tiên mà sau nầy tôi bị kiểm điểm là có lập trường nhân đạo chung chung, không có quan điểm cách mạng. Chừng 10 ngày sau, thì các bác sĩ cách mạng ở trên núi xuống tiếp thu bệnh viện. Lúc đó các ca cấp cứu đã giải quyết xong. Cả khu giải phẩu nhận giấy khen của Ủy ban quân quản Đà-nẵng là đã có công trong sự ổn định y tế thành phố.

Các bác sĩ bị kẹt lại dần dà đến nhận việc và được gọi là lưu dung. Xưa kia đi làm hơi tùy tiện vì đôi khi phòng mạch tư nhiều khách. Nay ai đến cũng đúng giờ. Bắt đầu là giao ban, toàn thể bác sĩ họp lại với bác sĩ giám đốc để trình bày phiên trực ngày hôm trước, nghe chỉ thị mới và phê bình những thiếu sót nếu có. Cách làm việc nặng phần trình diễn, phí phạm thì giờ. Sau giao ban, đi khám bệnh phòng rồi đi mổ những ca lên chương trình từ cuối tuần trước.

Có điều đặc biệt là bác sĩ cách mạng chuồn đâu mất lúc 10 giờ sáng. Tìm không ra. Sau nầy hỏi ra mới biết đó là thói quen đã có tự ngoài Bắc. Vì sáng không ăn, hoặc ăn ít nên 10 giờ đói, phải tìm chỗ kín nằm nghĩ. Có một bác sĩ thuốc mê đã được đào luyện ở Tiệp khắc, được nhân viên phòng mổ cho ăn xoài. Anh ta trầm trồ khen ngon hết lời vì chưa bao giờ nếm thứ trái cây ngon như thế. Một anh khác kể là ngày Tết được chia bồi dưỡng một gói tiêu nhỏ. Về nhà rủi làm đổ. Phải thắp đèn lên kiếm từng hạt. Họ nói ở ngoài Bắc nghe tuyên truyền là trong Nam cực khổ lắm. Bây giờ mới tỉnh ngộ. Vào Saigon chơi về, họ khoe là như ra ngoại quốc. Nói là phồn vinh giả tạo, song toàn là đồ thiệt đẹp và tốt.

Những ngày đầu tháng tư, 1975, các bác sĩ VC trên núi về, tiếp thu TTYTTK Đà-Nẵng và Bệnh viện Đức. Họ chỉ lo về hành chánh, chứ chuyên môn thì đợi các bác sĩ Hà-Nội vào. Về giải phẫu thì họ chỉ đứng xem Vài người tỏ ra hiếu học, vào phụ mỗ với các bác sĩ lưu dung. Tôi nhớ có Bác sĩ cấp bực Đại úy, vào phụ tôi để tái tạo một ống chân vỡ nát vì mìn. (Hắn ta là bác sĩ riêng cho thầy cũ Tám Trinh, nay đổi tên Nguyễn xuân Hữu, Phó bí thư đảng bộ Liên khu V. Phải mất ba giờ và nhiều cố gắng mới giữ được cái chân. Cuối ca mỗ, đáng lý nói: ca nầy khó ác liệt, tôi tự nhiên buông câu nói theo thói quen: ca nầy khó ác ôn côn đồ Việt Cộng. Anh ta nhìn tôi không nói gì. Các y tá quanh tôi đều sững sốt. Không biết anh ta có báo cáo gì không. Song sau nầy không thấy ai nhắc đến chuyện đó.

Trong suốt hơn một năm làm việc với CS, tháng ngày cũng qua nhanh, vì rất bận rộn. Những ngày đầu, mổ liên miên để giải quyết xong nhiều ca cấp cứu, Những tháng kế tiếp là mổ cho dân quê trở về làng khai khẩn nhưng đồng ruộng bỏ hoang trong chiến tranh, vướn phải mìn hay đạn ca- nông chôn dưới đất. Giải phẩu tái tạo tiếp theo cho những tật nguyền do vết thương chiến tranh gây ra. Ngoài ra nào giao ban, nào học chính trị mỗ tuần vài lần. Làm việc trong không khí u uất, vì nghe lắm lời phi lý, ngu xuẩn của bọn cán bộ, lắm chế độ hà khắc, kiểm soát tư tưởng, việc làm, những tranh cải lý thuyết v.v..

Bất hạnh thường không đến một mình. Đã buồn bực vì phải kẹt ở lại với CS, lại càng buồn thêm vì sự ra đi của người cha thân yêu. Ngày tôi chở vợ con lên phi trương để di tản, tôi đã năn nỉ cha mẹ tôi cùng đi, nhưng cha tôi một mực từ chối vì ông đã bị bại hai chân từ ba năm nay, hậu chứng xuất huyết não, và phải di chuyển trên xe lăn. Ông không muốn là gánh nặng cho tôi. Mẹ tôi thì chỉ chịu đi khi cha tôi cùng đi, vì bà phải săn sóc cha tôi tật nguyền. Khi chúng tôi không di tản được, từ phi trường trở về, hai ông bà đã khóc sướt, và lo cho tương lai chúng tôi. Hai ngày sau cha tôi chết êm thắm. Ông đã bị đứng tim trong giấc ngủ. Buổi sáng mẹ tôi mang sửa lại cho ông uống, thì thấy ông nằm bất động, tay chân lạnh ngắt. Cũng như bác tôi, cha tôi vì sợ quá, tim già đã ngưng đập khi nghĩ đến những hình phạt khủng khiếp trong tù CS. Mặc dù mới trải qua một cuộc đổi đời chưa hết bàng hoàng, tôi vẫn tổ chức ma tang thật chu đáo, với rất nhiều bà con thân thuộc theo linh cửu ra nghĩa địa. Tôi phải mướn nhiều xe ca, trong khó khăn hiện tại. Cha ơi, xin yên nghỉ bằng an trong nước Chúa.

Lúc say sưa làm việc những năm chiến tranh, theo lời khuyên của một bác sĩ Mỹ, tôi gom góp hồ sơ các ca chữa thương vơí đầy đủ phim, ảnh, ghi chú theo dõi. Ông cho tôi một máy ảnh, và tôi thuê một thợ chụp ảnh phụ tá cho tôi chụp hình bệnh nhân trước và sau khi mổ, diễn tiến bệnh khi nằm tại nhà thương và tái khám. Hồ sơ được lưu trử trong một căn phòng lớn của bệnh viện. Tôi định khi nào rảnh rổi sẽ viết bài, dựa trên nhận xét lâm sàng để rút ra những kết luận hữu ích. Hai tháng sau khi cộng sản vào, thấy rảnh, tôi xuống phòng lưu trữ hồ sơ thì thấy các hộc trống trơn. Hỏi ra mới biết là tổ nhà bếp trên núi xuống nấu cơm cho bệnh nhân, vì thiếu củi đun, nên lấy hồ sơ nhóm lửa. Bao nhiêu tâm huyết đổ sông. Xưa kia nhà thầu cung cấp cơm nước cho bệnh nhân. Họ đâu có nấu nướng trong bệnh viện.

Tôi có nhiều giấc mơ đơn giản. Song đều thất bại. Lúc còn hoạt động trong đoàn Sinh viên công giáo, có đọc thuyết “Kinh tế và nhân bản” ( économie et humanisme) của cha Lebret, có dự định cùng các bạn đồng chí hướng lập những đoàn thiện chí gồm nhiều chuyên viên về thôn quê chia xẻ đời sống của nông dân. Bác sĩ lo chữa bệnh, truyền bá vệ sinh. Kỷ sư nông nghiệp, cơ khí, chăn nuôi, tìm cách nâng cao sản xuất. Tổ chức hợp tác xã, tiếp xúc với công ty ngoại quốc, tìm thị trường, vốn đầu tư..mong cho dân giàu, nước mạnh. Song khi ra trường, thì chiến tranh tràn lan, thôn quê không còn an ninh. Cuối năm 1974, thấy tình hình miền Nam sắp có nguy cơ rơi vào tay Việt cộng, mà trí thức thì chơi mạt chược và trùm chăn quá nhiều, định đi khắp các tỉnh, diễn thuyết, kết hợp những người thiện chí, cố nổ lực tối đa để trong sạch hoá bộ máy chính quyền, tất cả mọi người có thể cầm súng được phải chia phiên nhau ra trận. Không có nạn con ông cháu cha. Trí thức phải xuống xã ấp, phá vòng vây nông thôn bao vây thành thị. Chính phủ tuyên bố tình trạng quốc gia lâm nguy, đóng cửa Trung học và Đại học. Đưa người qua Mỹ diễn thuyết hầu giành hậu thuẩn dân Mỹ. Nếu cần cầu viện Tây âu. Sắp xếp các ý tưởng, trình bày trong một bức thư điều trần gửi quốc hội và tổng thống với đề tài “Tổ Quốc lâm nguy, đề nghị biện pháp giải cứu”. Giáng sinh 1974, tôi vào Sài-gòn, đưa thư điều trần cho bạn bè xem, song không ai hưởng ứng, vì họ đoan chắc với tôi là Mỹ sẽ không bỏ miền Nam. Sau đó tình hình Miền Nam suy sụp quá nhanh. Tuy thế lúc Việt cộng vào, đã có người muốn lập công, đưa cho chúng tài liệu, nên bị hạch hỏi. Phải làm kiểm điểm vài lần, nhận có nêu lên vấn đề, song chưa phổ biến sâu rộng. Cuối cùng muốn viết vài bài về chuyên môn mình cũng không được, vì tài liệu đã bị đốt cháy ra tro.

Khi sang Canada, đi Mỹ chơi gặp một đồng nghiệp cũ ở Bệnh viện Đà-nẵng, nay hành nghề ở Westminster, Cali. Anh ta nói với tôi: “người chống cộng có hệ thống như anh, thì lại kẹt ở lại. Còn lè phè như chúng tôi, thì lại thoát. Oái ăm thiệt!”

Kể ra cũng tại số mình long đong, chạy trời không khỏi nắng. Tôi đã bỏ lở nhiều dịp may: năm 1973, cộng đồng người Hoa ở Đà-Nẵng muốn có một nhà thương riêng cho họ, nên dạm hỏi tôi có muốn bán đưỡng đường của tôi với giá 20 triệu. Vì đang làm ăn phát đạt tôi từ chối. Nếu tôi chịu bán, tôi sẽ trích ra độ một triệu, mua thông hành cho cả gia đình, lấy cớ đi Mỹ học rồi ở lại luôn. Một bác sĩ bạn tôi đã ra đi như thế.

Cuối 1974, nhân có người cháu, Đại uý lái phi cơ trưc thăng, đóng ở Cần thơ, chuyển về không đoàn I. Anh ta nhờ tôi xin về xưởng sữa chữa trực thăng, vì thấy đi bay, có nhiều hiểm nguy. Nhờ quen biết tôi đã thoả mãn cho anh ta. Nhận thấy miền Nam sắp mất, tôi bảo anh ta sữa chữa thật tốt một trực thăng, đổ đầy nhiên liệu, sẵn sàng chở gia đình anh ta với gia đình tôi đi Sài gòn hoặc Thái Lan, khi Đà- Nẵng có nguy cơ mất. Hôm 27-03-75, vì quen biết với gia đình Giám đốc Hàng không Việt Nam Đà-Nẵng, chúng tôi được họ mời chia xẻ một chuyến bay chót đặc biệt dành riêng cho gia đình họ. Trong khi chờ đợi máy bay từ Sài-gòn ra, tôi đến thăm người cháu gần đó, để xin ít nước uống cho các con tôi, vì đêm qua ra đi vội vã quên mang nước theo. Vào nhà tôi thấy gia đình nó chuẩn bị lên trực thăng mà tôi đã dặn để dành cho việc tẩu thoát, nếu Đà-Nẵng mất. Nó nói: “con có điện thoại lại nhà dượng, kêu dượng lên đi, nhưng không ai trả lời. Thế bây giờ dượng đi với chúng con?”. Tôi từ chối vì cho rằng đi máy bay tiện lợi hơn là trực thăng. Tôi trở lại với gia đình và ra ra sân bay, vì máy bay đã đáp xuống ở một chỗ hẹn trước. Nhưng chuyến bay ấy bị quân nhân phi trường tước đoạt. Cảnh súng bắn đì đoàng, người đạp lên người, chen lấn lên máy bay, làm cả hai gia đình chúng tôi đứng xa mà ngó. Cuối cùng máy bay cất cánh có cả người đeo tòn teng vào bánh xe, rụng rơi dần. Cùng lúc ấy, đạn pháo Việt cộng nổ gần phi đạo chúng tôi hoảng hốt dắt díu nhau chạy. Sau nầy gặp lại ở Mỹ, nó tiếc hùi hụi là hôm đó trực thăng nó trực chỉ Sài-gòn mà không có gia đình ông dượng ân nhân, có sáng kiến hay.

Cơ hội chót là ngày 29-03-75 vẫn còn một bác sĩ Mỹ, môn đồ Quaker, sang Đà-Nẵng làm từ lâu, với tư cách cá nhân, và anh ta không chịu di tản, chỉ ưng ở lại làm việc truyền đạo, chia ngọt bùi với bệnh nhân khu bài lao. Máy bay từ hạm đội Mỹ không ngại hiểm nguy đáp xuống trên nóc bệnh viện Việt Đức. Hai lính Mỹ vào mời bác sĩ ấy ra đi, nhưng anh ta một mực từ chối. Khi thấy tôi đi ngang qua, anh ta kéo tôi vào và năn nỉ tôi đi theo trực thăng ra tàu hạm đội Mỹ. Nhưng lúc ấy gia đình tôi không có mặt ở đó và tôi không muốn ra đi một mình, nên cũng từ chối. Nếu ngày ấy tôi ra đi. Sang Mỹ trở lại nghề và phát đạt, sẽ có phương tiện bảo lãnh cho gia đình qua sau, chậm lắm là vài năm sau và thoát đi tù cải tạo 12 năm. Nhưng đó chỉ là nếu, thực tế thì bi thảm vô kể.

Bác sĩ Phùng Văn Hạnh

Cuộc Di Tản đầy Máu và Nước Mắt

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

LTS: Đại Tá Trịnh Tiếu đã quá vãng, ông ở San Jose. Là trưởng phòng Hai (tình báo) của QĐ2, QK2 ông chịu trách nhiệm về cú lừa tình báo. Thoạt đầu ông không viết và ẩn dật, mãi đến khi nhà báo NPH đốc thúc ông nên nói rõ sự thật để ghi lại sử và sau khi Đại tá Lê Khắc Lý nói không đúng nhiều chuyện thì Đại tá Trịnh Tiếu bắt đầu viết. Tòa soạn gửi các bạn một trong những bài viết nhân tháng 3 “thất thủ Cao Nguyên”.

Đại Tá Trịnh Tiếu


Không phải mãi hai ngày sau người Mỹ mới biết lý do đằng sau vụ di tản rút quân bỏ miền Trung. Vào buổi tối ngày 17.3.1975, tại bữa cơm đãi một số Viên Chức cao cấp Mỹ và Việt Nam tại nhà ông Thomas Polgar, Trưởng CIA, ở Sài Gòn, Tướng Ðặng Văn Quang Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống Thiệu, đã lật trang sử khi giải thích quyết định của ông Thiệu. Rất giống người Nga tiêu diệt đội quân của Nã Phá Luân vào năm 1812 bằng cách bỏ đất để câu giờ hầu chấn chỉnh tổ chức quật ngược thế cờ, Tướng Quang cho rằng quyết định của ông Thiệu đi theo chiến lược đó sẽ đánh bại quân Bắc Việt. Tướng Quang nói ‘’Có thể mùa mưa sẽ giúp chúng tôi như thể Ðại Tướng mùa Đông đã giúp người Nga’’.


Tại Cao Nguyên Trung Phần, dân chúng không chờ giải thích. Họ thấy rõ quá rồi nên tự lo lấy.Khi quân Bắc Việt pháo kích Kontum, con đường dẫn xuống Pleiku tràn ngập dân di tản chạy trốn pháo kích. Trong khi các Ðơn Vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu rời các vị trí ở Pleiku và các phi cơ vận tải bay lên bay xuống phi trường suốt ngày đêm, người dân biết ngay đến lúc chạy theo Quân Ðội.


Vào đêm Chủ Nhật, một đoàn xe vận tải dài thòng âm thầm rời khỏi Pleiku từng cái một đèn sáng choang. Phóng viên Nguyễn Tư nghĩ nó ‘’giống như một đoàn xe đi chơi cuối tuần trở về nhà’’. Phía sau, những tiếng nổ lớn phát ra từ các kho đạn bị phá và bầu trời đen nghịt khói từ các bồn xăng đốt cháy.


Trong khi đoàn xe tiến về hướng Nam tung lên những đám bụi đỏ mờ mịt, từng đoàn người dân đi bộ dài như rắn bò hai bên Ðường Quốc Lộ song song với đoàn quân xa. Một vị Nữ Tu Công Giáo nhớ lại ‘’trẻ thơ và trẻ em được chất lên xe bò và người kéo đi. Mọi người đều hoảng hốt. Người ta cố thuê mướn xe bằng mọi giá’’. Trong ba ngày 16, 17, 18, tháng ba, cuộc di tản di chuyển êm thắm khỏi Pleiku và giữa các đoàn quân xa là hàng trăm dân sự đi theo cuộc di tản. Và cũng từ đó bắt đầu một đoàn công voa di tản đầy máu và nước mắt.


Ði được nửa đường tiến ra Duyên Hải, đoàn xe bị khựng lại để cho Công Binh Quân Ðoàn II cố làm xong chiếc cầu nổi ngang qua sông Ea Pa cách đèo Cheo Reo (Phú bổn) vài cây số. Tướng Phạm Văn Phú tiên liệu hai ngày sẽ sửa xong con Ðường số 7 nhưng mãi ba ngày vẫn chưa sửa xong cây cầu. Ðến chiều tối ngày 18.3, xe cộ và lính tráng đã đi được ba ngày và một đám dân tỵ nạn khổng lồ bị khựng lại dọc theo con đường và dồn cục tạm nghỉ ở chung quanh châu thành Tỉnh Phú Bổn. Cái châu thành nhỏ bé cheo leo này làm sao cung cấp đủ nhu cầu cho đoàn di tản này, nhiều người bỏ nhà ra đi chỉ có bộ đồ trên người.


Vì hoảng sợ, địch đe dọa phía sau, đói khát và có những băng lính không còn Cấp Chỉ Huy nữa sanh đạo tặc, đoàn người đòi cứ tiến đi không cần biết hậu quả ra sao. Trước tình thế hỗn quân hỗn quan này, các giới chức lãnh đạo không thể nào thuyết phục dân chúng và điều động xe cộ vũ khí thành một phòng tuyến phòng thủ. Và y như xảy ra khi quân Ðức bao vây khóa chặt Paris năm 1940, dân châu thành cũng chạy trốn, làm tắc nghẽn mọi con đường, Quân Ðội không thể nào di chuyển để bảo vệ họ trước kẻ địch. Tình hình đe dọa hỗn loạn. Cần phải có những bàn tay tổ chức. Nhưng Tướng Lê Duy Tất vẫn còn ở Pleiku với đoàn hậu vệ Biệt Ðộng Quân, trong khi Ðại Tá Lý bị kẹt ở giữa đoàn xe, đã phải bỏ xe đi bộ đến Bộ Chỉ Huy ở Cheo Reo.


Khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu di chuyển xuống Quốc Lộ số 7, Tướng cộng sản Văn tiến Dũng cũng đã bị đánh lừa theo kế hoạch của Tướng Phú. Trước khi khởi sự chiến dịch 275, Dũng đã chỉ vẽ nhiều lần cho tư lệnh sư đoàn 320 về những con Ðường Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không thể nào dùng nó như là lối thoát sau cùng. Tuy nhiên, sau khi nghe tin Tây Phương nói dân chúng đang bỏ Pleiku, các chuyến bay từ Pleiku về Nha Trang tấp nập và Hà Nội đánh tín hiệu ngày 16.3 báo cho biết Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II đã di tản về Nha Trang, Dũng mới bắt đầu nghĩ lại xem có con đường nào khác cho địch quân rút được không.


Ðến 4 giờ chiều cùng ngày, công điện của Hà Nội đến báo, tình báo Bắc Việt báo một đoàn xe dài từ Pleiku tiến về phía Nam xuống Ban Mê Thuột. Tin này làm cho Tướng cộng sản bối rối. Phải chăng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phản công hay là chạy trốn? Tình báo của Dũng cho ông ta câu trả lời ngay sau đó, đúng như tình hình diễn biến ở trên. Ðến lúc này bộ chỉ huy cộng sản mới dở bản đồ ra, chiếu đèn pin và dùng kiếng phóng đại dò tìm địch quân. Kiểm điểm lại, Tướng Dũng và Tướng Kim Tuấn, tư lệnh sư đoàn 320, mới biết bị Tướng Phú lừa ngay trước mắt, Tướng Dũng khiển trách Tướng Kim Tuấn, đồng thời phối trí các đơn vị di chuyển về tụ điểm Quốc Lộ 7 để tiêu diệt đoàn công voa di tản về Tuy Hòa.


Ðoàn xe Quân Dân miền Nam cầu mong sao cho thời gian chậm lại để đi kịp về miền biển không bị cộng sản tấn công. Nhưng không kịp nữa, khi màn đêm buông xuống ngày 18.3 lúc đoàn xe kẹt ở Cheo Reo, quân cộng sản bắt đầu pháo kích vào đám đông dân di tản. Họ hết còn bí mật nữa và kẻ thù ở trong tầm tay. Ðêm ngày 18.3, những đơn vị tiền phong của sư đoàn 302 đụng độ với đoàn xe Quân Ðoàn II ở Cheo Reo. Cùng lúc các đơn vị khác đụng độ với Ðoàn Quân hậu bị Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân ở Thị Trấn Thành An ngã tư Quốc Lộ 14 và Quốc Lộ 7. Ðại Tá Lý đi bộ mãi rồi cũng tới Bộ Chỉ Huy Cheo Reo kịp lúc để giúp điều động Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân vào vị trí phòng thủ chống các cuộc xung phong của quân Bắc Việt ở lối vào Thị Trấn phía Tây. Ðồng thời, pháo binh Bắc Việt rót vào. Ðoàn xe cái đầu ở Cheo Reo nhưng cái đuôi vẫn còn ở Pleiku. Việt cộng tha hồ pháo kích. Sáng hôm sau, xác chết và xác bị thương lính tráng và dân nằm la liệt trên Ðường Phố Cheo Reo (Phú Bổn) cùng với hàng trăm xe cộ bị phá hủy hoặc bỏ rơi. Một phi công trực thăng Không Quân Việt Nam báo cá ‘’Khi tôi bay thấp, tôi có thể nhìn thấy hàng trăm xác chết nằm rải rác dọc theo con đường cạnh các xe còn cháy’’.


Mặc dù lực lượng cộng sản đã chiếm được Phi Trường Phú Bổn, Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân vẫn còn giữ được lối vào châu thành và cây cầu phía Nam sửa xong. Ðây là một cú cải tử hoàn sinh, Ðại Tá Lý và các Cấp Chỉ Huy của ông có cơ hội ra lệnh cho đoàn xe lên đường trở lại với 2.000 xe nổ máy ầm ầm lăn bánh. Nhưng đoàn xe di chuyển không bao lâu, Tướng Phú cho trực thăng đến đón Ðại Tá Lý ra khỏi Cheo Reo. Thế là đầu không còn ai Chỉ Huy chỉ có Tướng Tất Chỉ Huy ở phía sau. Từ ngày 19 trở đi, Chỉ Huy đầu đoàn công voa là những Ðơn Vị Trưởng cấp Tiểu Ðoàn, Ðại Ðội mạnh ai lấy ra lệnh.


Bất kể hỏa lực của cộng sản, trực thăng của Không Quân Việt Nam bắt đầu đáp xuống bốc những người Lính và dân bị thương dọc theo con đường. Khi những người di tản được trực thăng chở đến Phi Trường Tuy Hòa, họ kể những chuyện khủng khiếp xảy ra cho họ. Ngày 19.3, đầu đoàn xe đã đến Sông Côn chỉ còn cách Tuy Hòa 40 km. Nhưng ở đoạn đuôi nửa đường giữa Cheo Reo và Sông Côn, quân Bắc Việt lại đánh ngang hông đoàn xe, lần này ở khoảng Thị Trấn Phú Túc. Không Quân Việt Nam được gọi đến oanh kích chặn tiến quân của địch nhưng đã nhầm lẫn bỏ bom xuống Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân (Làm tổn thất gần 1 Tiểu Ðoàn). Nhưng Liên Ðoàn này vẫn tiếp tục chiến đấu giữ cho con đường mở.


Ðoàn xe chạy qua Cheo Reo cho đến ngày 21.3 thì quân Bắc Việt chọc thủng các vị trí cố thủ của Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân, vượt qua chiếm châu thành và cắt đứt con đường. Trong số khoảng 160.000 người của đoàn xe di tản, nhiều người dân bị cô lập với Lính của Ba Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân. Theo lệnh Tướng Phú, Tướng Tất, vẫn còn ở phía sau đoàn xe, phải bỏ mọi vũ khí và quân trang nặng để chạy khỏi Phú Bổn càng nhanh càng tốt. Hàng ngàn người chạy vào rừng. Lính tráng với vợ con bên cạnh bị rượt bắt và tấn công nhiều lần. Một số ít giơ cờ lên được trực thăng đáp xuống bốc. Nhưng đa số cầm chắc bị đói và bị bắt.


Những người may mắn, các bà mẹ trẻ dính máu, các cụ già và phụ nữ người mặc áo dính bùn, và những người lính gào khóc, chân không, bước xuống trực thăng trước khi các phóng viên bủa ra hỏi thăm tin tức tại phi đạo Tuy Hòa. Các trực thăng bắt đầu chở thực phẩm và nước cho đoàn xe vẫn còn dài thòng di chuyển như con rắn vì đã có nhiều người đói.


Trong khi ở đuôi đoàn xe bị tấn công dữ dội và Tướng Tất cùng các Ðơn Vị còn lại cố chống trả bọc hậu, các Ðơn Vị đầu đoàn xe đã tiến vào ranh giới Tuy Hòa, trên con Sông Ba, cách Thị Trấn 20 cây số. Chiếc cầu nổi mà Tướng Cao Văn Viên hứa cũng đến kịp lúc, nhưng không kịp với lực lượng cộng sản đã đắp mô các ngã đường nằm giữa Sông và Tuy Hòa. Chiếc cầu không thể nào chở xe nổi đến chỗ Bắc nên phải mượn 4 phi cơ C-47 của Quân Ðoàn IV chở từng khúc đến.


Ngày 22.3, đúng một tuần sau khi đoàn xe di tản đầy máu và nước mắt rời Pleiku, chiếc cầu được bắc xong, đầu đoàn xe vội vã vượt qua con sông quá nặng làm chiếc cầu phao lật, người trong xe cộ phải lội sông. Nhưng đến cuối ngày, đoàn xe vẫn tiếp tục vượt qua khi chiếc cầu được sửa lật lại. Ngay cả đến thời thiết cũng tiếp tay cho cộng sản để làm cho đoạn cuối đoàn xe đến Tuy Hòa chưa hết nạn.


Trời nắng đột nhiên trở thành mưa gió lạnh lẽo cho người di tản. Không những thời thiết thay đổi xấu gây ra bệnh tật mà nó còn làm cho phi cơ quân sự không bay lên yểm trợ, chống trả những cuộc tấn công dưới đất của việt cộng. Từ ngày 22.3, Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân bị kẹt đánh trong một trận đánh bọc hậu vừa đánh vừa lui trước nỗ lực rượt theo rất rát của quân cộng sản. Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân đã thu góp xe tăng và pháo binh để bảo vệ con đường ở khúc quẹo thung lũng gần cầu nổi. Họ đánh câu giờ để cho người di tản và Lính kịp vượt qua sông.


Ðồng thời, những Ðơn Vị đi đầu đã vượt qua Sông Ba rồi phải phá mô việt cộng để tiến vào Tuy Hòa. Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân chỉ còn ít quân sống sót đã gom góp được hơn chục thiết giáp M-113 vừa đánh vừa ủi các mô tiêu diệt các vị trí cộng sản. Ðến ngày 25.3, vị trí cuối cùng của quân Bắc Việt bị tiêu diệt nốt, Biệt Ðộng Quân bắt tay được với Lực Lượng Ðịa Phương Quân ở phía Ðông Tuy Hòa.


Ðoàn xe khập khễnh tiến vào Tuy Hòa như một đoàn xe ma. Xấp xỉ 60.000 người dân đến đích, hai phần ba hay hơn 100.000 người bị bỏ lại dọc đường, chết sống không ai biết. Về phía Quân Ðội, 20.000 quân tiếp vận và yểm trợ, chỉ còn 5.000 người đến nơi. Sáu Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân 7.000 người, chỉ còn 9.00 đến Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Ðoàn II ở Nha Trang và đóng chốt bảo vệ Thành Phố. Một vị Tướng ở Bộ Tham Mưu đã buồn bã nói: ‘’70% lực lượng tác chiến của Quân Ðoàn II gồm Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, Biệt Ðộng Quân, Pháo Binh, Thiết Giáp, Công Binh Chiến Ðấu và các Ðơn Vị Truyền Tin đã bị tan rã từ ngày 10 đến 25.3’’. Vì thế chuyện phản công tái chiếm Ban Mê Thuột không thể giao phó cho Quân Ðoàn II.


Canh bạc Tướng Phú chọn Quốc Lộ 7 có thể đã an toàn nếu các cầu nổi được bắc kịp thời và Tướng Viên đổ lỗi cho vị Tư Lệnh Quân Ðoàn II. Tướng Viên tin rằng Tướng Phú phải hoãn cuộc di tản ít ngày để cho các Kỹ Sư Công Binh kịp bắc cầu. Tướng Viên cũng tin rằng hoãn lại cho phép điều động sắp xếp kỹ hơn nhất là kiểm soát dân chúng. Theo một vị Tướng Mỹ thông thạo các Sĩ Quan cao cấp Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lỗi lầm không những ở kế hoạch di tản của Tướng Phú mà ở ngay chính Tướng Phú và lỗi lầm đầu tiên và quan trọng nhất là để mất Ban Mê Thuột. Một vị Tư Lệnh Quân Ðoàn cương quyết hơn không cần phải rút quân như vậy. Một Sĩ Quan Tùy Viên Mỹ tuyên bố: ‘’Một vị Tư Lệnh mạnh như Tướng Toàn (Trước đó là Tư Lệnh Quân Ðoàn II) có thể phản công tái chiếm Ban Mê Thuột, sử dụng toàn bộ Hải, Lục, Không Quân có trong tay đã có thể kềm hãm quân Bắc Việt, cố thủ thêm một năm nữa’’.


Nhưng ngày 25.3.1975,không còn cơ hội đó. Cuộc di tản tự làm cho mình thất bại đau đớn, như lời Tướng Viên mô tả, hoàn tất, gây một cơn ác mộng tâm lý và chính trị to lớn cho ông Thiệu, cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cho dân chúng Việt Nam Cộng Hòa. Một dư luận đồn thổi khắp nước và cả ở những viên chức dân sự và quân sự cao cấp nói rằng: Tổng Thống Thiệu và người Mỹ, trong một thỏa hiệp mật của Hiệp Định Paris, đã cố kết với nhau cho cộng sản chiếm một phần lớn lãnh thổ Nam Việt Nam. Tại sao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu can trường suốt hai mươi năm không thua đột nhiên bị ra lệnh rút khỏi Cao Nguyên, bỏ Pleiku và Kontum không một tiếng súng giao tranh ?


Tinh thần đổ vỡ vì mất bốn Tỉnh trong ba tháng và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh nặng và vô ích không tái chiếm nổi Ban Mê Thuột đã làm cho dân chúng Nam Việt Nam hết còn tin tưởng Tổng Thống Thiệu có thể bảo vệ họ. Vậy ai khác có thể làm được? Phe đối lập ông Thiệu vô tổ chức, đứng ngoài chờ thời cơ và người Mỹ tiếp tục làm ngơ. Chỉ có ông Thiệu là người phải tìm ra cách nào để lấy lại tinh thần cho Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng trước khi ông tìm ra hướng đi hợp tình thế thì tin xấu từ Quân Ðoàn I bay về. Cũng lại di tản và cuộc di tản Quân Ðoàn I bi thảm không kém để kết thúc ngày 30.4.1975.

Đại Tá Trịnh Tiếu