Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp nhận bản thảo Bộ Quốc sử

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Bộ bản thảo gồm 25 tập thông sử, 5 tập Biên niên sử với sự tham gia của gần 300 nhà khoa học, thực hiện trong 5 năm.

Lễ tiếp nhận được tổ chức sáng 12/11, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cùng đại diện các bộ, ban, ngành, nhà khoa học tham dự sự kiện.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Đình Nam.
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Đình Nam.

Đề án “Nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam” (còn gọi là Quốc sử) biên soạn gồm 25 tập thông sử (trong đó, 13 tập Lịch sử Việt nam thời kỳ cổ-trung đại, 12 tập thời kỳ cận-hiện đại) và 5 tập Biên niên sự kiện lịch sử (trong đó, 3 tập thời kỳ cổ-trung đại, 2 tập thời kỳ cận-hiện đại). Đề án bắt đầu thực hiện từ năm 2015, Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan chủ trì phê duyệt và tổ chức thực hiện.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, Đề án đã huy động gần 300 nhà khoa học thuộc các cơ quan nghiên cứu và giảng dạy lịch sử trên cả nước, tại các viện nghiên cứu, các trường đại học, tập trung chủ yếu ở Hà Nội, Thừa Thiên – Huế và TPHCM thực hiện.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam (giữa) và Thứ trưởng Phạm Công Tạc (bìa trái) chụp ảnh cùng các thành viên nghiên cứu. Ảnh: Đình Nam.
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam (giữa) và Thứ trưởng Phạm Công Tạc (bìa trái) chụp ảnh cùng các thành viên nghiên cứu. Ảnh: Đình Nam.

Ông cho biết, lần đầu tiên một Đề án đặc biệt lớn về quy mô, phạm vi nghiên cứu, nhận được sự quan tâm của giới học giả trong, ngoài nước và cả người dân. Trong các chương trình về khoa học xã hội và nhân văn, đây là Đề án đầu tiên thực hiện việc xây dựng Thể lệ biên soạn để bảo đảm sự thống nhất của công trình. Thể lệ xác định rõ yêu cầu chung của công trình, mối quan hệ giữa các tập và quy định cụ thể về bố cục nội dung và các quy định trong cách trình bày của mỗi tập, bảo đảm ngay từ khi bắt đầu thực hiện, Ban Biên soạn của các đề tài cùng triển khai trên một quỹ đạo thống nhất.

Kinh phí thực hiện Đề án được cấp bởi Quỹ Nafosted. “Đây cũng là một trong các nhiệm vụ khoa học công nghệ đầu tiên thực hiện theo phương thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng”, Thứ trưởng Phạm Công Tạc nói.

Tại lễ tiếp nhận, đại diện các nhóm nghiên cứu đã báo cáo về quá trình thực hiện cũng như nội dung của từng nhiệm vụ trong Đề án. Thứ trưởng Phạm Công Tạc cho biết sau tiếp nhận bản thảo, sau đó sẽ tổ chức thẩm định chuyên gia, đánh giá nghiệm thu các đề tài thuộc đề án.

“Các đề tài tiếp tục điều chỉnh bản thảo theo ý kiến chuyên gia và kết luận của Hội đồng khoa học, đối chiếu giữa các tập Chính sử, Biên niên, để bảo đảm chất lượng biên soạn, tính thống nhất của bộ Quốc sử trước khi đưa vào biên tập xuất bản”, Thứ trưởng Phạm Công Tạc cho biết.

GS Nguyễn Văn Khánh (bìa phải) bàn giao bản thảo cho ông Đỗ Tiến Dũng, Giám đốc Quỹ Nafosted. Ảnh: Đình Nam.
GS Nguyễn Văn Khánh (bìa phải) bàn giao bản thảo cho ông Đỗ Tiến Dũng, Giám đốc Quỹ Nafosted. Ảnh: Đình Nam.

Phát biểu tại sự kiện, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng chưa có đề tài nào sau bước nghiệm thu cấp cơ sở lại có lễ bàn giao. Trong hàng nghìn đề tài, nhiệm vụ cấp Nhà nước nếu kể về số nhà khoa học tham gia, kinh phí lớn hơn, trang tài liệu sẽ có nhiều đề tài có số lượng nhiều hơn nhưng với đề tài này có nhiều điểm đặc biệt, thu hút sự quan tâm bởi ý nghĩa sự trân trọng quá khứ, các thời đại đã qua.

Phó Thủ tướng cho rằng, việc nghiên cứu để ra sản phẩm là một bộ Quốc sử, Bách khoa thư… mới hoàn thành nhiệm vụ cấp cơ sở. Sẽ còn nhiều bước tiếp theo để đi đến bước cuối cùng để xuất bản. Nhưng kết quả được bàn giao ngày hôm nay là sự đóng góp không mệt mỏi của các nhà khoa học lịch sử, trong đó có cố GS Phan Huy Lê. “Các nhà khoa học, lịch sử tạo nên sản phẩm là kết tinh của “hồn thiêng sông núi” để tồn tại mãi với thời gian”, Phó Thủ tướng nói.

Bích Ngọc

Hoàn thành bản thảo 30 tập bộ Quốc sử Việt Nam

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Bộ Quốc sử Việt Nam được biên soạn gồm 25 tập thông sử và 5 tập Biên niên sự kiện lịch sử với sự tham gia của gần 300 nhà khoa học hoàn thành bản thảo và được bàn giao cho Bộ KH-CN.

GS sử học Nguyễn Văn Khánh (bìa phải) bàn giao bản thảo cho đại diện Bộ KH-CN /// Ảnh Đinh Hoàn

GS sử học Nguyễn Văn Khánh (bìa phải) bàn giao bản thảo cho đại diện Bộ KH-CN ẢNH ĐINH HOÀN

Tại lễ tiếp nhận bản thảo sáng nay, 12.11, Thứ trưởng Bộ KH-CN Nguyễn Công Tạc cho biết, trong lịch sử Việt Nam, đã có nhiều bộ Quốc sử được biên soạn và khắc in, nhưng hiện chỉ còn 3 bộ là: Đại Việt sử ký toàn thư; Đại Việt sử ký tiền biên; và Khâm định Việt sử thông giám cương mục.

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhiều bộ thông sử về lịch sử Việt Nam được biên soạn và xuất bản, nhưng chỉ có bộ Lịch sử Việt Nam gồm 2 tập do Uỷ ban KH-XH Việt Nam chủ trì là bộ sử mang tính quốc gia đầu tiên (tập 1 xuất bản năm 1971, tập 2 xuất bản năm 1985).Sau 35 năm kể từ khi phát hành tập 2 bộ Lịch sử Việt Nam, Việt Nam và toàn thế giới đã trải qua nhiều sự kiện trọng đại, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi phải sớm có một bộ quốc sử mới được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với tư tưởng chính trị – xã hội thời đại.

Mặt khác, bộ Lịch sử Việt Nam với sứ mệnh là Bộ Quốc sử là cơ sở khoa học để các nhà lãnh đạo, quản lý tham khảo trong công việc hoạch định chính sách, xử lý các vấn đề liên quan đến lịch sử và giới thiệu lịch sử Việt Nam ra nước ngoài.

“Trên cơ sở đề xuất của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, được sự ủng hộ của lãnh đạo Ban Tuyên giáo T.Ư,  lãnh đạo Chính phủ và các nhà khoa học, sử học, Ban Bí thư T.Ư Đảng đã có văn bản giao Bộ KH-CN chủ trì phê duyệt và tổ chức thực hiện Đề án nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam. Ban Bí thư đã xác định bộ sách Lịch sử Việt Nam là bộ Quốc sử mang tính quốc gia chính thống””, ông Tạc nói.Sau 5 năm (2015-2020) nghiên cứu, biên soạn, đề án KH-CN cấp Quốc gia “Nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam” với sự tham gia đông đảo gần 300 nhà khoa học đã hoàn thành đảm bảo chất lượng và tính thống nhất của bộ Quốc sử.

Bộ Lịch sử Việt Nam được biên soạn gồm 25 tập thông sử (trong đó, 13 tập Lịch sử Việt nam thời kỳ cổ-trung đại, 12 tập thời kỳ cận-hiện đại) và 5 tập Biên niên sự kiện lịch sử (trong đó, 3 tập thời kỳ cổ-trung đại, 2 tập thời kỳ cận-hiện đại).Bộ Lịch sử Việt Nam được hoàn thành, nghiệm thu đưa vào phục vụ nhân dân sẽ là cột mốc quan trọng đánh dấu một chặng đường phát triển của Sử học Việt Nam.Phát biểu tại lễ tiếp nhận, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh, việc nghiên cứu để ra sản phẩm bộ Quốc sử… mới hoàn thành nhiệm vụ cấp cơ sở, nhưng kết quả ngày hôm nay là sự đóng góp không mệt mỏi của các nhà khoa học lịch sử, trong đó có cố GS-Phan Huy Lê.

Hoàn thành bản thảo 30 tập bộ Quốc sử Việt Nam - ảnh 1Phó thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại lễ bàn giao bản thảo Bộ Quốc sử Việt Nam ẢNH ĐINH HOÀN

Đến nay, việc nghiên cứu, biên soạn bộ Quốc sử đã hoàn thành một bước rất quan trọng, cơ bản. Phó thủ tướng đề nghị Bộ KH-CN khẩn trương, nghiêm túc và cẩn trọng nghiệm thu đề án ở cấp nhà nước. Các cơ quan hữu quan cùng nhau chuẩn bị các công việc cần thiết để có thể xuất bản bộ Quốc sử trong thời gian tới.

Ngoài ra, theo Phó thủ tướng, các đề án, đề tài khác như bộ Quốc chí, bộ Bách khoa thư, dự án Dịch thuật và phát huy giá trị tinh hoa các tác phẩm kinh điển phương Đông cần đẩy nhanh tiến độ nhằm hình thành những công trình đồng bộ, cùng nhau hợp thành những bộ phận quan trọng của khoa học xã hội và nhân văn.”Đây là trách nhiệm của chúng ta đối với quá khứ, lịch sử, tổ tiên; là trách nhiệm với tương lai và ngay cả hiện tại”, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh.

Bàn giao bản thảo bộ quốc sử ‘tôn trọng sự thật lịch sử’

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

TTO – Bộ Khoa học và công nghệ vừa tổ chức tiếp nhận bản thảo bộ quốc sử đồ sộ với 30 tập do gần 300 nhà khoa học trên cả nước biên soạn trong 5 năm trên tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử, do cố giáo sư Phan Huy Lê chủ biên.

Cố GS Phan Huy Lê
Bàn giao bản thảo bộ quốc sử tôn trọng sự thật lịch sử - Ảnh 1.

Phó thủ tướng Vũ Đức Đam cùng một số tác giả trong lễ bàn giao bản thảo bộ quốc sử ngày 12-11 – Ảnh: BTC

Bộ bản thảo gồm 25 tập thông sử, 5 tập biên niên sử thuộc bộ quốc sử Việt Nam vừa được bàn giao cho Bộ Khoa học và công nghệ ngày 12-11 trước sự chứng kiến của Phó thủ tướng Vũ Đức Đam và đại diện các bộ, ban ngành, nhà khoa học.

Sau lễ tiếp nhận này sẽ là quá trình nghiệm thu, chỉnh sửa, biên tập, chuẩn bị xuất bản trong thời gian tới.

Bộ bản thảo này là đề án Nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam (còn gọi là Quốc sử) biên soạn gồm 25 tập thông sử (trong đó, 13 tập Lịch sử Việt Nam thời kỳ cổ – trung đại, 12 tập thời kỳ cận – hiện đại) và 5 tập Biên niên sự kiện lịch sử (trong đó, 3 tập thời kỳ cổ – trung đại, 2 tập thời kỳ cận – hiện đại).

Đề án bắt đầu thực hiện từ năm 2015, Bộ Khoa học và công nghệ là cơ quan chủ trì phê duyệt và tổ chức thực hiện, Quỹ Nafosted cấp kinh phí theo hình thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng.

Gần 300 nhà khoa học thuộc các cơ quan nghiên cứu và giảng dạy lịch sử trên cả nước, tại các viện nghiên cứu, các trường đại học, tập trung chủ yếu ở Hà Nội, Thừa Thiên – Huế và TP.HCM được huy động tham gia biên soạn bộ quốc sử đồ sộ này.

Giáo sư Phan Huy Lê mất khi bộ sách đang được biên soạn vào 2 năm trước, nhưng tên ông vẫn trân trọng được đặt vào vị trí chủ biên bộ sách.

Chia sẻ với Tuổi Trẻ Online, PGS.TS Trần Đức Cường – chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam – một trong các tác giả tham gia viết bộ quốc sử – cho biết trước khi giáo sư Phan Huy Lê mất thì toàn bộ 30 tập của bộ quốc sử đã hoàn thành bản sơ thảo.

Trong đó, mỗi tập đều ghi dấu công lao to lớn của giáo sư Phan Huy Lê. Giáo sư Lê cũng là người chịu trách nhiệm chính về toàn bộ nội dung của bộ sách nên đương nhiên ông vẫn là chủ biên của bộ sách này.

Còn nhiều công việc phải làm để xuất bản được bộ sách này.

Theo Bộ Khoa học và công nghệ, ban biên soạn đã thực hiện nghiêm túc tinh thần chỉ đạo của Ban Bí thư, coi đây là bộ quốc sử mang tính quốc gia, chính thống.

Bộ sách được biên soạn trên tinh thần “kế thừa những bộ sử trước đây, tổng kết và nâng cao được toàn bộ kết quả nghiên cứu của giới sử học cả nước, tiếp thu có chọn lọc thành tựu nghiên cứu của các nhà sử học nước ngoài về lịch sử Việt Nam từ trước tới nay”.

Bộ quốc sử cũng đồng thời “có những luận giải mới, những đánh giá phù hợp về những vấn đề khoa học lịch sử đang đặt ra”, “quán triệt sâu sắc quan điểm khoa học, biện chứng, khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể; tôn trọng sự thật lịch sử”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc (tham gia biên soạn tập biên niên các sự kiện lịch sử thời kỳ cận đại) không bình luận về những tiến bộ trong nghiên cứu lịch sử của bộ sách này mà cho biết tất cả những nguyên tắc biên soạn trên là yêu cầu mà cơ quan nhà nước đưa ra khi đặt hàng ban biên tập, còn các tác giả đáp ứng được đến đâu những đòi hỏi này trong bộ sử thì phải đợi cơ quan thẩm định sẽ thẩm định.

“Trận chiến ngày ấy không thể mờ”

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

TT – Biết tôi chuẩn bị lên Lạng Sơn, biên giới phía Bắc, trước chuyến đi đại tá Đỗ Phấn Đấu, chính ủy Đoàn kinh tế quốc phòng 337 (trước đây là sư đoàn 337), bảo: “Lên đó rồi thì cố lên đồi Pa Pách thắp hương cho anh em liệt sĩ 337. Nếu được thì đi tìm ngọn đồi mang tên Vi Văn Thắng nhé”.

EIsGLVtl.jpg
Miếu thờ do người dân xã Hồng Phong dựng lên bên bãi đất nơi ngày xưa chôn cất tạm thời các liệt sĩ hi sinh trong cuộc chiến chống quân Trung Quốc xâm lược – Ảnh: Ngọc Quang

Đồi Pa Pách là nơi diễn ra cuộc chiến khốc liệt. Nơi đó, những tên tuổi liệt sĩ còn khắc ghi trong lịch sử sư đoàn như trung đội trưởng Trần Minh Lệ của đại đội 9, tiểu đoàn 3, trung đoàn 4. Còn Vi Văn Thắng là liệt sĩ của trung đoàn bộ binh 197 thuộc sư đoàn 337, sau khi hi sinh tên anh được người dân đặt cho một ngọn đồi ở bản Cỏn Làng, xã Hồng Phong (huyện Văn Lãng, Lạng Sơn) – nơi anh ngã xuống.

Hai năm trước, dịp tháng 7-2012, khi sư đoàn 337 tổ chức khánh thành nhà bia chiến thắng của đơn vị trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, tưởng niệm các liệt sĩ sư đoàn hi sinh ở khu vực cầu Khánh Khê trên sông Kỳ Cùng, đại tá Đỗ Phấn Đấu đã đọc một bài văn tế. Trong bài văn tế ấy, tên tuổi những người lính sư đoàn 337 hi sinh đã vang lên oai linh giữa núi rừng biên ải:

“Máu xương các anh không hề uổng, bia ghi công đây sáng từng dòng.Trận chiến ngày ấy không thể mờ, chuyện năm xưa đã tạc vào sách sử.Tổ quốc vẫn khắc ghi:Trần Minh Lệ dũng lược ngoan cường, cùng trung đội đập tan 18 đợt tiến công của địch, giữ chốt mấy ngày đêm.Lịch sử mãi lưu truyền:Vi Văn Thắng táo bạo kiên gan, hết đạn vẫn giương lê tả xung hữu đột khiến quân thù khiếp sợ.Đất Hồng Phong đời đời ghi nhớ chiến công. Rừng Bình Trung mãi mãi tri ân liệt sĩ”.

TaXTP8DS.jpg
“Tại mảnh đất này, cuối tháng 2 đầu tháng 3-1979, sư đoàn 337 cùng quân dân tỉnh Lạng Sơn đã chặn đứng và đánh bại quân xâm lược, lập chiến công vẻ vang trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới quốc gia”. (Lời ghi tại Nhà bia chiến thắng sư đoàn 337 trên đồi Pa Pách) – Ảnh: N.Quang

Thượng úy Nguyễn Đức Quý, trinh sát của Tỉnh đội Lạng Sơn, đưa chúng tôi ngược từ thành phố lên hướng Đồng Đăng, gần biên giới Việt – Trung rồi từ đó rẽ trái theo quốc lộ 1B vào huyện Văn Lãng. Đã 35 năm trôi qua kể từ tháng 2-1979, khi “tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới”. 35 năm, bao nhiêu vật đổi sao dời, sư đoàn 337 được mệnh danh là “Cánh cửa thép Lạng Sơn” những năm 1979-1980 khốc liệt ấy nay đã trở thành “Đoàn kinh tế quốc phòng 337” đứng chân tại miền tây Quảng Trị. Nhiều lần đi về với vùng đất miền tây quê nhà, tôi vẫn ghé vào doanh trại của đoàn, hay gặp những người lính của sư đoàn 337 năm nào đang tận tụy giúp người dân Vân Kiều, Pa Kô ở vùng cao Hướng Hóa thay đổi tập quán sản xuất. Cuộc sống thật bình yên khi những người lính sát cánh cùng người dân lo phát triển kinh tế, nhưng với những cựu chiến binh sư đoàn 337, những anh linh đồng đội nằm lại chốn biên cương phía Bắc luôn tha thiết giữa cõi lòng.

“Trần Minh Lệ đã chiến đấu đến giọt máu cuối cùng và anh dũng hi sinh. Đối phương tuy chiếm được cao điểm nhưng chúng phải trả một giá rất đắt. Tấm gương hi sinh anh dũng của Trần Minh Lệ là động lực cổ vũ, khích lệ to lớn với cán bộ chiến sĩ sư đoàn bám trụ chiến đấu tiêu diệt địch, bảo vệ chốt”

Giờ chúng tôi đang đứng trên đồi Pa Pách. Gió từ các lũng núi đá hun hút lồng lên buốt giá. Trên điểm cao này, tầm mắt bao quát cả một chặng quốc lộ 1B băng qua sông Kỳ Cùng bằng cây cầu Khánh Khê nổi tiếng. Cây cầu Khánh Khê mới giờ xây dịch lên so với cây cầu cũ chừng 300m, nhưng chỗ vị trí phía bắc cây cầu cũ vẫn còn dấu tích của một tấm bia kỷ niệm. Mấy năm trước, bức ảnh chụp tấm bia ximăng ở đầu cầu Khánh Khê này từng khiến dư luận xôn xao bởi dòng chữ khắc trên bia: “Nơi đây sư đoàn 337 đã đánh bại và chặn đứng quân Trung Quốc xâm lược” đã bị đục bỏ mất mấy chữ “quân Trung Quốc”.

Tháng 2-1979, khi tấn công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, ở địa bàn này quân Trung Quốc đã tìm mọi cách vượt qua cầu Khánh Khê, băng qua sông Kỳ Cùng để vu hồi về phía đèo Sài Hồ và Đồng Mỏ, từ đó bao vây thị xã Lạng Sơn. Cuộc chiến đấu chặn địch trên hướng này của sư đoàn 337 khó mà kể hết trong một bài báo nhỏ, chỉ biết rằng địch không thể xuyên thủng “cánh cửa thép” của sư đoàn 337 nhưng hàng trăm chiến sĩ đã ngã xuống khi bảo vệ phòng tuyến này. Những người lính đã tham gia bảo vệ biên giới phía Bắc những năm tháng ấy khó có thể quên những trận đánh với chiến thuật “biển người” của quân Trung Quốc. Điểm cao 649 mà trung đội Trần Minh Lệ đóng chốt cũng vậy. Suốt cả ngày

28-2-1979, địch dùng hơn một tiểu đoàn tấn công nhằm chiếm cao điểm này nhưng đều bị đánh bật. 5g sáng hôm sau (1-3-1979), chỉ một trung đội chọi với một tiểu đoàn nhưng anh em chiến sĩ trung đội 1 đã ngoan cường đẩy lùi 18 đợt tấn công. Lệ vừa chỉ huy đưa anh em thương binh, liệt sĩ về tuyến sau vừa cùng anh em còn lại trong trung đội phản kích địch, giữ vững cao điểm đến chiều tối. Mặc dù chiếm được cao điểm 649 nhưng địch vẫn không chọc thủng được phòng tuyến sông Kỳ Cùng. Trước khi rút lui, để chặn sự truy kích của quân ta, địch đã đặt bộc phá giật sập cầu Khánh Khê.

Cuộc chiến ở Khánh Khê chỉ diễn ra chưa đầy ba tuần với sư đoàn 337 nhưng đã có hơn 650 cán bộ chiến sĩ hi sinh.

Nghĩa trang tạm của những người línhChúng tôi lên một ngọn đồi nằm cạnh Nhà máy ximăng Hồng Phong của xã Hồng Phong bên đường 1B. Theo con đường mòn ngoằn ngoèo lên một mái đồi, theo hướng tây bắc, đó là trận địa mà tiểu đội trưởng Vi Văn Thắng hi sinh. Ngọn đồi đó nay dân không còn ở, nhưng những người lính của trung đoàn 197 thuộc sư đoàn 337 đã tham chiến tại đây thì không thể quên câu chuyện về Vi Văn Thắng, người con dân tộc Tày quê ở Lộc Bình (Lạng Sơn).Thật bất ngờ, khi tìm đường lên cao điểm Vi Văn Thắng hi sinh, chúng tôi đi ngang một bãi đất mọc đầy dứa dại và chi chít miệng hố. Vợ chồng anh Dương Công Đính, người Tày sống cạnh đó, bảo đây là “bãi ông Chinh”, “Chinh nào?” – chúng tôi hỏi lại. “Lê Đình Chinh ấy”. Hóa ra đây cũng là khu vực thuộc xã Hồng Phong, ngày 25-8-1978 Lê Đình Chinh bị quân Trung Quốc sát hại tại cửa khẩu Hữu Nghị. Anh là người chiến sĩ đầu tiên hi sinh trên mặt trận biên giới phía Bắc và được an táng tại bãi đất ở xã Hồng Phong này, mấy năm sau đồng đội mới đưa anh về quy tập tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Cao Lộc (Lạng Sơn). Đến tháng 1-2012, hài cốt Lê Đình Chinh mới được đưa từ Cao Lộc về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Hàm Rồng, quê nhà Thanh Hóa.Chị Đính kể cả bãi đất này vốn là nơi chôn cất các liệt sĩ tạm thời khi hi sinh, rồi sau đó các đơn vị, người nhà tìm lên đây cất bốc, quy tập. Cho dù những liệt sĩ đã được quy tập đi nơi khác thì dân nơi đây vẫn xây một miếu thờ nhỏ nấp dưới tán rừng thông, những ngày rằm, dịp tết… hương khói cho những người ngã xuống. Dù đã 35 năm rồi nhưng giữa lòng dân, chưa khi nào các anh bị lãng quên!

LÊ ĐỨC DỤC – ĐỨC BÌNH

Bức tượng đài thứ 5 của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ được dựng trên đất Nga

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

Đại học bang Saint Petersburg.

© Sputnik / Aleksey Danichev

Ngày nay, ở nước Nga có 4 tượng đài vinh danh nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tượng đài Hồ Chí Minh đầu tiên đã được dựng ở Matxcơva vào năm 1990. Trong những năm 2000, các tượng đài được dựng lên ở Vladivostok và Ulyanovsk.

Điều thú vị là những người Việt Nam, các doanh nhân và gia đình họ sống và làm việc tại Ulyanovsk làm theo truyền thống Việt Nam bỏ vàng vào khi đúc tượng thiêng liêng, đã hết lòng hiến tặng những đồ trang sức bằng vàng để đúc tượng Bác tại thành phố này. Bức tượng Hồ Chí Minh thứ tư là nhỏ nhất, cao nửa mét, được đặt trong khuôn viên Viện Hồ Chí Minh ở Saint Petersburg.

Nghi lễ khánh thành tượng đài CT Hồ Chí Minh tại Vladivostok

© ẢNH : TỔNG LÃNH SỰ QUÁN VIỆT NAM TẠI VLADIVOSTOK

Chủ tịch Hồ Chí Minh trở lại với thành phố Nga “cứu tinh”

Theo quan điểm của chính quyền địa phương, một bức tượng nhỏ rõ ràng là không đủ cho một thành phố mà Hồ Chí Minh lần đầu tiên đặt chân lên đất Nga vào năm 1923. Vào tháng 9 năm 2019, trong thời gian Hội thảo Nga-Việt “Di sản tinh thần của Hồ Chí Minh” được tổ chức ở Saint Petersburg, Thống đốc Alexander Beglov đã có cuộc hội đàm với Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng. Tại cuộc gặp này ông Beglov vui mừng thông báo việc chính quyền thành phố St. Petersburg có kế hoạch xây dựng tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ở thủ đô phương Bắc của nước Nga.

Tại cuộc hội đàm, ông Alexander Beglov lưu ý rằng, thành phố của chúng tôi và Việt Nam được liên kết bởi một lịch sử chung. Chính tại đây, đồng chí Hồ Chí Minh đã lần đầu tiên đặt chân lên đất Nga. Sự kiện đó đã đặt cơ sở cho mối quan hệ hữu nghị lâu năm, ngày nay đã phát triển thành quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Liên bang Nga và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Saint Petersburg đã ký thỏa thuận kết nghĩa với thành phố Hồ Chí Minh và đang phát triển thành công mối quan hệ với thành phố này: thực hiện các dự án chung, tổ chức các diễn đàn thanh niên Nga -Việt, nhiều doanh nghiệp của thành phố trên sông Neva sản xuất các sản phẩm theo đơn đặt hàng của Việt Nam, các quán cà phê Việt Nam ngày càng trở nên phổ biến ở thủ đô phương Bắc của nước Nga. Saint Petersburg sẽ làm mọi việc cần thiết để dựng tượng đài Hồ Chí Minh, nếu sáng kiến này nhận được sự chấp thuận của phía Việt Nam, ông Beglov nhấn mạnh.

Sáng kiến ​​này đã được ban lãnh đạo Việt Nam chấp thuận, và vào cuối tháng 9 năm nay, chính quyền thành phố đã gửi hàng trăm lời mời tới các vị khách danh dự đến dự lễ đặt viên đá đầu tiên để xây dựng tượng đài.

Chủ tịch nước Việt Nam DCCH Hồ Chí Minh thăm Sevastopol

© SPUTNIK / A. BAZHENOV

Có bao nhiêu phần đời Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với nước Nga?

Và doanh nhân người Việt tại St.Petersburg Dương Chí Kiên, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam tại Nga, cũng nhận được lời mời này. Trong cuộc phỏng vấn của Sputnik, ông nói:

“Phó Thị trưởng Nikolay Bondarenko, Đại sứ Việt Nam tại LB Nga Ngô Đức Mạnh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt – Nga Đỗ Xuân Hoàng và Chủ tịch Trung ương Hội Hữu nghị Nga-Việt Vladimir Buyanov sẽ chủ trì buổi lễ. Sự kiện sẽ diễn ra vào ngày 8 tháng 10, trên quảng trường tại giao lộ của Đại lộ Prosveshcheniya và con phố từ năm 1978 mang tên thành phố kết nghĩa ở Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh. Buổi lễ sẽ được tổ chức ngoài trời, virus corona sẽ không gây trở ngại. Chính quyền thành phố không áp đặt những hạn chế nghiêm ngặt, các trường học, rạp chiếu phim, nhà hàng vẫn hoạt động bình thường. Theo kế hoạch, tượng đài Hồ Chí Minh bằng đồng cao 3-4 mét, quay về hướng Việt Nam, sẽ được lắp đặt trên bệ đá cao hai mét. Bây giờ chính quyền thành phố đang quyết định ai sẽ là tác giả của tượng đài, nó sẽ trông như thế nào, và sẽ được đúc ở đâu”.

Ông Dương Chí Kiên nói với Sputnik rằng, những người Việt Nam ở Saint Petersburg phấn khởi trước thông tin về việc xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh tại thành phố mà họ xem như quê hương thứ 2 của mình.

Hoàng Văn Hoan và vụ thanh trừng sau 1979

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

hoangvanhoan1Nguồn ảnh

Balazs Szalontai

Tháng Bảy 1979, ông Hoàng Văn Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị, Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Trung Quốc, bỏ trốn theo Trung Quốc.

Khi đã lưu vong ở Trung Quốc (TQ), Hoàng Văn Hoan, nhân vật lãnh đạo vào hàng cao cấp nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đào thoát ra nước ngoài từ trước tới nay, nói rằng sau cuộc chiến Việt – Trung, có tới 300.000 đảng viên thân TQ bị phe “thân Liên Xô” của Lê Duẩn loại bỏ.

Một cuộc thanh trừng nội bộ quả đã diễn ra trong 1979-80, nhưng như hồ sơ Hungary tiết lộ, ông Hoan đã phóng đại nhiều về tầm mức. Việc thanh trừng vừa là nỗ lực bóc tách các phần tử “thân TQ” thật sự và tiềm năng, nhưng nó cũng là biểu hiệu của khủng hoảng kinh tế – xã hội ăn sâu ở VN.

Vai trò cá nhân

Sự đóng góp của ông Hoàng Văn Hoan cho phong trào Cộng sản VN không to lớn như ông nói mà cũng không nhỏ bé như phát ngôn nhân của Hà Nội cáo buộc sau khi ông đã bỏ trốn sang Trung Quốc. Là thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Đông Dương, ông có thời gian dài ở TQ. Trong cuộc chiến kháng Pháp, ông giữ chức thứ trưởng quốc phòng. Năm 1948, ông được giao việc thành lập Văn phòng Hải ngoại ở Thái Lan, và sau đó là đại sứ đầu tiên của Bắc Việt ở TQ.Mặc dù là thành viên thứ 13 trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm 1956, và sau này vào Bộ Chính trị, nhưng Hoan không thuộc vào nhóm lãnh đạo chủ chốt nhất. Vị trí cao nhất ông từng giữ là phó chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội, và không nằm trong Ban Bí thư đầy quyền lực. Kết quả là, vị trí của ông bị lung lay hơn trước biến đổi trong quan hệ Việt – Trung, khi so với Trường Chinh hay Lê Duẩn là những người luôn có thể giữ vị trí, cho dù Hà Nội thân thiện với Bắc Kinh hay không.Được biết vì tình cảm thân thiện với TQ, ông Hoan đạt đỉnh cao sự nghiệp vào đầu thập niên 1960 khi Bắc Việt tạm thời có thái độ thân TQ trong tranh chấp Liên Xô – TQ.

Năm 1963, khi Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm bị thay bằng Xuân Thủy (thân TQ hơn), ông Hoan cũng thành Trưởng Ban liên lạc đối ngoại Trung ương Đảng.Nhưng trong giai đoạn 1965-66, quan hệ Xô – Việt bắt đầu cải thiện, cùng lúc với căng thẳng gia tăng giữa Hà Nội và Bắc Kinh. Trong môi trường mới này, ban lãnh đạo cảm thấy cần thay cả Xuân Thủy và Hoàng Văn Hoan bằng những cán bộ ít dính líu hơn đến chính sách thân TQ trước đây của ban lãnh đạo Hà Nội. Năm 1971-72, Hà Nội bất mãn vì Trung – Mỹ làm hòa, có vẻ càng làm vị thế Hoan bị suy giảm.

Dù vậy ông vẫn là nhân vật quan trọng trong quan hệ Việt – Trung. Ví dụ, năm 1969, chính ông đã giúp hoàn tất cuộc đàm phán kéo dài và khó khăn quanh viện trợ kinh tế của TQ.

Tháng Năm 1973, ông tiến hành hội đàm bí mật tại Bắc Kinh về vấn đề Campuchia. Năm 1974, Hoan cùng Nguyễn Côn, Bí thư Trung ương Đảng, đi TQ để �chữa bệnh�, nhưng có thể sứ mạng thực sự lại liên quan đến đàm phán biên giới bí mật Việt – Trung từ tháng Tám tới tháng 11, mà kết quả đã thất bại.Tình hữu nghị giữa hai nước cộng sản Việt Nam – Trung Quốc đổ vỡ năm 1979Sự khác biệt giữa TQ và VN về Campuchia và Hoàng Sa đã không thể hàn gắn và làm cho Hoàng Văn Hoan không còn có thể đóng vai trò trung gian thành công. Lê Duẩn và các đồng chí kết luận họ không còn cần ông nữa. Những liên lạc của ông với Bắc Kinh nay bị xem là rủi ro an ninh.Sau Chiến tranh Việt Nam, những cán bộ mà Lê Duẩn không còn cần hoặc tin tưởng dần dần bị thay thế. Năm 1975, công chúng không còn thấy Nguyễn Côn, và năm sau, Hoàng Văn Hoan bị ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Năm 1979, khi xung đột Việt – Campuchia và Việt – Trung lan rộng thành chiến tranh, vị trí của Hoan càng trở nên bấp bênh. Sang tháng Bảy, ông quyết định đào tẩu. Lấy cớ ra nước ngoài chữa bệnh, ông đã xuống máy bay ở Pakistan và sang Trung Quốc, ở lại đó cho tới ngày qua đời năm 1991.Tại nhiều cuộc họp báo, Hoàng Văn Hoan giải thích sự đào tẩu bằng cách nhấn mạnh ông đã từ lâu chống đối chính sách của Lê Duẩn, mà theo ông là đã biến Việt Nam thành vệ tinh Xô Viết, làm người Hoa bị phân biệt đối xử, và dẫn tới việc chiếm đóng Campuchia. Cáo buộc của ông một phần dựa trên sự thật, vì ngay từ tháng Giêng 1977, Đảng Cộng sản VN đã dự định giải tán và tái định cư một phần cộng đồng người Hoa ở Chợ Lớn. Hiệp ước Việt – Xô 1978 cũng là một phần quan trọng cho sự chuẩn bị đánh Campuchia. Nhưng mặt khác, Hoan và nhà bảo trợ TQ dễ dàng bỏ qua là năm 1978, Việt Nam vẫn tìm cách tránh phụ thuộc Moscow quá mức bằng việc cải thiện quan hệ VN – Asean, và thảo luận cả khả năng gia nhập Asean trong tương lai.Sự đào thoát của ông Hoan hẳn làm Bộ Chính trị vô cùng lúng túng vì họ vẫn quen tự mô tả mình là mẫu mực đoàn kết. Bắc Kinh càng làm vết thương thêm đau rát. Hai ngày sau khi tới Bắc Kinh, Hoàng Văn Hoan được Tổng Bí thư Hoa Quốc Phong đón tiếp, và ông Hoa tuyên bố �những kẻ phá hoại tình hữu nghị Việt – Trung sẽ vỡ đầu�.Mặc dù VN nhấn mạnh sự trốn chạy của Hoàng Văn Hoan chỉ là trường hợp riêng lẻ, nhưng Bộ Chính trị biết chính sách của họ không được toàn dân ủng hộ. Mùa xuân 1979, khi giới chức bắt 8000 Hoa kiều tái định cư từ Hà Nội vào �Vùng Kinh tế Mới�, nhiều người VN đã không đồng ý khi các đồng đội người Hoa của họ bị buộc ra đi. Khác biệt cũng tồn tại trong nội bộ lãnh đạo. Tháng Sáu 1978, Trường Chinh và Lê Văn Lương ban đầu phản đối việc thông qua nghị quyết gọi TQ là kẻ thù nguy hiểm nhất của VN.

Khủng hoảng xã hội

Quyết loại bỏ những thành phần �bội phản�, giới chức có những biện pháp khắc nghiệt. Người Mèo và các cộng đồng thiểu số khác một phần đã phải ra đi khỏi các tỉnh miền bắc. Tại phiên họp của Ban Chấp hành Trung ương trong tháng Tám, ban lãnh đạo bàn vụ Hoan trốn thoát và chỉ trích ngành an ninh. Nhiều cán bộ cao cấp, như Lý Ban, cựu thứ trưởng ngoại thương có gốc Tàu, bị quản thúc. Tháng Giêng 1980, Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn bị buộc về hưu. Kiểm soát ngành an ninh được chuyển sang cho một ủy ban mới thành lập do Lê Đức Thọ đứng đầu. Xuân Thủy, người đã tiễn chân ông Hoan hồi tháng Sáu, cũng bị giáng chức.Tuy nhiên, sự thanh trừng không lớn như ông Hoan cáo buộc, và cũng không đơn thuần do xung đột Việt – Trung.

Trước hết, các vụ tảo thanh trong hàng ngũ đảng đã bắt đầu từ những năm trước. Giai đoạn 1970 – 75, chừng 80.000 đảng viên bị loại khỏi hàng ngũ, còn trong giai đoạn 1976-79, con số này là 74.000.

Thứ hai, nhiều người mất thẻ Đảng vì những lý do không liên quan xung đột Việt – Trung. Việc trục xuất các cá nhân thân TQ đạt đỉnh cao từ tháng 11-1979 tới tháng Hai 1980, nhưng từ tháng Ba, quá trình này bắt đầu chậm lại, và ưu tiên của chiến dịch sau đó hướng sang chống tham ô, biển thủ và các hành vi tội phạm.Tại miền Nam, khu vực mà số đảng viên chỉ chiếm một phần ba của đảng, giới lãnh đạo định loại bỏ chừng 5% đảng viên (so với tỉ lệ trung bình cả nước là 3%).

Điều này không chỉ chứng tỏ Hà Nội nghi ngờ dân số miền Nam mà đây còn là cố gắng kỷ luật những cán bộ người Bắc đã lạm dụng quyền lực sau khi được bổ nhiệm vào Nam.Các vấn nạn xã hội, kinh tế và tội phạm mà Đảng Cộng sản phải đương đầu có vẻ khiến họ cố gắng hạn chế thiệt hại hơn là mở đợt thanh trừng chính trị to lớn. Thất nghiệp và khan hiếm hàng hóa làm trộm cướp gia tăng. Giới chức đã phải huy động quân đội canh giữ ở cảng Hải Phòng nhưng cũng không có kết quả. Ngược lại, một nhà ngoại giao Hungary nhận xét quân đội khi đó đang trở thành �quân dự bị gồm những kẻ tội phạm�. Không có việc làm, nhiều người lính giải ngũ đã phải thành trộm cướp.

Trong tình hình đó, ban lãnh đạo cộng sản, dù đã kết án tử hình vắng mặt với Hoàng Văn Hoan năm 1980, chỉ muốn xóa tên ông ra khỏi ký ức công chúng thay vì đưa ông ra cho người dân mắng chửi.

Và đến lúc qua đời, ông cũng đã “hết hạn sử dụng” đối với nước chủ nhà TQ, vì lúc đó, cả Hà Nội và Bắc Kinh đều muốn làm hòa chứ không cãi nhau quanh những sự kiện của quá khứ.

Về tác giả: Tiến sĩ Balazs Szalontai từng dạy ở Đại học Khoa học Công nghệ Mông Cổ và hiện là một nhà nghiên cứu độc lập ở Hungary. Ông là tác giả cuốn sách Kim Nhật Thành trong thời kỳ Khruschev (Đại học Stanford và Trung tâm Woodrow Wilson xuất bản, 2006). Bài viết dựa vào kho tư liệu tại Hungary và thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

Bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam là nội chiến hay kháng chiến?

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

Bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam là nội chiến hay kháng chiến? Dịch từ bài “What Was the Vietnam War About?”, tác giả: Giáo sư sử học Christian G. Appy, Đại học Massachusetts, đăng lần đầu ngày 26/3/2018. Bài dịch giữ nguyên ngôi thứ của tác giả, là một người Mỹ. Cảnh báo: Wall of Texts, ai lười có thể chỉ đọc đoạn bôi đen ở dưới.

Bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam là nội chiến hay kháng chiến?
Bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam là nội chiến hay kháng chiến?

Liệu cuộc chiến mà người Mỹ phát động ở Việt Nam là một cuộc đấu tranh cao cả chống lại đám Cộng sản hiếu chiến, hay là sự can thiệp vào một cuộc nội chiến, hay là do âm mưu phản động của đế quốc nhằm đàn áp phong trào giải phóng dân tộc? Người ta đã tranh luận nảy lửa về việc này từ thập niên 60 và tới giờ vẫn chưa ngã ngũ.

Cách mà chúng ta đặt tên và định nghĩa về cuộc chiến gây tranh cãi nhất này của Mỹ này không chỉ có lợi ích giới hạn về học thuật, mà còn định hình ký ức của công chúng về ý nghĩa của nó và có ảnh hưởng lớn tới bản sắc và chính sách của nước Mỹ.Trong những năm chiến tranh, các nhà lãnh đạo Mỹ khăng khăng rằng cần triển khai lực lượng quân sự tới bảo vệ một quốc gia có chủ quyền – miền Nam Việt Nam khỏi đám Cộng sản hiếu chiến. Năm 1965, Tổng thống Lyndon B Johnson đã phát biểu “Thực tế rõ ràng là Bắc Việt đã tấn công quốc gia Nam việt Nam độc lập. Mục tiêu của Bắc Việt là chinh phục hoàn toàn xứ này”.

Đáng phiền lòng hơn, Johnson đã nhanh chóng bổ sung rằng Cộng sản ở Việt Nam nhận được sự ủng hộ và chỉ đạo từ Liên Xô và Trung quốc (theo kịch bản được các Tổng thống tiền nhiệm gồm Harry Truman, Dwight Eisenhower and John F. Kennedy viết sẵn ra). Do đó, cuộc chiến ở Nam Việt Nam không chỉ là một cuộc xung đột ở tầm quốc gia và nhỏ lẻ, không can hệ gì tới an ninh quốc gia của Mỹ mà là một vấn đè không thể tách rời khỏi ưu tiên cao nhất của Mỹ – cuộc đấu tranh nhằm ngăn chặn Cộng sản trên toàn cầu trong Chiến tranh Lạnh.

Các nhà hoạch định chính sách đã nâng cao thêm quan điểm khi cảnh báo rằng nếu Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản, các quốc gia láng giềng chắc chắn sẽ lần lượt sụp đổ và trở thành Cộng sản như một hàng quân domino. Ba mươi năm sau, Robert McNamara – kiến trúc sư chính của cuộc chiến ở Việt Nam, là Bộ trưởng quốc phòng dưới cả thời Kenedy và Johnson, đã lên án những tuyên bố trong thời chiến này – chính là những thứ mà ông ta và vô số người khác đã sử dụng để biện minh cho cuộc chính.

McNamara đã viết 2 cuốn sách để khẳng định nước Mỹ đã “vô cùng sai lầm” khi can thiệp vào Việt Nam, bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết và đánh giá sai tình hình. McNamara đã viết rằng giá như ông ta hiểu rõ làn sóng chủ nghĩa dân tộc dâng trào ở Việt Nam, hay giá như ông ta hiểu rằng Hà Nội không phải là con tốt của Bắc Kinh hoặc Moscow, hay giá như ông ta nhận ra thuyết domino là sai hoàn toàn, ông ta sẽ thuyết phục mấy vị sếp tổng thống của mình rút quân khỏi Việt Nam. Và thế là hàng triệu sinh mạng sẽ được cứu. “GIÁ NHƯ”.

Tuy nhiên, trên thực tế, vào thập niên 60 khi McNamara tích cực vận động cho việc leo thang quân sự ở Việt Nam, ông ta đã không chịu tin hoặc lờ đi bất cứ bằng chứng nào mâu thuẫn với não trạng Chiến tranh Lạnh. Quan điểm trái chiều vẫn tồn tại trong xã hội Mỹ, như những bài viết của học giả – nhà báo Bernard Fall, của I.F. Stone, vô vàn những bài phát biểu tại các trường đại học, các buổi tuần hành chống chiến tranh, các bài phân tích chỉ ra rằng sau Thế chiến 2 nước Mỹ đã đưa ra một lựa chọn rất rõ ràng là hỗ trợ người Pháp tái lập nền cai trị thuộc địa của mình với Đông Dương, và chi trả phần lớn chiến phí cho cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất của Pháp.

Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi những nhà cách mạng Việt Nam coi Mỹ là một thế lực thực dân kiểu mới khi Mỹ đưa quân tới tham gia cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2.Hơn nữa, các phân tích cũng đã chỉ ra ngọn nguồn chống đối chính quyền Sài Gòn do Mỹ chống lưng lại đến từ chính người miền Nam và bắt rễ rất sâu sắc trên toàn miền Nam chứ không chỉ đến từ Bắc Việt. Từ cuối thập niên 50 tới giữa thập niên 60, tham gia các trận đánh chủ yếu là du kích miền Nam thuộc Mặt trận Giải phóng nhân dân miền Nam Việt Nam mà Mỹ và đồng minh thường gọi là Việt Cộng.

Chỉ khi cuộc chiến tranh đã leo thang thì các đơn vị lớn từ Bắc Việt mới kéo vào mặt trận. Những người Mỹ chống chiến tranh cũng không thừa nhận Nam Việt Nam là một “quốc gia độc lập” được thành lập theo Hiệp định Geneva năm 1954, vì hiệp định này chỉ quy định việc phân chia “tạm thời” nước Việt Nam để chuẩn bị cho một cuộc tổng tuyển cử chọn ra nhà lãnh đạo cho nước Việt Nam thống nhất. Khi cả Washington và Sài Gòn nhận ra lãnh tụ Cộng sản Hồ Chí Minh sẽ thắng áp đảo cuộc tổng tuyển cử, chính quyền Ngô Đình Diệm, với sự hỗ trợ của Mỹ, đã hủy bỏ cuộc tổng tuyển cử và bắt đầu nỗ lực xây dựng một quốc gia mới “Nam Việt Nam” không tồn tại được quá 20 năm.

Bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam là nội chiến hay kháng chiến?
Bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam là nội chiến hay kháng chiến?

Chính quyền Sài Gòn chưa bao giờ là một chính quyền bù nhìn dễ sai bảo của người Mỹ, nhưng lại phụ thuộc toàn phần vào viện trợ kinh tế và quân sự từ Mỹ để sống sót trước đòn tấn công của kẻ địch, bao gồm cả các phe phái phi Cộng sản ở miền Nam.Với những lập luận này, những người phản đối chính sách của Mỹ trong thập niên 60 đã mô tả chiến tranh ở Việt Nam là một cuộc nội chiến – dù không hề có tí liên quan nào tới sự phân chia Bắc – Nam trong Nội chiến Hoa Kỳ, mà là một cuộc chiến của phe Cộng sản ở cả miền Bắc và Nam Việt Nam chống lại chính quyền do Mỹ chống lưng ở miền Nam.

Cho tới năm 1966, lối phân tích này được nhiều chính khách ủng hộ, như Thượng Nghị sĩ William Fulbright – Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện và Thượng Nghị sĩ Eugene  McCathy – Ứng viên Tổng thống Mỹ năm 1968. Cả 2 vị này đều hướng sự chú ý của công chúng tới sức mạnh của phong trào du kích cũng như việc chính quyền Sài Gòn không có nổi sự ủng hộ từ chính người dân của mình.Cho tới năm 1972, chẳng còn ai tin vào lập luận Việt Nam là một mối đe dọa cho nước Mỹ trong Chiến tranh Lạnh, đôi khi người ta cảm thấy như mục đích còn lại của Mỹ với cuộc chiến là đưa tù binh chiến tranh về nước (Tổng thống Nixon đã cật lực lên án Hà Nội sử dụng số tù binh này làm “con tốt thí trong đàm phán”).

Đối với người Mỹ lúc đó, chuyến đi lịch sử của Nixon tới Bắc Kinh và Moscow năm 1972 thật là hại não, họ không hiểu làm sao mà Nixon có thể cụng ly với Mao Trạch Đông và Leonid Brezhnev trong khi vẫn đánh nhau ở Việt Nam. Nhà báo Jonathan Schell đã viết “Nếu sau cùng những cường quốc vĩ đại này không phải là kẻ thù thực sự của nhau, thì cuộc chiến ở Việt Nam là một cuộc nội chiến ở một quốc gia nhỏ bé và nước Mỹ không hề có một chút lý do nào mà tham gia vào cuộc chiến ấy”. Song hành cùng lối diễn giải “nội chiến” còn có một lối diễn giải khác cấp tiến hơn cho rằng kẻ thù của người Mỹ ở Việt Nam đã tham gia vào một cuộc chiến lâu dài để giải phóng dân tộc, đầu tiên là khỏi người Pháp sau đó là Mỹ.

Theo đó, cuộc chiến này không phải là cuộc đối đầu Đông – Tây trong Chiến tranh Lạnh hay nội chiến Việt Nam mà là cuộc kháng chiến chống thực dân, tương tự như hàng chục cuộc chiến bùng nổ khắp Thế giới thứ ba sau Thế chiến 2.

Khi người Pháp bị Việt Minh đánh bại (dù được Mỹ viện trợ khổng lồ), người Mỹ lại tiếp tục vận hành cuộc chiến phản cách mạng chống lại những người quyết tâm đạt được sự độc lập hoàn toàn cho quốc gia của mình. Lối diễn giải này được nhiều người chống chiến tranh theo cánh tả ủng hộ, trong đó có Daniel Ellsberg, người một thời là chuyên gia phân tích quốc phòng rất hiểu chiến sau đó tự hủy hoại sự nghiệp của mình khi công bố 7000 trang tài liệu mật về lịch sử Chiến tranh Việt Nam, còn được gọi là Hồ sơ Lầu Năm Góc (The Pentagon Papers).

Trong bộ phim phóng sự “Trái tim và khối óc” năm 1974, Ellsberg đã đưa ra luận điểm của mình rất ngắn gọn:“Tên gọi cho cuộc chiến chống lại cách mạng là phản cách mạng. Cuộc chiến mà một bên được nước ngoài hỗ trợ toàn phần về tài chính, vũ khí thì không phải là một cuộc nội chiến”.Ông cũng nói thêm rằng câu hỏi mà người Mỹ thường đặt ra – “liệu chúng ta có chọn sai phe trong chiến tranh Việt Nam không. Chúng ta không hề chọn sai phe; chính chúng ta là phe sai trái trong cuộc chiến này”. Trong những thập niên sau 1975, cả 3 cách diễn giải này đều vẫn phổ biến.

Một số nhà nghiên cứu lịch sử, nhà văn đã tán dương quan điểm của Tổng thống Ronald Regan rằng cuộc chiến này là “chính nghĩa cao quý” đáng ra người Mỹ đã thắng. Nhưng đa phần các chuyên gia trong lĩnh vực này lại không hề tán đồng với quan điểm này do chúng phóng đại về ưu điểm quân sự, chính trị và cả thành công của Mỹ cùng chính quyền Sài Gòn. Lý luận kiểu này rất thiếu sót do nó dựa trên nhận định ảo tưởng rằng Mỹ có thể chiến thắng nếu mở rộng viện trợ cho Ngô Đình Diệm (thay vì bật đèn xanh cho việc lật đổ Diệm), hoặc thử áp dụng chiến lược quân sự khác, hoặc làm tốt hơn công tác giành lấy trái tim và khối óc của người dân.

Tuy nhiên, trên thực tế thì cuộc chiến do Mỹ và đồng minh triển khai này vẫn mãi là một thảm họa, xét trên mọi khía cạnh.Trong thời gian gần đây, nhiều nhà sử học, đặc biệt là những trí thức trẻ hơn được đào tạo tiếng Việt và những ngôn ngữ khác, đã đưa ra nhiều phiên bản của lối diễn giải “nội chiến”. Một vài người coi giai đoạn sau khi Pháp bị đánh bại năm 1954 là “hậu thuộc địa”, thời điểm mà những xung đột nội bộ đã chín muồi giữa các phe phái dân tộc chủ nghĩa ở Việt Nam bắt đầu vỡ bung ra. Nhà sử học Jessica Chapman của trường Williams College cho rằng “Về bản chất, Chiến tranh Việt Nam là một cuộc nội chiến bị phóng đại lên nhiều lần do can thiệp từ bên ngoài”. Những người khác thì cho rằng đây là cuộc nội chiến đã bị “quốc tế hóa”. Trong khi những học giả này đã giúp tăng cường kiến thức của chúng ta về tính phức tạp và xung đột trong lịch sử Việt Nam, về chính trị và văn hóa, thì họ lại không hề quy đủ trách nhiệm cho nước Mỹ vì đã tạo ra, và mở rộng cuộc chiến với tư cách một cường quốc thực dân kiểu mới.

Hãy cùng thử đặt ra một giả thuyết nhé. Sẽ ra sao nếu cuộc Nội chiến Hoa Kỳ của chúng ta có một số nét tương đồng “nội chiến” Việt Nam? Đầu tiên, chúng ta sẽ tưởng tượng tới siêu cường toàn cầu của năm 1860 – Anh quốc, đã thúc đẩy phe miền Nam ly khai, cung cấp cho phe ly khai toàn bộ khoản chiến phí cần thiết để theo đuổi cuộc chiến và đưa lực lượng quân sự khổng lồ của mình tham chiến. Chúng ta cũng sẽ tưởng tượng rằng mọi lực lượng địa phương của miền Nam ủng hộ Liên bang miền Bắc sẽ cầm súng đứng lên chống Liên minh miền Nam. Và dù nước Anh ném vào cuộc chiến vô vàn tiền của và con người thì Liên bang miền Bắc vẫn chiến thắng. Vậy, người Mỹ sẽ gọi cuộc chiến đó là gì? Có lẽ đa phần người Mỹ sẽ gọi đó là Cuộc kháng chiến giành độc lập lần 2, và người Mỹ đen sẽ gọi đó là Cuộc chiến giải phóng lần thứ nhất. Chỉ có những người từng thuộc phe Liên minh miền Nam và người Anh mới gọi đó là “nội chiến”.

Tôi sẽ đảo ngược công thức của Chapman và nói rằng, về mặt bản chất Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến của người Mỹ, đã phóng đại thêm tình trạng chia cắt ở Việt Nam và quốc tế hóa cuộc xung đột này. Và hiện thực là trong khi nhiều người Việt Nam chống lại con đường giải phóng dân tộc của Cộng sản, thì không có một đảng phái dân tộc chủ nghĩa nào khác có đủ năng lực để giành lấy quyền lực. Nếu không có sự can thiệp của Mỹ, thật khó mà hình dung nổi Nam Việt Nam sẽ tồn tại được, hoặc nếu tồn tại nổi thì cũng khó mà kéo dài được.

Hơn  nữa, không hề có quốc gia nào khác lại đưa hàng triệu quân tới Nam Việt Nam (dù Mỹ có gây sức ép, 2 nước đáng kể tới là Austrlia và Hàn Quốc cũng chỉ gửi các đơn vị nhỏ hơn nhiều sang Việt Nam). Cũng không hề có quốc gia nào lại ném cả mớ bom (8 triệu tấn!) xuống Việt Nam, Lào và Campuchia. Hậu quả của những hành vi ấy là hơn 3 triệu người chết trên toàn Đông Dương, quá nửa là dân thường. Nếu chúng ta tiếp tục bào chữa cho những gì mà nước Mỹ đã làm ở Việt Nam là một cuộc can thiệp với ý định tốt chứ không phải là hành vi hung hăng của một đế quốc, chúng ta khó lòng có thể thách thức những người đang điều khiển cuộc chiến hiện hành – những người dẫn dắt chúng ta tới những cuộc chiến bất định dựa trên thông tin giả hoặc nhận định sai lầm.

Như trong Chiến tranh Việt Nam, các nhà lãnh đạo của Mỹ đã chỉ đạo binh lính tới vùng đất xa xôi dựa trên trí tưởng tượng không biên giới về thuyết domino (mối đe dọa của Cộng sản toàn cầu giờ đây đã được thay bằng cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu). Và một lần nữa, sứ mệnh của những người này là chống lưng cho những chính quyền không hề có nổi một chút năng lực thu hút được sự ủng hộ từ chính người dân của mình. Và thêm một lần nữa, nước Mỹ đã khởi động những cuộc xung đột dẫn tới vô vàn dân thường phải rời bỏ nhà cửa, bị thương hoặc bị giết. Nước Mỹ lại tiếp tục phóng đại bạo lực trên toàn cầu và kích động kẻ khác trả thù bằng bạo lực.

Các nhà lãnh đạo của chúng ta, trước sau vẫn vậy, khẳng định rẳng Mỹ “mãi mãi là lực lượng vĩ đại nhất trên thế giới” mà không hề ham muốn gì cho bản thân mình, trừ việc đánh bại “khủng bố” và đưa hòa bình, ổn định và tự quyết tới cho những vùng đất khác. Nhưng bằng chứng lại không hề ủng hộ những lời lẽ như vậy. Đã đến lúc chúng ta cần tầm nhìn mới, rõ ràng hơn về cách thức hành động trên toàn cầu của mình. Và việc đầu tiên cần làm là đánh giá trung thực về quá khứ chính.

PHONG THÁI CỦA MỘT NHÂN TƯỚNG

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

Hình ảnh có thể có: 3 người, mọi người đang ngồi

Năm 1989, khi làm Lễ chuẩn bị rút Quân tình nguyện VN về nước, ba mình được đứng bên cạnh tướng Giáp.

– Ba mình nói nhỏ với ông: “Toàn thể cán bộ, chiến sĩ Quân tình nguyện ở CPC luôn quý mến và kính trọng Thủ trưởng”.

– Ông mỉm cười và đáp lại nhẹ nhàng: “Mình cảm ơn cậu và anh em”.

Ba mình nói câu này là xuất phát từ tấm lòng và suy nghĩ của nhiều cán bộ, chiến sĩ hồi đó.

Khi mà những năm tháng tình hình chiến trường CPC còn phức tạp, ông cùng phu nhân sang thăm một số đơn vị thuộc Mặt trận 479.

Để khỏi phiền anh em, ông bà đem theo cơm nắm muối vừng. Giữa buổi trưa nắng khô ráp ở Xiêm Riệp, ông bà bình thản ăn trưa dưới gốc cây cổ thụ.

Vị tướng lừng danh thế giới, Tổng tư lệnh QĐNDVN đã sống trong lòng người lính không chỉ bằng những chiến công vĩ đại mà còn bằng phong thái của một vị Nhân Tướng. Ông luôn coi mình bình đẳng với chiến sĩ.

ST

Hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết trong hồi ký của mình: “Mỗi lần trở lại Điện Biên Phủ, tôi tới nghĩa trang liệt sĩ dưới chân đồi A1 thắp nén hương tưởng niệm những người đồng đội đã nằm lại đây.

Đứng trước rất nhiều ngôi mộ không có tên, tôi hình dung ra anh chiến sĩ trẻ tới chiến trường giữa trận đánh, chiến đấu bên những người đồng đội chưa kịp biết tên mình, và mình cũng chưa kịp biết là đang ở đơn vị nào.

Tiểu đoàn 23 đánh địch phản kích trên Sân bay Mường Thanh, đã ghi công đầu cho người chiến sĩ cắm lá cờ làm chuẩn cho pháo bắn chi viện giữa lúc địch tiến công dữ dội nhất, nhưng không một ai biết tên anh, cũng như anh ở đâu, còn hay mất?

Chàng trai Phù Đổng từ thời xa xưa sau khi đánh thắng giặc Ân đã cưỡi ngựa về trời…

Anh Bộ đội Cụ Hồ ra trận thời đó, từ bưng biền Nam Bộ, núi rừng Tây Nguyên, đèo mây Tây Bắc, đến những miền đất lạ Lào, Cam-pu-chia… chỉ có một ý nghĩ vô cùng trong sáng:

Phải góp phần cùng đồng đội, đồng bào, bạn bè có chung số phận giành lại độc lập, tự do.Dân tộc ta đã phải trả giá hơn một thế hệ những người con ưu tú nhất để xóa đi một vết nhơ của loài người là chủ nghĩa thực dân”.

HOÀNG XUÂN

75 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2.9: Bài học dựa vào sức mạnh toàn dân

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

https://thanhnien.vn/van-hoa/75-nam-cach-mang-thang-tam-va-quoc-khanh-29-bai-hoc-dua-vao-suc-manh-toan-dan-1273801.html

Trinh Nguyễn

Dù 75 năm đã trôi qua, tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2.9 vẫn còn nguyên giá trị, với bài học xuyên suốt là phải luôn dựa vào sức mạnh toàn dân.  

Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoàn	 /// Ảnh: TTXVN

Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoànẢNH: TTXVNBài học này được GS Phạm Hồng Tung (ảnh), Viện trưởng Viện Việt Nam học và phát triển, nhấn mạnh trong cuộc trao đổi với PV Thanh Niên nhân dịp kỷ niệm 75 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2.9. 

75 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2.9: Bài học dựa vào sức mạnh toàn dân - ảnh 1GS Phạm Hồng Tung, Viện trưởng Viện Việt Nam học và phát triểnẢNH: NVCC

Chuyển hướng chiến lược cách mạng kịp thời

Thưa giáo sư, có ý kiến cho rằng khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra thì chỉ có rất ít tỉnh nhận được quyết định khởi nghĩa từ Tân Trào. Chẳng hạn, Hà Nội và Huế nhận được còn Sài Gòn thì không. Lúc đó T.Ư Đảng và Bác Hồ cũng không có mặt để lãnh đạo giành chính quyền. Vậy giải thích thế nào về việc không có T.Ư Đảng và Bác Hồ thì không có Cách mạng Tháng Tám, thưa ông?

Tuyên ngôn Độc lập phát triển quyền cá nhân thành quyền dân tộc

75 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2.9: Bài học dựa vào sức mạnh toàn dân - ảnh 2

PGS-TS Phạm Hồng Chương ẢNH: NGỮ THIÊN

Bằng sự tiếp nhận nội dung về quyền con người ở hai bản tuyên ngôn của cách mạng Pháp và Mỹ, Tuyên ngôn Độc lập do Hồ Chí Minh soạn thảo và công bố là tuyên ngôn đầu tiên trên thế giới xác định quyền dân tộc cơ bản từ nền tảng của quyền con người.

Điều này nói rằng quyền sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân cũng như của dân tộc không có gì trừu tượng mà rất cụ thể và có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Mối quan hệ đó đảm bảo sự tồn tại lẫn nhau và là cơ sở để Hồ Chí Minh khẳng định tinh thần của nhân dân Việt Nam “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Mối quan hệ đó đem lại nội dung thực tế cho các quyền này chứ không phải là các từ ngữ trống rỗng khi sau này Người chỉ rõ rằng: nếu nước độc lập mà dân chưa được hưởng tự do, ấm no, hạnh phúc thì độc lập đó cũng chẳng có nghĩa gì. Biểu thị mối quan hệ dân tộc – con người được Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ trên tiêu chí Độc lập – Tự do – Hạnh phúc của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ngày nay được giữ nguyên, làm tiêu chí của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

(PGS-TS Phạm Hồng Chương, nguyên Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng) Trinh Nguyễn (ghi)

Vai trò của Bác Hồ với T.Ư Đảng quan trọng ở chỗ chuyển hướng chiến lược cách mạng.

Trước đó, Hội nghị T.Ư VI đã khởi đầu cho quá trình chuyển hướng cách mạng trong phạm vi dân tộc Việt Nam chứ không phải là Đông Dương nữa. Như thế, sẽ có cơ hội phát huy cao nhất tinh thần dân tộc của người Việt Nam với đất nước Việt Nam. Hội nghị T.Ư VI đặt vấn đề chuyển sang chiến lược giải phóng dân tộc nhưng chưa đặt trong khuôn khổ của từng nước trong Liên bang Đông Dương. Đấy là cái thứ nhất.

Thứ hai, tới Hội nghị T.Ư VIII, khi Bác Hồ đã về nước, lúc này T.Ư do ông Trường Chinh đứng đầu đã suy nghĩ thấu đáo và chuyển hướng thành công chiến lược. Trong đó, quyền lợi của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử tồn vong của quốc gia dân tộc, cách mạng Việt Nam là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng chứ không phải cuộc cách mạng tư sản dân quyền. Đấy là chuyển hướng quan trọng nhất, là cội nguồn của tất cả các nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

Nếu ta so sánh trước đó thì trong tất cả các tài liệu tuyên truyền của Đảng ở Đông Dương nói rất nhiều về Lênin, nói rất nhiều về Bác, về cộng sản.

Từ 1930 đến 1941, trong các tài liệu tuyên truyền của Đảng không hề nói đến con rồng cháu tiên, không nói đến Vua Hùng, không nói đến Trần Hưng Đạo hay Hai Bà Trưng mà lại kêu gọi kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười, Ngày quốc tế chống chiến tranh…

Nhưng sau khi Bác về nước và Hội nghị T.Ư VIII, các tài liệu tuyên truyền đều nói đến Vua Hùng, Hai Bà Trưng, chỉ nói lịch sử Việt Nam, các chiến khu đều mang tên anh hùng dân tộc.

Việc “bẻ lái” này đến từ T.Ư Đảng và Bác Hồ. Nếu không, ngọn cờ Việt Minh không thể trở thành ngọn cờ đại nghĩa dân tộc, không trở thành nơi quy tụ sức mạnh yêu nước. Đó là công lao rất lớn của Đảng trong tập hợp quần chúng. Và khi “bẻ lái” như vậy, chúng ta đã tập hợp được sức mạnh toàn dân trong khởi nghĩa như thế nào, thưa ông?

Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc

75 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2.9: Bài học dựa vào sức mạnh toàn dân - ảnh 3

GS-TS Võ Văn Sen ẢNH: CSS

Có một tư tưởng hệ trọng trở thành truyền thống xuyên suốt, sống còn trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đó là đại đoàn kết. Sức mạnh đại đoàn kết là cội nguồn của mọi thành công, như Bác Hồ từng đúc kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. 

Dân tộc ta từ xưa đến nay từng đối mặt với nhiều ngoại bang lớn mạnh; thiên tai địch họa chúng ta cũng thường xuyên đối mặt rất nhiều, mà nếu như không đoàn kết thì không thể vượt qua được. Thời chiến cũng như thời bình, bài học đoàn kết theo tư tưởng của Bác Hồ luôn hệ trọng. Muốn chiến thắng, chúng ta phải đại đoàn kết toàn dân, cùng xây dựng nước nhà, phụng sự Tổ quốc, chống lại mưu toan chia rẽ… Đó như là quy luật sống còn của lịch sử dân tộc Việt Nam. 

Từ tư tưởng của Bác Hồ, bài học sâu sắc mà chúng ta nhận thấy, là khi quy tụ tất cả mọi người dân Việt Nam vào khối đại đoàn kết dân tộc, lấy cái chung để hạn chế cái riêng, cái khác biệt; có sự đoàn kết thống nhất giữa tất cả những ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ người dân, thì đó thật sự sẽ luôn là động lực có ý nghĩa chiến lược cơ bản trong công cuộc cùng nhau vun đắp cuộc sống thuận hòa, xây dựng và bảo vệ đất nước giàu mạnh, văn minh.

Như bây giờ đối mặt đại dịch Covid-19, khi chúng ta có sự chung sức, đồng lòng hưởng ứng, thực hiện đồng bộ biện pháp phòng chống, thì chúng ta nhận thấy cũng đã mang lại nhiều giá trị với những kết quả bước đầu hết sức quan trọng.

(GS-TS Võ Văn Sen, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và chính sách quốc gia (CSS), Trường ĐH Khoa học xã hội – nhân văn, ĐH Quốc gia TP.HCM)Đình Phú (ghi)

Có một ví dụ lúc đó là sáng kiến lập an toàn khu (ATK). Khi đó, cùng với lập ATK ở Tân Trào, T.Ư Đảng còn xây dựng một ATK ngay ngoại thành Hà Nội, cách nội thành chỉ 2 tiếng đạp xe đạp. Chúng ta có một vành đai ATK từ Gia Lâm kéo dài sang Từ Sơn (Bắc Ninh) rồi Đông Anh vào đến Vạn Phúc (Hà Đông).

Chúng ta sử dụng cán bộ trung kiên ở các làng nông nghiệp và cũng sử dụng cả sự giàu có cùng lòng bao dung của người dân ở các làng nghề. Người dân làng nghề bán hàng đi ra đi vào tấp nập nên cán bộ thoải mái cải trang đi hoạt động.

Nên việc không lập ATK trong rừng mà lập ở nơi “rừng người” với những người dân yêu nước là sáng kiến có lẽ chỉ cách mạng Việt Nam có.ATK để che giấu bí mật thì không hoạt động để tránh bị lộ.

Nhưng người dân vẫn cài được quần chúng yêu nước vào nhà in tin tức ở Hà Nội. Vì thế, tin tức rất nhạy, có gì Pháp và Nhật làm người dân cũng nắm được ngay, đạp xe sang báo ngay, ngày nào cũng có tin từ trong thành báo cáo về…

Bài học dựa vào sức mạnh toàn dânNhân dân Hà Nội giành chính quyền tại Bắc bộ phủ trong ngày Tổng khởi nghĩa 19.8.1945 ẢNH: TƯ LIỆU BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA

Phương châm ngoại giao “dĩ bất biến, ứng vạn biến”

Vì sao với vai trò quan trọng như vậy, Bác Hồ lúc đó lại không làm Tổng bí thư?

Mọi vấn đề quốc kế dân sinh phải để dân biết

75 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2.9: Bài học dựa vào sức mạnh toàn dân - ảnh 5

TS Trần Thị Hà Vân ẢNH: H.V

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2.9.1945, Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thành quả cách mạng có ý nghĩa lịch sử đó bắt nguồn từ sức mạnh to lớn của nhân dân.

Bác Hồ khẳng định: “Trong cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân”. Bác luôn đặt niềm tin tuyệt đối vào nhân dân.Tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Bác là một bài học có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc trong công tác xây dựng Đảng và xây dựng, phát triển đất nước.

Song, vấn đề không phải chỉ nêu lên khẩu hiệu “lấy dân làm gốc” mà quan trọng nhất là phải biến tư tưởng đó trở thành hiện thực, tư tưởng đó phải được thể hiện một cách sinh động, nhất quán trong hành động hằng ngày, hằng giờ của mỗi cán bộ, đảng viên.

Thực tiễn cho thấy chỉ có phát huy sức mạnh làm chủ của nhân dân mới thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ xây dựng Đảng vững mạnh, làm trong sạch bộ máy nhà nước, lành mạnh hóa các quan hệ xã hội; sự đồng lòng, nhất trí, tham gia tích cực của nhân dân là yếu tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước.

Thực hiện tư tưởng “lấy dân làm gốc” là cán bộ, đảng viên phải lắng nghe ý kiến của dân, chăm lo đời sống cho dân, giải quyết kịp thời và có kết quả nguyện vọng chính đáng của dân; cán bộ, đảng viên phải tôn trọng dân, học hỏi dân, phải làm cho dân tin, dân kính trọng.

“Lấy dân làm gốc” là mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tất cả vấn đề quốc kế dân sinh phải để cho dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra; tinh thần dân chủ phải được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có như vậy mới đảm bảo “xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.(TS Trần Thị Hà Vân, Trưởng khoa Xây dựng Đảng – Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Cán bộ TP.HCM)Đình Phú (ghi) Bác Hồ khi đó từ chối làm Tổng bí thư và nói rằng Bác còn làm nhiệm vụ quốc tế, nhiệm vụ ngoại giao.

Nhiệm vụ ngoại giao phức tạp khi đó chỉ có Hồ Chí Minh với 30 năm bôn ba ở hải ngoại mới làm được. Về việc tìm đến phe Đồng minh, đứng đầu là Mỹ, cũng có những thêu dệt sai sự thật. Sau này tôi có gặp Charles Fenn (người đã đưa cụ Hồ đến gặp tướng Mỹ S.Chenault, người đại diện cao nhất của Đồng minh ở vùng Hoa Nam – Trung Quốc vào ngày 29.3.1945 để thỏa thuận sự hợp tác chống phát xít Nhật ở Đông Dương – PV) ở Hội nghị Euro Việt tại Amsterdam, lúc đó ông đã gần 90 tuổi.

Ông Fenn nhắc đi nhắc lại Hồ Chủ tịch là bạn của ông ấy. Cái gì cụ Hồ cần thì ông ấy giúp, cái ông ấy cần, cụ Hồ giúp, họ là bạn đồng minh.

Cuộc gặp mặt đó của Bác Hồ và S.Chenault đã thay đổi điều gì, thể hiện vai trò cá nhân của Bác đưa đất nước đến độc lập như thế nào, thưa ông?

Các tướng của Quốc dân đảng lúc bấy giờ cũng tới gặp S.Chenault và thường xin tiền. Chính vì thế, khi một cụ già tới gặp, S.Chenault cũng xem thường và hỏi luôn có cần tiền không. Bác Hồ trả lời bằng tiếng Anh là không. Khi đó S.Chenault giật mình rồi hỏi tiếp thế ông cần gì. Bác Hồ đáp lại rất lịch sự là thưa tướng quân, tôi cần thuốc sốt rét cho chiến binh của tôi. S.Chenault thấy rất lạ, mời Bác ngồi và hỏi cần bao nhiêu thuốc sốt rét. Bác nói muốn xin 50 kg.

Người bệnh nặng chỉ uống vài viên nhỏ tí mà Bác xin hẳn 50 kg. Đây là một đòn ngoại giao của Bác Hồ, gián tiếp nói quân đội mình là mấy vạn người. S.Chenault bảo thư ký cho hẳn 100 kg. Bác Hồ cũng xin vũ khí, xin bao nhiêu đều được cho gấp đôi. Rồi Bác Hồ nói cần chuyên gia hướng dẫn điện đài, tướng S. Chenault cho ngay một đội điện đài.Khi xong việc, Bác cũng nói với S.Chenault muốn xin chân dung của vị tướng này cho chiến binh của mình xem để thêm lòng dũng cảm. Tướng Chenault lấy ngay một tấm ảnh chân dung, đề tặng “For Hồ, my friend”.

Tấm ảnh này khiến các tướng Trung Quốc bấy giờ nể phục Bác Hồ và Việt Nam hơn hẳn. Đấy là đòn ngoại giao chiến lược và tầm vóc Hồ Chí Minh. Đấy cũng là điểm khởi đầu để quân Mỹ trực tiếp gửi đội quân xây sân bay, chi viện cho Việt Minh trực tiếp và hóa giải áp lực của Hoa quân nhập Việt sau này.

Hồ Chí Minh giữ quan hệ ngoại giao với Mỹ, nhờ đó chúng ta giành một vị trí xứng đáng với phe Đồng minh. Sau này khi viết Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “một dân tộc đã gan góc chống thực dân Pháp 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít 4 năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc ấy phải được độc lập”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói như vậy vừa cho đồng bào nghe, vừa để quốc tế biết là Việt Minh nằm trong phe Đồng minh thắng trận, để thế giới công nhận sự hợp pháp, hợp lý của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bài học dựa vào sức mạnh toàn dânNgười dân chung tay ủng hộ nhu yếu phẩm, trang thiết bị phòng chống dịch Covid-19 tại Đà NẵngẢNH: HUY ĐẠT

Dựa vào dân mới thành công

Bài học của Cách mạng Tháng Tám, 2.9 còn áp dụng được hiện nay là gì, thưa ông?

Áp dụng được là trong kỷ nguyên toàn cầu hóa này, bài học xuyên suốt là phải luôn dựa vào sức mạnh của toàn dân. Muốn dựa vào sức mạnh của toàn dân, phải làm đúng Nghị quyết T.Ư Đảng và lời dạy của Bác Hồ là việc gì có lợi cho dân thì ra sức làm, cái gì có hại cho dân thì ra sức tránh. Nhất là trong dịch Covid-19 vừa rồi thì dựa vào dân mới thành công được. Dựa vào dân tộc thì mới hội nhập được.Muốn hội nhập được cũng phải có trí tuệ. Bài học trí tuệ và dũng khí của Hồ Chí Minh trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám là tìm bạn ngoại giao, thiết lập bằng được quan hệ ngoại giao để tạo vị thế cho cách mạng Việt Nam, cho đất nước. Để được thành công như vậy thì người làm ngoại giao phải có tầm trí tuệ và tầm văn hóa.

Ngày Quốc khánh (Việt Nam)

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày Quốc khánh Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình
Tên chính thứcNgày Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Cử hành bởi Việt Nam
KiểuQuốc khánh
Ý nghĩaTuyên bố Việt Nam độc lập từ Thực dân Pháp và Đế quốc Nhật Bản, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên toàn Việt Nam
Ngày2 tháng 9

Ngày Quốc khánh Việt Nam là ngày lễ chính thức của Việt Nam, diễn ra vào ngày 2 tháng 9 hằng năm, kỷ niệm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba ĐìnhHà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một trong các tiền thân của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Bối cảnh lịch sử

Cách mạng tháng Tám thành công, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cử Lê Đức Thọ đón Hồ Chí Minh từ Chiến khu Việt Bắc về Hà Nội và nghỉ tại thôn Phú Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm (nay là phường Phú Thượng, quận Tây Hồ). Sau đó, Hồ Chí Minh về ở căn gác số 48Hàng Ngang rồi hàng ngày đến làm việc tại nhà số 12 phố Ngô Quyền — trụ sở của Chính phủ lâm thời. Trong các ngày 28 và 29 tháng 8, Hồ Chí Minh dành phần lớn thời gian viết ra bản Tuyên ngôn độc lập.

Chọn ngày ra mắt quốc dân, đọc Tuyên ngôn Độc lập

Sau ngày 19 tháng 8Hồ Chí Minh và các cộng sự của ông bàn bạc việc chọn ngày ra mắt quốc dân để đọc Tuyên ngôn độc lập. Có nhiều ý kiến đề nghị chọn ngày gần sau đó là ngày 25 hoặc 28 tháng 8. Nhưng Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh dẫn lời kể của Giám mục Phaolô Lê Đắc Trọng, một nhân chứng trong thời điểm đó rằng: ông Vũ Đình Tụng, bác sĩ riêng của Hồ Chí Minh và cũng là một giáo dân Công giáo, đã đề xuất lấy ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hồ Chí Minh hỏi vì sao thì ông Tụng giải thích: nó rơi vào ngày Chủ nhật nên mọi người được nghỉ việc, ngày 2 tháng 9 cũng là ngày Chúa Nhật kính các vị tử đạo Việt Nam, là lễ trọng nên giáo dân đều đi dự lễ; thời đó chỉ có phía Công giáo mới có các đoàn thể với áo quần đồng phục, đội ngũ chỉnh tề nên dễ vận động đồng bào Công giáo tham gia mít-tinh sau khi tan lễ.

Sau đó, Hồ Chí Minh cho người liên lạc với bên phía tòa giám mục Hà Nội. Đến ngày 22 tháng 8, Người đến thăm Nhà thờ lớn Hà Nội. Tại đây, khi thấy giáo dân đang chuẩn bị cờ, hoa trang trí nhà thờ, chuẩn bị mừng lễ các vị tử đạo Việt Nam vào ngày 2 tháng 9 sắp tới, Hồ Chí Minh suy nghĩ một lúc rồi nói: “Tôi sẽ làm cho ngày đó thêm ý nghĩa nữa”. Có lẽ ý tưởng này đã đưa đến việc ông chọn ngày 2 tháng 9 là ngày tuyên bố độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, hơn 50 vạn người dân Hà Nội đã tụ họp tại quảng trường Ba Đình chào mừng thành lập chính phủ mới. Thay mặt cho toàn thể chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập.

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013, chương 1, điều 13, mục 4 khẳng định: “Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945”.

Ngày 02/09/1945

Theo tường thuật của nhà báo Hồng Hà, báo Cứu quốc của Việt Minh, ông Nguyễn Hữu Đang đọc chương trình buổi lễ và giới thiệu Chính phủ lâm thời, chủ tịch Chính phủ đọc Tuyên ngôn độc lập, các thành viên Chính phủ tuyên thệ, ông Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng Bộ Nội vụ giãi bày tình hình trong nước và nhiệm vụ của Chính phủ, ông Trần Huy Liệu tường trình vào Huế nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại, ông Nguyễn Lương Bằng đại biểu của Tổng bộ Việt Minh thuật qua lại cuộc tranh đấu của Việt Minh để mưu giải phóng cho dân tộc…. Sân khấu được làm vội vã từ gỗ và được trang hoàng bằng lớp vải trang trí trắng và đỏ, do đó cho phép hầu hết khán thính giả có thể thấy được những vị lãnh đạo mới của mình, dù chỉ như những chấm li ti. Hồ Chí Minh và các đồng sự của mình đã cố gắng truyền trực tiếp bản Tuyên ngôn độc lập đến mọi miền Tổ quốc nhưng các vấn đề kỹ thuật lúc đó đã không cho phép điều này diễn ra. Mặc dù đã ở nước ngoài trong suốt hơn 30 năm nhưng phong cách nói tiếng Việt của Hồ Chí Minh vẫn đầy tự tin và mạnh mẽ. Bản tuyên ngôn độc lập có độ dài vừa đủ do những người Việt tham gia buổi lễ hôm đó phần lớn còn chưa tiếp xúc với hoạt động mít-ting kiểu châu Âu như thế này bao giờ. Ngày mùng 2 tháng 9 năm đó, nhiều gia đình đã dọn dẹp nhà cửa và chuẩn bị đốt pháo để ăn mừng buổi lễ.

Từ Phủ Toàn quyền, Jean Sainteny, viên chức cao cấp của nước Pháp Tự do (Free French) – nước Pháp sau khi được giải phóng khỏi Phát-xít Đức – có mặt ở Hà Nội, đã quan sát hàng chục ngàn người Việt Nam đi thành từng hàng băng qua đại lộ Brière-de-l’Isle để tiến vào quảng trường. Jean Sainteny ngạc nhiên trước sự tham gia công khai của giới Công giáo và sửng sốt trước sự trật tự của đám đông, không có bất kì hành vi gây rối nào. Không ai có cử chỉ thù địch đối với Jean Sainteny hay đối với tòa nhà phủ Toàn quyền. Vấn đề an ninh cũng được suy xét đáng kể, với đội quân danh dự của Quân Giải phóng đảm bảo không ai trong số khán thính giả có thể tới gần khán đài trong phạm vi 20 mét, những công nhân và sinh viên có vũ trang cũng được xếp đặt tại mọi góc của mấy khu vườn, và một đơn vị tự vệ cảnh giác trước bất kì sự quấy rối nào từ hướng Thành Hà Nội nơi quân Pháp vẫn còn bị Nhật giam giữ. Trước cuộc mít-tinh, lính Nhật ở khu đất thuộc Phủ Toàn quyền đã thiết lập mấy khẩu súng máy chĩa về quảng trường, làm những nhà tổ chức phải dựng lên một bức màn người gồm những dân quân tự vệ với chỉ thị thà chết còn hơn rút lui.

Mặc dù chương trình được mong đợi bắt đầu vào đúng 2 giờ chiều, nhưng xe hơi chở các thành viên trong nội các Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đến trễ hai mươi lăm phút khi phải đi xuyên qua các đám đông. Hồ Chí Minh dẫn đầu những người còn lại bước nhanh lên khán đài, điều làm ngạc nhiên nhiều người đứng xem vì họ mong chờ những người cầm quyền sẽ di chuyển với phong thái từ tốn và trang nghiêm. Trong khi hầu hết các đồng sự của ông trên khán đài đều mặc đồ vest Tây và thắt cravate, nhưng ông Hồ cố ý chọn mặc bộ đồ khaki phai màu với cổ cao và mang đôi dép cao su trắng. Sau lễ chào cờ và hát quốc ca, Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Nội vụ, bước tới micrô giới thiệu Hồ Chí Minh, người được chào mừng bằng những tiếng hô vang dội được sắp xếp trước, “Độc lập! Độc lập!” Ông Hồ vẫy tay trước khán thính giả trong vài phút, đoạn nâng hai bàn tay lên để kêu mọi người im lặng. Bằng giọng Nghệ Tĩnh đặc trưng, ông Hồ lúc đó bắt đầu đọc Tuyên ngôn Độc lập. Một mối liên kết và sự thể hiện lòng tôn trọng đối với người dân mà chưa từng có vị quân vương Việt Nam nào trong lịch sử thể hiện đã được tạo ra khi Hồ Chí Minh có những tương tác với quần chúng khi ông hỏi: “Đồng bào có nghe rõ không?” và đám đông đồng thanh hô vang “Rõ!”.

Trong buổi lễ này, thông qua bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh cũng đã kêu gọi các nước Đồng minh ủng hộ nền độc lập chân chính do nhân dân Việt Nam vừa tự tay giành được thông qua Cách mạng tháng Tám. Ông tuyên bố rằng Chính phủ lâm thời đã huỷ bỏ hết mọi hiệp ước do Pháp kí trong quan hệ với Việt Nam và bãi bỏ hết mọi đặc quyền của người Pháp. Ông cảnh báo rằng người Việt “kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”. Kết thúc bài phát biểu của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu từng bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời với quần chúng nhân dân và tất cả đều làm lễ tuyên thệ nhậm chức. Võ Nguyên Giáp khi đó bước tới và đọc một diễn văn dài đầy vẻ nghiêm trang để tô điểm thêm cho bản Tuyên ngôn. Sau đó, Trần Huy Liệu, bộ trưởng bộ thông tin và tuyên truyền, báo cáo trước khán thính giả về buổi lễ thoái vị của Bảo Đại ở Huế ba ngày trước đó, và rồi trao thanh kiếm hoàng gia và ấn cho Hồ Chí Minh. Là một người có khả năng ăn nói thiên bẩm, Trần Huy Liệu dường như đã làm cho đám đông cười ồ lên và vỗ tay khi mô tả sự cáo chung của chế độ quân chủ. Hòa vào bối cảnh đó, ông Hồ tuyên bố rằng thanh kiếm, trước đây được dùng để đàn áp dân chúng, giờ đây sẽ được dùng để “chặt đầu kẻ phản bội”. Đại diện cho Tổng bộ Việt Minh là Nguyễn Lương Bằng sau đó nói ngắn gọn về nhu cầu cần thống nhất và đấu tranh, phát biểu thẳng thừng rằng đánh Pháp là chuyện cần thiết. Vào một thời điểm nào đó giữa buổi lễ lúc chiều, hai chiếc máy bay Tia chớp P-38 của Mỹ sà xuống thấp ngay trên đám đông, một sự kiện được tuyên bố ngay tức thì và ai cũng tin là đại diện cho lời chào mừng của Mỹ dành cho chính quyền non trẻ của Việt Nam. Cuối cùng, trước khi kết thúc buổi lễ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chúng ta sẽ phải trải qua nhiều khốn khó và đau khổ hơn nhiều. Đồng bào phải ủng hộ chính quyền, để sau này có thêm nhiều buổi ăn mừng và thắng lợi!” Buổi lễ kết thúc bằng việc đoàn người có tổ chức ở quảng trường sau đó diễu hành ra phố, giải tán ở hồ Hoàn Kiếm, và gia nhập vào bầu không khí vui chung cho đến giờ giới nghiêm.

Tại Sài Gòn

Vào thời điểm đó, do hạn chế về phương tiện kỹ thuật nên các diễn biến ở Hà Nội không được truyền đến Sài Gòn nhưng từ bài diễn văn ứng khẩu của Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ Trần Văn Giàu, nhân dân miền Nam nói chung và nhân dân Sài Gòn nói riêng đã thể hiện lòng quyết tâm ủng hộ cách mạng, ủng hộ mặt trận Việt Minh, bảo vệ nền độc lập non trẻ của Việt Nam.

Lễ đài lễ độc lập 2-9-1945 tại Sài Gòn đặt trên đường Cộng Hòa (nay là đường Lê Duẩn), ngay phía sau nhà thờ Đức Bà. Hầu hết người dân Sài Gòn đều đổ ra đường, thành một biển người chưa từng thấy ở thành phố này. Cờ rợp trời: cờ đỏ sao vàng của Việt Minh, cờ các nước đồng minh, cờ của các đoàn thể. Khẩu hiệu giăng đầy các con đường lớn: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm!”, “Đả đảo thực dân Pháp!”, “Độc lập hay là chết!”… bằng năm thứ tiếng: Việt, Hoa, Anh, Pháp, Nga.

Lễ độc lập cử hành đúng 14g chiều. Nhưng mới 12g trưa, dưới mặt trời đứng bóng, các đoàn thể dân chúng, các toán dân quân từ trong các trụ sở ở Châu Thành, từ các vùng ngoại ô kéo về đại lộ Cộng Hòa (tức đại lộ Norodom vừa đổi tên) tập trung sau nhà thờ Đức Bà. Buổi lễ bắt đầu bằng nghi thức chào quốc kỳ. Lúc đó, bản Tiến quân ca của Văn Cao chưa được phổ biến trong Nam nên ban quân nhạc cử bài Quốc tế ca và bản Thanh niên hành khúc, nhạc của Lưu Hữu Phước

Theo thông báo của ban tổ chức buổi lễ, đúng 14g chiều hôm ấy, tại quảng trường Ba Đình ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Đài tiếng nói Việt Nam (lúc đó đặt tại Bạch Mai nên còn gọi là Đài Bạch Mai) sẽ trực tiếp truyền thanh buổi lễ ở Hà Nội trên làn sóng 32m. Ban tổ chức sẽ tiếp sóng Đài Bạch Mai để đồng bào Sài Gòn nghe bản Tuyên ngôn độc lập qua hệ thống loa phóng thanh đặt dọc theo đường Cộng Hòa và các ngả đường gần đó.

Tuy nhiên, việc tiếp sóng không thành công. Nửa giờ trôi qua, dân chúng bắt đầu bàn tán xôn xao. Một số người cảnh giác đặt ra nghi vấn: phải chăng có kẻ phá hoại? Mặc dù hoài nghi này không có chứng cớ, song trong bối cảnh lúc đó nó vẫn thuyết phục được nhiều người. Mãi về sau này người ta mới biết lý do của sự cố này: đài phát của ta quá yếu, máy thu của ta quá cũ, thời tiết chiều hôm ấy lại xấu.

Để trấn an quần chúng, ban tổ chức buổi lễ đề nghị ông Trần Văn Giàu phát biểu. Ông Trần Văn Giàu suy nghĩ vài phút, ghi vội lên giấy mấy ý chính, rồi bước lên lễ đài, ứng khẩu một bài diễn văn. Lúc đó, các nhà báo chưa sử dụng máy ghi âm nên ghi lại bài diễn văn bằng phương pháp tốc ký để công bố toàn văn trên các báo xuất bản ở Sài Gòn ngày hôm sau.

Mở đầu, ông Trần Văn Giàu tuyên bố một đổi thay lớn trong lịch sử nước nhà sau Cách mạng Tháng Tám: “Việt Nam từ một xứ thuộc địa đã trở thành một nước độc lập. Việt Nam từ một đế chế đã trở thành một nước cộng hòa. Việt Nam đương tiến bước trên đường sống”. Song cuộc hồi sinh của dân tộc đang bị kẻ thù đe dọa: “Kẻ địch toan tính một cuộc âm mưu gác lại ách nô lệ trên cổ 25 triệu đồng bào… Chúng tôi đã nắm được bằng cớ chắc chắn là họ toan dùng võ lực thình lình lật đổ chính phủ dân chủ cộng hòa để đặt lại một quan toàn quyền như thuở trước”.

Do đó, ông khuyên đồng bào hãy đề cao cảnh giác: “Mừng thắng lợi, nhưng đồng bào chớ say sưa vì thắng lợi. Bởi vì Việt Nam yêu quí của chúng ta đương gặp một tình cảnh nguy nan. Không khéo lo, nước ta dân ta có thể bị tròng lại ách nô lệ”.

Ông Trần Văn Giàu hỏi những người dự lễ: “Đồng bào ở đây có ai thừa nhận một quan toàn quyền cai trị xứ ta không? Có ai chịu bó tay để cho chế độ thực dân – ra mặt hay giấu mặt – trở lại không?”. Sau mỗi câu hỏi của ông, cả triệu người đồng thanh đáp lại: “Không! Không! Không!” vang dội một góc trời.

Tiếp sau sự đồng tâm ấy, ông Trần Văn Giàu nhắc lại những điều đã nói với đại diện chính phủ Pháp:

“Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng ký kết với Cộng hòa Pháp những hiệp ước cộng tác về kinh tế, về văn hóa, luôn về binh bị nữa, nếu Pháp công khai thừa nhận quyền độc lập của chúng tôi. Nhược bằng trái lại, các người kể chúng tôi như tôi mọi thì liên hiệp với dân chúng cách mạng Pháp, chúng tôi thề chết (chứ) không nhượng bộ trước bất cứ một sự hăm dọa hay khiêu khích nào”. Thay mặt hàng triệu người dân Nam bộ, ông nói lên quyết tâm bảo vệ tổ quốc: “Chúng ta thề cương quyết đứng bên cạnh chánh phủ, chống mọi sự xâm lăng, dầu chết cũng cam lòng”.

Ông kết thúc bài diễn văn bằng lời kêu gọi: “Quốc dân hãy sẵn sàng chiến đấu!… Đứng lên! Ngày độc lập bắt đầu từ nay! Tiến tới, vì độc lập, vì tự do, tiến tới mãi! Không một thành lũy nào ngăn nổi chí của muôn dân trên đường giải phóng!”.

Chọn ngày Quốc khánh

Theo Sắc lệnh 141-B ký ngày 26 tháng 7 năm 1946 thì “Ngày 19 tháng 8 dương lịch, ngày kỷ niệm Cách mạng tháng 8 năm 1945, từ nay sẽ là ngày Quốc khánh Việt Nam.”

Những hoạt động chính vào ngày Quốc khánh

Theo lịch nghỉ Lễ, Tết năm 2016 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, dịp Quốc khánh 2/9, người dân cả nước được nghỉ liên tiếp 3 ngày từ ngày 2/9 đến ngày 4/9. Trong năm 2015, do ngày 2/9 rơi vào thứ tư nên chỉ được nghỉ một ngày. Tương tự, năm 2013 cũng chỉ được nghỉ một ngày. Riêng năm 2014, cả nước được nghỉ đến 4 ngày.

Vài năm qua, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội thường bắn pháo hoa vào dịp lễ Quốc khánh của cả nước. Vào năm 2016, chỉ có TP.HCM bắn pháo hoa ở Công viên Văn hóa Đầm Sen (tầm thấp) và ở hầm vượt sông Sài Gòn (tầm cao) với kinh phí khoảng 2 tỷ đồng. Ngoài ra UBND thành phố còn tổ chức Lễ khai mạc Triển lãm kỷ niệm Ngày Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2/9 diễn ra lúc 7h30 ngày 31/8 trên đường Nguyễn Huệ và đường Đồng Khởi, lễ dâng hương, dâng hoa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Tôn Đức Thắng…

Kì nghỉ lễ Quốc khánh năm nào cũng có nhiều hoạt động kỷ niệm, giải trí nghệ thuật thu hút rất nhiều người xem do đây là kì nghỉ lễ lớn và quan trọng đối với Việt Nam.

Google Doodle đã kỉ niệm Quốc Khánh Việt Nam vào những năm 2009, 2010, 2016, 2017, 2018, 2019.

Năm 2020, Quốc khánh năm nay (ngày 02/9/2020) rơi vào Thứ Tư nên cán bộ, công chức, viên chức và người lao động sẽ chỉ có 01 ngày nghỉ lễ và hưởng nguyên lương theo đúng quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 115 Bộ luật Lao động 2012. 

Trong ngày này thì dự kiến TP.HCM sẽ tổ chức Chương trình bắn pháo hoa nghệ thuật từ 21h – 21h15 ngày 2/9