CUỘC DI TẢN CỦA KHÔNG QUÂN VNCH hay Ngày Chim Vỡ Tổ

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Bảy Năm Phục Vụ Không Quân Việt Nam Cộng Hòa 1968-1975 của Đào Hiếu Thảo –  PEN Vietnam

Ngày Chim Vỡ Tổ:

Tập ‘Quân sử Không Quân’ trang 199 ghi lại: ‘Về Không Quân VNCH, ngoài một số nhỏ quân nhân và gia đình được di tản bằng phi cơ C130, C141 của KQHK từ ngày 20/4, đa số còn lại chỉ di tản sau ngày 28/4/1975, khi Bộ Tư lệnh KQ không còn hoạt động theo đúng chức năng của một Bộ Tư lệnh nữa.

Số lượng phi cơ của KQVN bay thoát được sang Utapao, Thái Lan, do các tác giả đưa ra, không thống nhất, theo Robert Miskesh trong ‘Flying Dragons: the South Vietnamese Air Force thì tổng cộng vào khoảng 132 chiếc, gồm khoảng 25 F-5, 27 A-37, 11 A-1, 13 C-47, 6 C-130, 3 AC-119, 5 C-7 và 45 UH-1., theo Wayne Muntza trong “The A-1 Skyraider in Viet Nam”: The Spad’s Last War, và Ralph Wetterhahn trong ‘Escape to Itupao thì con số máy bay được cho là 165 chiếc, thêm vào đó là các U-17 và O-1, ngoài ra không kể vài phi cơ dân sự của Air VN.

Cũng vào ngày cuối cùng, một số trực thăng đã bay ra đáp xuống các chiến hạm của HQHK, con số này được ước lượng là khoảng 100 chiếc, đa số là UH-1 và CH-47. Cũng có những chiếc tuy bay được ra biển nhưng do trục trặc kỹ thuật, hoặc hết nhiên liệu đã rớt xuống biển. Con số này được ước lượng là khoảng 18 chiếc.

37 năm sau ngày 30/4/1975, các tài liệu quân sự được giải mật và những bài hồi ký, bút ký của nhiều tác giả trong cuộc đã giúp ‘vẽ lại’ toàn cảnh (có thể chưa hoàn toàn chính xác) về cuộc di tản hay đúng hơn là ‘tự tan hàng’ của KQ VNCH.

Cuộc di tản chiến thuật, rút bỏ Quân Đoàn II vào ngày 6/3/1975 đã bỏ lại tại Pleiku 64 phi cơ các loại.

Ngày Quân Đoàn I tan hàng tại Đà Nẵng (30/3/1975), 180 phi cơ đã bị bỏ lại, trong số này có 33 phi cơ vận tải C-7 Caribou đang bị đình động còn bọc kin trong bao tồn trữ.

Trong những tháng cuối cùng của cuộc chiến, khả năng chiến đấu của KQ VNCH càng ngày càng bị giới hạn do không còn một hệ thống chỉ huy và kiểm soát hữu hiệu. KQ VNCH không có những phi cơ trang bị hệ thống chỉ huy, dẫn đạo không trợ bay trên vùng cần yểm trợ hành quân (theo phương pháp của KQ HK: dùng các C-130 làm trạm chỉ huy trên vùng). Trong khi đó sự kiện bị mất các đài Kiểm Báo và Không Trợ như Trung Tâm CRC (Combat Report Center), Panama Đà Nẵng, các Trạm CRP (Combat Report Point) Peacock PleiKu, Pyramid Ban Mê Thuột đã khiến Hệ thống Kiểm Báo Chiến Thuật trở thành tê liệt, vô hiệu. Tuy Trung Tâm CRC Tân Sơn Nhất vẫn còn hoạt động nhưng nhiệm vụ chinh lại không phải là để điều hành các phi vụ yểm trợ chiến trường, hoặc hướng dẫn oanh tạc các mục tiêu dưới đất. Các phi vụ oanh tạc tùy thuộc vào các phi cơ quan sát FAC (Forward Air Controller = Điều Không tiền tuyến) và tùy phi công có mặt trên vùng, nhận định mục tiêu bằng mắt thường.

Vào thời điểm của trận Xuân Lộc: KQVNCH còn 1492 phi cơ các loại, trong đó có 976 chiếc hoạt động được, 135 chiếc hư hỏng không bay được và 381 chiếc kể như phế thải. Lực lượng phi cơ chiến đấu gồm 169 chiếc A-37 (trong đó 92 chiếc khả dụng) và 109 F-5s (93 chiếc khả dụng).

Những phi vụ hành quân cuối cùng của KQ VNCH trên không phận Sài Gòn:

Trong những ngày cuối cùng của VNCH, KQVN vẫn còn hoạt động với một số phi vụ yểm trợ bộ binh và chống pháo kích. Đ/úy phi công Trần văn Phúc PĐ 518 ghi nhận một số phi xuất trong những ngày 28 và 29/4 như:

PĐ 518 với phi vụ Phi Long 51 do một phi tuần gồm 2 Skyraiders (một do Đ/úy Phúc và một do Th/tá Trương Phùng) bay vào sáng 29/4. Phi cơ của Th/tá Phùng bị phòng không cộng quân bắn hạ. Ông đáp xuống ruộng gần cầu Bình Điền, bị bắt và sau đó bị cộng quân hành quyết vào ngày 30/4.

PĐ 514 với một phi tuần 2 Skyraiders cất cánh từ Cần Thơ để bay trên không phận Sài gòn vào sáng 29, do các Th/tá Hồ ngọc Ân và Đ/úy Nguyễn Tiến Thụy điều khiển.

Những phi vụ Tinh Long của các AC-119 như Tinh Long 06, Tinh Long 07:

Tinh Long 07 (sáng 29/4) do Tr/úy Trang văn Thành điều khiển đã bị SA-7 của cộng quân bắn hạ, phi cơ gẫy làm đôi và rơi ngày tại vòng đai phi trường. Phi hành đoàn gồm 9 người, 8 hy sinh ngoại trừ nhân viên nhảy dù thoát được.

Theo Đ/úy Phúc: ‘Ngoài Tinh Long 07, còn có thể có thêm 2 AC 119 khác bị bắn hạ (?) (một rơi tại đường Ngô Quyền và một rơi tại Tân Tạo)’.

Sáng 30/4, một phi xuất A-37 (Tr/úy Nguyễn Mạnh Dũng PĐ 526 lái) từ Cần Thơ, phối hợp với O-1 (Đ/úy Mai Trí Dũng PĐ112 lái) từ Đồng Tâm, bay yểm trợ khu vực Hoàng Hoa Thám ngay trước giờ Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng. Đây có thể là phi vụ hành quân cuối cùng của KQ VNCH.

(Xin xem bài: Những Phi vụ hành quân sau cùng của KQ VNCH, của Trần Lý)

Những giờ phút cuối cùng tại Bộ Tư lệnh KQVNCH
Chiều 28/4, CSBV đã dùng 4 A-37 (lấy được từ Phan Rang) oanh kich phi trường TSN, gây tổn hại cho 3 chiếc C-119 và nhiều C-47.

Tối 28/4: một sự kiện ‘kỳ lạ’ đầy bí ẩn đã xẩy ra tại TSN: Tác giả Thiên Lôi Ngô Đức Cửu trong ‘Chuyện 30 năm trước’ (website bgkq.net/hoiky) ghi lại như sau:

… ‘8 giờ tối 28/4/1975, tôi trở về ụ đậu phi cơ đầu phi đạo 07 phải, nơi tạm trú của 3 Phi đoàn 524, 534 và 548 di tản từ các căn cứ về. Bước xuống xe, tôi thấy các nhân viên phi đạo đang bận rộn kéo các A-37 trang bị đầy bom đạn từ trong vòm trú ẩn ra đậu hàng ngang dài phía trước, cách ụ 50 feet. Tôi bước đến hỏi trưởng phi đạo tại sao dời phi cơ khỏi ụ ? Anh ta trả lời: “Theo lệnh Trung tá kỹ thuật và Bộ CH Hành quân.” Tôi vào phòng trong ụ, nhắc điện thoại gọi Trung tâm Hành quân, thì sĩ quan trực cho biết hình như lệnh của Bộ Tư lệnh KQ hay Bộ TTM gì đó ? Tôi hỏi: “Anh có biêt là hồi chiều phi đạo 07 vừa bị dội bom không ? Tôi liên lạc với Đ/tá Ước, nhưng không được. Trở lại bãi đậu, tôi yêu cầu trưởng phi đạo di chuyển phi cơ trở lại ụ nhưng không được.

Tôi tự hào trong hàng ngũ phi công khu trục KL VNCH, nhất là Không Đoàn 92 có các PĐ 524, 534, và 548 cho đến giờ phút này, 22 giờ 18 tối 28/4,  tât cả phi công đều có mặt ứng chiến, không thiếu một ai.

Suốt đêm tất cả anh em 3 phi đoàn chờ đợi, điều động cất cánh nhưng tuyệt nhiên không một tiếng điện thoại reo.

Nửa đêm, VC bắt đầu pháo kích và hơn 50 chục A-37 bị phá hủy. Giờ đây hơn trăm phi công chiến đấu bằng tay không ư?

6 giờ 15 sáng 29/4, tất cả phi công lên xe chạy về Bộ Chỉ huy KĐ 33. Đ/tá Thảo chạy vào rồi chạy trở ra. Đến nơi các phòng vắng lặng, không còn ai cả. Trở lại sân cờ KĐ 33, Đ/tá Thảo tuyên bố tạm thời tan hàng, anh em rán tự tìm lấy phương tiện di tản.

Mọi người xuống xe, nhưng chạy về đâu bây giờ ? Tan hàng, nghe thảm thiết quá. Một trong những đơn vị chiến đấu kiên cường nhất của QL VNCH, giờ đang bị bó tay. Lệnh ai cho sắp trên 50 chiếc A-37 hàng ngang, cánh liền cánh, xăng nhớt bom đạn trang bị đầy đủ để hủy diệt? Nếu không cho chúng tôi chiến đấu thì cũng để chúng tôi có phương tiện ra khỏi phi trường chứ ? Chúng tôi đâu có rã ngũ. 

Sự kiện phi cơ bị ‘tự hủy'(?) này cũng được ghi nhận trong ‘Can trường trong Chiến bại’ của Tướng Hải Quân Hồ văn Kỳ Thoại, trang 306-307′ như sau:

… ‘Tới đêm 28/4, tại căn cứ Duyên đoàn ở Vũng Tàu, một sĩ quan KQ cấp tá xin vào gặp tôi và cho biết có một số trực thăng đang đậu tại Vũng Tàu, có Tướng Huỳnh Bá Tính, Sư đoàn trưởng SĐ 3 KQ muốn đến gặp tôi, cần trình bầy một sự kiện quan trọng.

Tướng Tính vào căn cứ duyên đoàn gặp tôi và các tướng lãnh khác (Nguyễn duy Hinh, Trần văn Nhựt…) kể chuyện xẩy ra, rất bi thảm Ông không biết lịnh từ đâu… bỗng nhiên một số phi cơ phát nổ, sau đó được biết có lệnh của Saigon, cho phá hủy các phi cơ của KQ ?

Tướng Tính phân vân, không muốn về trình diện Bộ TLKQ khi ông chưa biết ai ra lệnh hủy phi cơ thuộc SĐ của ông ? Chúng tôi thuyết phục ông Tính liên lạc trực tiếp với Tướng Minh Tư Lệnh KQ.

Đêm 28 rạng sáng 29/4, cộng quân bắt đầu pháo kích vào phi trường TSN, phá hủy nhiều phi cơ.

Khoảng 8 giờ sáng, Tướng Phan Phụng Tiên, Sư đoàn trưởng SĐ5 KQ, đến gặp Tướng Minh, và sau đó bỏ đi.

10 giờ 30 phút sáng 29/4, sau khi họp riêng với Tướng Minh Tư lệnh KQVN, Tướng Nguyễn Cao Kỳ (không có một chức vụ chính thức nào trong Chính Phủ cũng như trong Quân lực VNCH) bay trực thăng riêng về Bộ TTM. Thấy không còn ai. Tướng Kỳ gặp Tướng Ngô Quang Trưởng đang ngồi không nên rủ Tướng Trưởng lên trực thăng, theo đoàn tùy tùng bay ra USS Midway đang đậu ngoài khơi Vũng Tàu.

Khoảng 11 giờ, Trung tướng Nguyễn văn Mạnh Cựu TMT Liên quân cùng với Trung tướng Dư Quốc Đống vào gặp Tướng Minh. Không thấy HK liên lạc như đã dự trù, Tướng Minh cùng các tướng tá Bộ binh và KQ tùy tùng đã di chuyển sang DAO để chờ di tản.

Từ 1 giờ trưa, Trung Tâm Hành quân KQ coi như bỏ trống. Các Phi đoàn trưởng ra lệnh tan hàng. Phi công bay đi đâu hoặc chạy đâu, tự ý quyết định.

Riêng SĐ 4 KQ tại Trà Nóc Cần Thơ, còn hoạt động (cho đến sáng 30/4 một số phi vụ vẫn từ Cần Thơ bay lên yểm trợ chiến trường quanh Sài Gòn) và Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Tần, Sư đoàn trưởng có thể được xem là vị Tư lệnh sau cùng của KQ VNCH (?)

Trong bài bút ký ‘Giây phút nát lòng’ (Lý Tưởng Tháng 4/2002) Tác giả Không Quân Liệt Lão, Chỉ huy trưởng Phòng vệ BTLKQ đã kể lại những giây phút tan hàng tại Tân Sơn Nhất với những đoạn tạm trích như sau:

… ‘ Tôi lên trình diện Tư lệnh bộ, toan phúc trình tình hình phòng thủ, nhưng chẳng ai bận tâm. Người người nhìn nhau đăm chiêu dường như trong thâm tâm ai cũng muốn buông rơi tât cả. Ai cũng thần sắc không còn, dũng khí tiêu tan như ‘đại bàng xệ cánh’. ‘Tôi trông chờ một lệnh họp khẩn cấp, duyệt xét tình hình chung, lấy quyết định tối hậu ‘Chiến’ hay ‘lui’ Chiến thì chiến ra sao ? Lùi thì lùi thế nào ? Có tuần tự, trước sau, không bỏ một ai hay hỗn loạn mạnh ai nấy chuồn ? Tôi chờ lệnh, nhưng không có lệnh!

Bài viết có thêm những chi tiết di tản của một số Tướng KQ và BB như:

… ‘ Tôi đưa tay chào nghiêm túc theo quân cách, Cửu Long (danh hiệu của Tướng Minh, Tư lệnh KQ), chào trả, ngập ngừng chân bước, ái ngại nhìn tôi và đột nhiên dứt khoát:
– Toa ở lại, đi sau với Lành (Tướng Võ Xuân Lành) nghe.

… ‘ Tôi mỉm cười, quay bước vào phòng tình hình, lúc này chỉ còn ông Linh, ông Lành. Ông Lượng đã đi đâu lúc nào tôi không biết. Được một lúc khoảng 10 giờ gì đó, Đ/Tá Vũ văn Ước đáp trực thăng trên sân banh, chạy vội vào gặp ông Lành, xong cùng ông Lành trở ra, kéo luôn theo tôi, miệng nói:
– Đi mày.
Tôi nhìn Lành, quay qua hỏi Ước: – Đi đâu ?
– Qua Tổng Tham Mưu (TTM) xem tìmh hình ra sao ?
Ước nói và nắm tay tôi lôi đi. Tôi, Ước, và Linh lên trực thăng qua đáp tại sân cờ trươc tiền đình Bộ TTM. Linh và Ước chạy lên văn phòng TTM trưởng.Tôi không theo.

Đảo mắt chỗ khác thấy trực thăng Tướng Kỳ. Đàn em trước kia của tôi hiện là cận vệ ông Kỳ, từ trực thăng nhảy xuống, chạy đến tôi nói nhỏ: – Trực thăng sẽ bay ra Blue Ridge. Ông hảy lên, cùng đi.Tôi hỏi: – Tướng đâu ?- Họp trên văn phòng TTM Trưởng.

Tôi bước lại trực thăng, nhìn vào thấy Đ/tá Hà Xuân Vịnh ngồi trên đó từ hồi nào. Tôi leo lên ngồi cạnh. Đang miên man suy nghĩ cho mạt vận của đất nước, mạt kiếp của mình thì ông Linh từ bộ TTM chạy ra một mình đến bên trực thăng có tôi và Vịnh đang ngồi đăm chiêu, mỗi người một ý nghĩ. Ông Linh cứ loanh quanh ở dưới chẳng chịu lên. Tôi vội leo xuống, lại gần Linh nhỏ to: ‘ Linh! Kỳ sẽ rút ra Đệ Thất hạm đội. Lên đi, hết cách thôi.’
Linh có điều gì bất ưng, nhất định không lên tàu.Tôi hỏi: Sao ? Linh nói: “Thiếu gì máy bay.” Tôi vội báo động: “Máy bay nào ? Còn duy nhất chiếc này thôi.” “Chiếc kia kìa.” Linh vừa nói vừa chỉ tay về chiếc trực thăng mà tôi, Ước và Linh vừa đáp hồi nẫy. “Tàu còn đó, hoa tiêu bỏ đi rồi.” Tôi nói với Linh vì thấy họ phóng xe jeep ra khỏi TTM.
Linh nhất định không lên tàu. Tôi đành ở lại bên anh. Tôi còn đang phân vân bàn thảo với Linh những bước kế tiếp thì ông Kỳ từ đại sảnh bộ TTM bước ra, đi về hướng trực thăng và dẫn theo số đông tướng lãnh, bay đi cùng Ước, để lại tôi và Linh tự quyết định lấy phận mình.

Tôi và Linh, cùng với Đặng Duy Lạc (Đ/tá Không Đoàn trưởng KĐ 62) không biết từ đâu chui ra, yêu cầu Quân Cảnh TTM hộ tống chúng tôi về lại Bộ TL KQ. Xe rồ máy phóng đi trực chỉ cổng Phi Long.

Tinh cầu trên vai, Linh cho lệnh mở cửa. Quân ta phớt tỉnh… không nghe. Đặng Duy Lạc vẫn ngồi yên như khúc gỗ. Tình hình thực gây cấn. Thấy ông Linh hết ‘linh’, tôi bước xuống xe tiến thẳng đến chỗ anh KQ bất tuân thượng lệnh, điềm đạm ra lệnh mở cổng. Anh líu ríu vâng lời.

Chúng tôi vào Bộ Tư lệnh KQ gặp ông Lành. Niềm tự hào của KQ đang ở chỗ này: Tướng Lành trước thế quân tan vỡ, quân binh đang đua nhau bỏ ngũ, ông vẫn trầm tĩnh, kiên trì thủ đài Chỉ huy Hành quân Chiến cuộc KQ. Ông giữ vững liên lạc với SĐ 4 KQ, SĐ KQ duy nhất còn hăng say chiến đấu trong khi nhiều đơn vị đã tự ngừng nghỉ.

Ông Linh tóm lược tình hình bên Bộ TTM cho ông Lành rõ. Ông Linh đề nghị rút khỏi Tân Sơn Nhứt. Tướng Lành nói với Linh trươc sự hiện diện của tôi và Đặng Duy Lạc:
– Moa chưa có lệnh..
Ông vẫn đợi lệnh. Chúng tôi vẫn đợi, vẫn chờ… nhưng chờ lệnh ai đây ? Mọi người đã bỏ đi cả rồi, tội cho ông Lành vẫn ngồi chờ lệnh, mà lệnh của ai đây ? Tôi buột miệng:- Ông chờ lệnh ai ? Còn ai đây nữa mà ra lệnh cho mình?Ông Lành trầm ngâm không nói, chúng tôi lặng yên chờ (lại chờ) quyết định của ông, chợt Tướng Lê quang Lưỡng (Nhảy dù) xịch xe jeep đến, thấy tụi này còn đương nhìn nhau, hỏi:- Tụi toa định làm gì đây ?Ông Lành ngượng nghịu chưa biết phải nói sao cho đỡ khó nói? Tôi nhìn thẳng Tướng dù nói nhanh:- Tụi này zulu đây. Ông có theo thì cùng đi ?- Zulu ? Zulu bỏ mấy đứa con (ý nói quân dù) lang thang. Sao đành!
Ông Lành hỏi:- Toa còn mấy đứa con ?- Sáu đứa chung quanh đô thành.

Lúc này trực thăng TQLC Mỹ đổ bộ và bốc người loạn cào cào trên không phận SàiGòn. Tôi đỡ lời ông Lành:- Tân sơn Nhất không giữ được. Không Quân chúng tôi phải rút khỏi tầm pháo địch trước đã.Ông Lưỡng vội hỏi: – Tụi toa định rút đi đâu ?Tôi nhanh nhẩu: – Có thể vùng 4… Có thể đi luôn!- Chờ moa một chút, cho moa về thu xếp với mấy đứa con cái đã.
Nói xong, ông Lưỡng lên xe jeep về sư đoàn Dù.

Trong khi chờ Tướng Dù trở lại, các sĩ quan cấp Không đoàn và Tham mưu Bộ Tư lệnh KQ hiện diện cùng với một số binh sĩ thuộc Tổng hành dinh KQ vội tập họp quanh chúng tôi tại tiền đình Bộ TL nghe ngóng tình hình. Tôi nói thẳng:- Dưới áp lực của pháo Cộng, Bộ TLKQ buộc phải rút khỏi đây. Ai muốn đi theo, hãy sẵn sàng. Kể từ giờ phút này, các anh không còn trách nhiệm gì với KQ nữa. Các anh có thể rời đơn vị, lo cho sự an nguy của vợ con càng sớm càng tốt.

Cùng trong lúc đó, Tướng Dù đã trở lại. Chúng tôi thảo luận kế rút đi. Sau k hi xét kỷ lại nghề bay trong chúng tôi, không có ai là hoa tiêu vận tải. Tướng Lành, Thảo nâu, Duy Lạc… đều là hoa tiêu phóng pháo. Ông Linh đề nghị qua DAO. Tôi hỏi nhỏ ông Linh: – SĐ 5 KQ thì sao ? Linh thở dài trả lời:
– Các hoa tiêu đã tự ý rút cả rồi.Sau phút suy tính, vị chỉ huy đoạn hậu BTLKQ cho lệnh rút. Tất cả lên 3 xe jeep trực chỉ cơ quan DAO. Tới cổng DAO, một dân sự Mẽo, mặc áo giáp, M17 cầm tay chặn lại và hách dịch ra lệnh:- Generals only.

Hai Tướng KQ, một Tướng Dù bước vào trong hàng rào kẽm gai. Tôi lắc đầu quay ra, tự tay gỡ kẽm gai bước khỏi vùng phân ranh Mỹ-Việt. Anh Mẽo gác cửa chẳng hiểu tại sao cái anh phi hành đã vào rồi lại bỏ ra trong khi nhiều người muốn vào lại không được.

Tác giả sau đó, cùng một số sĩ quan cấp Tá quay lại BTL KQ để tìm phương cách khác tự di tản.

(Ghi chú: Danh sách một số Tướng, Tá và chức vụ tại Bộ TLKQ, trong những ngày cuối cùng của VNCH

  • Trung Tướng Trần văn Minh, Tư lệnh KQVN
  • Thiếu Tướng Võ Xuân Lành, Tư lệnh phó
  • Chuẩn Tướng Võ Dinh, TM Trưởng
  • Ch/Tướng Đặng Đình Linh, TM Phó Kỹ thuật/Tiếp vận

Bác sĩ Phạm gia Lữ trong bài ‘Tân sơn Nhất trong giờ hấp hối’ (Lý Tưởng, tháng 4/2002) kể lại một số diễn biến tại Trung Tâm Y Khoa KQ..với nhiều tiết khá chua chát của một đơn vị hầu như bị… bỏ quên ?

…’Chiều thứ Hai 28/4, lệnh giới nghiêm 24/24 bắt đầu. Cổng Phi Long đóng cửa. Phi trường TSN vừa bị A-37 oanh kích trước đó.

Khoảng nửa đêm, Th/t L. nhào vào bô bô nói: – Tình hình thế này mà các cậu ngủ được thì lạ thật. Đàn anh biến đi đâu hết rồi.(hắn ám chỉ các anh lớn của KQ). Họ đang lập cầu không vận đi Côn Sơn kia kìa. SĐ5 KQ đang tổ chức di tản cho thân nhân binh sĩ thuộc sư doàn đi Côn Sơn.

Đêm 28/4, CQ pháo kich vào phi trường gây thiệt hại cho nhiều máy bay.

Khoảng 7 giờ sáng 29/4, trong lúc quanh quẩn tại BCHHKQ, tôi gặp Đ/tá H Giám đốc Trường Chỉ huy và Tham mưu Trung cấp KQ trước cửa văn phòng ông, vẻ buồn bã lộ trên nét mặt. Tuy thuộc cấp chỉ huy nhưng không có cánh, máy bay không có trong tay, nên cũng chẳng xoay sở gì được. Đ/tá Th. Chỉ huy trưởng Trung Tâm Kiểm báo, cũng là người rất kỷ luật, cứ nằm lỳ trong đơn vị để làm gương cho thuộc cấp nên cũng bị kẹt trong cơn hấp hối của TSN.

Khoảng 10 giờ, cùng Th/t Vũ BH thuộc trường CH/TM lái xe đi thăm tình hình.Trên đường chạy ra phi đạo, một dẫy dài xe hơi bỏ trống, nối dài từ cửa chính vào văn phòng Tư lệnh ra đến ngoài đường. Tôi gặp chiếc Falcon màu vàng nhạt của Th/tá Khoa (đen), vẫy tay ra hiệu cho anh ngưng lại và hỏi: – Đi đâu bây giờ ?Khoa trả lời vắn tắt: – Theo moa.Vừa khỏi vòng rào BTL, Khoa quẹo phải rồi quẹo trái, thì ra anh ở nhà cũ của LCK. Sau khi vợ con hành lý lên xe, chúng tôi nối đuôi nhau trở ra phi đạo. Trạm canh ra phi đạo không còn quân cảnh canh gác.

Bay đi Utapao:

Để thoát khỏi Việt Nam, các phi cơ vận tải, phản lực nếu đủ nhiên liệu có thể tự bay sang Singapore ( 590 miles về phia Tây-Nam) hoặc gần hơn là sang Utapao, Thái Lan (350 miles phia Tây-Bắc). Đa số các phi cơ vận tải và phản lực đã chọn Utapao, chỉ một số rất ít C-130 bay đến Singapore.

Bài viết chinh thức về cuộc di tản của các phi cơ VNCH đến Utapao trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến VN: Escape to Utapao của Tác giả Ralph Westerhaan đã được đăng trên Tập san Air and Space/ Smithsonian Số Dec-Jan 1997.

… ‘ Vài ngày trước khi có cuộc di tản của KQVNCH ra khỏi Sài gon, Tướng KQHK Harry Aderholt, Chỉ huy trưởng Phái bộ Quân viện HK tại Thái Lan (MAC-Thai) đã gửi Đại úy KQ Roger L YoungBlood bay đến Phi trường Trat, nằm sát biên giới Thái-Miên. Bay trên một chiếc phi cơ AU-23 của Không lực Thái Lan (AU -23 là một phi cơ cải biến từ loại Pilatus PC-6, có khả năng đáp được xuống những phi đạo thật ngắn) YoungBlood bay vòng vòng trên không phận Thái Lan cùng một phi công phụ VNCH. Phi công phụ này giữ tần số vô tuyến và hướng dẫn các phi cơ VN bay về Utapao.’

Skyraiders A-1:

11 chiếc Skyraiders đã đến được Utapao, gồm 5 A-1E, một A-1G và 5 A-1H. Trong số này 7 chiếc thuộc Phi đoàn 514, 3 chiếc thuộc PĐ 518 và 1 thuộc PĐ 530:

Chiếc Skyraider A-1H, số hiệu 139606 thuộc PĐ 518 là chiếc Skyraider sau cùng bay khỏi VN đến Utapao, phi công đã chở cả gia đình ‘nêm’ chật cứng trong phòng lái (danh từ lóng của KQ Mỹ gọi đây là một hell hole).

Trên một chiếc A-1E, phi công (Th/tá Hồ văn Hiển PD 514) đã cất cánh, chở theo 15 người, nhét cứng trong..’blue room’. Tác giả Phi Long 51 trong bài ‘Chuyến bay định mệnh’ (trên Diễn đàn Cánh thép) ghi lại:

… ‘ Sáng 29/4, tôi trở lại Bộ chỉ huy Hành quân KQ sau 10 giờ và khám phá ra PĐ 518 đã cất cánh đi Cần Thơ. Tôi gặp Tr/tá NCP trong BCH và tìm phi cơ để đi. Do cơ trưởng Lợi huớng dẫn, chúng tôi tìm được một AD-5 (chiếc này có 2 chỗ ngồi lái và một phòng trống khoảng 3x4x3 feet cao ở phía sau ghế pilot). Phi cơ trang bị đầy bom đạn. Sau khi thay bình điện, phi cơ rời ụ và tuy quá tải cũng cất cánh được. Không liên lạc được với đài kiểm soát, phi cơ bay đi Cần Thơ xin đáp nhưng bị từ chối, sau đó đành bay ra An Thới (Phú Quốc), thả bớt bom xuống biển. Tại An Thới, phi cơ được bỏ bớt đạn đại bác, bị tạm giữ không cho cất cánh. Đến 10 giờ sáng, sau khi có lệnh đầu hàng, phi cơ bay đi Utapao cùng với 15 người trên phi cơ.

Số Skyraiders bị bỏ lại là 40 chiếc, trong đó 26 chiếc bỏ lại ở TSN.

F-5s:

Trong số 26 chiếc F-5s bay thoát khỏi VN (gồm 22 chiếc F-5E và 4 chiếc F-5A/B), có 2 trường hợp đặc biệt được Anthony Tambini ghi lại trong F-5 Tigers over Việt Nam:

Một chiếc F-5F (loại 2 chỗ ngồi), đã chở theo 4 phi công trong 2 phòng lái, bằng cách tháo bỏ các dù, hạ ghế xuống thấp hết mức, một phi công ngồi và phi công thứ nhì đứng khom lưng đối mặt, lưng dựa vào cockpit. Phi cơ cất cánh khi phi trường đang bị pháo kích. Lúc đầu, phi cơ định bay lên với hệ thống thắng để mở. Cảm nhận được tình hình không thể bay lên, phi công đã phải mở dù ‘drag chute) để làm chậm vận tốc, sau đó đóng hệ thống thắng để phi cơ bay lên được và bay đi Thái Lan. Tuy nhiên, có lẽ hệ thống thắng đã bị hư hại khi bị pháo kích nên không còn sử dụng được. Phi cơ đáp xuống một phi dạo thô sơ và chật hẹp. Không ngừng được nên đâm vào cây và phát nổ, gây tử thương cho cả 4 phi công (Th/tá Mai Tiến Đạt, Nguyễn Đức Toàn, Ngô văn Trung và Đ/úy Lê Thiện Hữu.)

Một F-5A khác, cất cánh với 3 phi công, cất cánh ngược hướng bay, bay qua đầu các phi cơ đang đậu trên phi đạo chờ đến lượt bay lên. Phi cơ đến được Utapao.

Số F-5 bị bỏ lại gồm 87 chiếc, trong đó có 27 F-5E

A-37s:

Gần 50 chiếc A-37 đã bị hủy diệt trong đợt pháo kich đêm 28/4 (xem phần trên) và Đ/tá Thảo (KĐ trưởng KĐ 33) đã cho lệnh tan hàng vào khoảng 8 giờ sáng 29.

Th/tá Ngô Đức Cửu đón được một L-19 và về đáp Trà Nóc (Cần Thơ). Tại đây ông trình bày tình hình của Bộ Tư lệnh KQ Sàigòn (đã bỏ ngỏ) và hướng dẫn các PĐ A-37 còn lại bay đi Utapao: … ‘Từ Bình Thủy đi Utapao, hướng 300, khoảng 45 phút là đến. Anh em nên lấy bản đồ ra kiểm soát lại và ghi các chi tiết tần số tower.’
10 giờ sáng 30/4 sau khi có lệnh ‘đầu hàng’, căn cứ Bình Thủy cũng tự động tan hàng. Bãi đậu phi cơ vắng lặng, không còn quân cảnh, không còn chuyên viên kỹ thuật.

… ‘tôi rất thán phục anh em A-37 Cần Thơ, có nôn nóng nhưng rất trật tự, có thể nói là lịch sự. Tôi lên tiếng vì nhu cầu, tất cả hoa tiêu A-37 phải rời VN, anh em bắt cặp lấy, mỗi phi cơ phải đi được 3 người, không dù không hành lý. Ngoại trừ phi công bay ghế trái phải đội helmet để liên lạc. Tất cả phi cơ phải bay ở 12 ngàn bộ, không cần dưỡng khí.’

Đa số bình điện của các phi cơ yếu, Th/tá Cửu và Th/tá Kim (Liên đoàn trưởng Kỹ thuật) đã dùng APU khởi động từng phi cơ theo thứ tự. Th/tá Cửu lên chiếc sau cùng rời phi đạo để hợp đoàn với gần 30 chiếc A-37, bay về hướng Utapao.

Đây có thể được xem là ‘chuyến di tản’ trật tự và ‘thành công’ nhất của KQ VNCH.

Ngoài ra, còn có một A-37 đáp xuống một xa lộ gần căn cứ KQ Korat, phía Bắc Bangkok, gần một trường học, bom đạn còn đầy dưới cánh và Tướng Aderholt đã phải gửi một Đ/úy phi công Mỹ đến để bay chiếc này về căn cứ Udorn.

Theo thống kê 27 chiếc A-37 đến được Utapao. 95 chiếc bị bỏ lại VN.

Phi cơ vận tải:

Tân Sơn Nhất là căn cứ tập trung của nhiều phi đoàn vận tải của KQVNCH. Cuộc di tản cũng rất hỗn loạn, nhiều phi cơ bị bỏ lại vì không có phi công, không người đổ xăng. Có những trường hợp phi cơ không cất cánh nổi do quá tải, hay do quá vội. Một số phi cơ vận tải đã bay được sang Utapao vì đã ở sẵn và cất cánh từ Côn đảo. Tất cả đều chở vượt quy định. Có những C-47 bay đến Utapao với cả trăm hành khách (bình thường chỉ chở 30 binh sĩ), bánh đáp bị gãy khi chạm đất.

Phi công Hungphan trong bài hồi ký ‘Những giờ phút sau Tinh Long 07’ ghi lại: Sáng 29/04/75

…’ Đồng loạt không ai bảo ai, chúng tôi tháo chạy về phia Không đoàn bộ (PĐ 437), bên cạnh là đại bản doanh của PĐ 435, chúng tôi đang ngơ ngác tìm nơi trú ẩn, thì thấy ông PĐ trưởng Tr/tá MMC bước ra, nhìn chúng tôi lên tiếng: ‘ Giờ này pilot quý lắm, ai ở phi đoàn nào về phi đoàn nấy.’ Chúng tôi im lặng rút sâu vào tầng dưới của SĐ bộ, thấy đủ mặt văn võ bá quan. T/Tá Vinh con 435, T/Tá Vinh Trô 437, Tr/Tá Dinh, Đ/úy Chư… đã có mặt từ lúc nào, gần giống một cuộc họp của Không đoàn.

Không biết thời gian nặng nề dai dẵng này kéo dài bao lâu, thỉnh thoảng có tiếng pháo kích như để phá tan bầu im lặng. Tiếng pháo vẫn vang lên bên ngoài, bỗng có tiếng điện thoại reo trên lầu, rồi im lặng. Tất cả khuôn mặt không dấu vẻ lo lắng đợi chờ. Tình hình căng thẳng, khoảng mười phút sau, tiếng chuông điện thoại lại reo lên. Chưa hết tiếng reo đột nhiên có tiếng của ai đó hét to: “Ra xe (chưa ai nghe điện thoại).” Không ai bảo ai, chúng tôi chạy nhanh lên xe.

Tôi cũng nhảy lên một chiếc Step van. Chạy được một quảng, 4, 5 anh phòng thủ với súng ống đầy mình, chạy ra chận xe lại. Có tiếng trong xe la lớn: ‘ĐM, lên xe luôn, giờ này mà chặn cái gì?’ thế là thêm đông. Đến parking, tôi chạy về chiếc GZA 027, Herky 027 mà tôi biết tàu tốt vì tôi mới bay về tối hôm qua. Trên phòng lái, có độ 10 ông pilot C-130 !!! Phí thật.

Chỉ một phút sau, chúng tôi take-off. Hai phút sau đã lên cao độ an toàn (T/Tá Nhân nhẩy vào ghế pilot thay Đ/úy Chuân, ngồi co-pilot là Tr/Tá Đinh).

(14 chiếc C-130 bị bỏ lại, 9 chiếc đến được Utapao, ngoài ra còn 1 chiếc đã đào thoát sang Singapore từ khoảng đầu tháng 4)

Tác giả ‘Không quân liệt lão’ trong bài ‘Giây phút não lòng’ (xem phần trên) ghi tiếp:

… “Thảo bảo tôi: “Mình ra khu trực thăng, moa thấy nhiều lắm, đậu phía gần phi đạo hướng Bà quẹo đó.” Đến khu trực thăng, lên chiếc nào mở máy cũng không nổ, tàu nào cũng khô ran (Tướng Tiên cho lệnh rút xăng khỏi tàu vì sợ các phi công… tự động tan hàng). Chọn trực thăng không xong, Thảo Nâu chở tôi trên jeep đi tìm Cessna. Gặp Cessna, Thảo leo lên, bảo tôi ngồi ghế phài. Thảo quay máy, máy nổ. Bỗng nhiên con tàu xao động dữ dội. Quan quân ở đâu đông thế đang dành nhau leo lên tàu. Cessna chỉ có 5 chỗ, làm sao chở nỗi cả chục người. Không ai chịu xuống.

Tôi tự quyết định, nhường chỗ, mở cửa buớc xuống leo lên jeep để lái đi. ,có QC Vân cùng bỏ Cessna lái đi..tìm xem còn chiếc nào để quá giang..

Trên đường rời khỏi SĐ 5KQ, ngang qua văn phòng Tư lệnh phó SĐ, thấy có ánh đèn, cửa mở, tôi đậu xe bước vào.. Gặp Đinh thạch On ngồi thẫn thờ sau bàn giấy..Tôi hỏi:

– On, sao còn ngồi đây? Tât cả bỏ đi hết rồi, anh cũng đi đi thôi.
On như người mất hồn: “C-130 tụi nó lấy trốn cả rồi.”
Tôi nhắc: “Còn C-47 mà.” On thở dài: Đã lâu lắm, tôi không lái C-47.

.. Sau khi ngồi chờ ông On lôi quyển kỹ thuật C-47 ra ‘ôn bài’, cả đám đi tìm C-47 để chạy. Đến bãi đậu, các phi cơ đều bất khả dụng: hoặc không xăng, hoặc bị trúng đạn pháo kích. Đang tuyệt vọng, cả đám tìm được một C-47 đang nằm trong hangar. khóa kín..Đó là chiếc phi cơ riêng của Tư lệnh Vùng II. Sau đó có thêm Đ/úy Qui chạy đến. Phi cơ chở đến gần 80 người cộng theo thiết bị linh tinh… cố gắng cất cánh… sau cùng đến được Utapao.

Nhóm của BS Phạm gia Lữ (xem phần trên) sau đó đến phi đạo C-47 để tìm máy bay di tản, có chiếc không khởi động được do bình điện yếu. Chiếc DC-6 ‘Bình Long Anh Dũng’ tuy nằm cạnh nhưng được canh giữ. Sau đó tìm được chiếc C-47 của Tư lệnh KQ, Kh bắn bể khóa. Tất cả leo lên tàu để bay ra Côn sơn. Sau những trục trặc như không có bản đồ phi hành, phi cơ hết dầu thắng (tìm được 2 gallon nơi đuôi phi cơ), phi cơ đáp được xuống Côn Sơn. Th/tá Khoa bay thêm một chuyến trở lại Saigon (TSN đã bỏ ngỏ) để đón thân nhân và bay lại ra Côn Sơn. Dùng nón sắt để chuyển xăng, phi cơ đã bay đi Utapao sáng 30/4 khi DV Minh ra lệnh đầu hàng.

Tác giả Nguyễn Cao Thiên trong bài ‘PĐ 314, Chuyến bay không phi vụ lệnh ‘(Đặc san Liên khóa 64SVSQ, 2009) ghi lại một số chi tiết mô tả tình trạng hoảng loạn, vô trật tự tại TSN khi phi trường bị pháo kich. Sau khi PĐ phó Tấn từ KĐ trở về cho biết ‘Trên đó có ai đâu ? vắng hoe ?’.. Mạnh ai nấy chạy tự tìm phi cơ để bay đi. Có phi cơ cất cánh quá vội, quên cả gỡ kẹp đuôi nên rơi ngay tại phi trường. Chiếc C-47 của PĐ 314 bay đến Utapao với trên 40 người.

(16 chiếc C-47, đủ loại kể cả EC, AC đến được Utapao. 38 chiếc bỏ lại.)

Ngoài ra cũng có 3 AC-119 và 6 C-7A Caribou đến Utapao, 37 chiếc AC-119 cùng 6 chiếc C-119 vận tải bị bỏ lại. Số Caribou lên đến 33 (trong tình trạng đình động)

Tại Utapao còn có:

– 14 chiếc Cessna U-17 Skywagon

– 12 chiếc UH-1

– 3 chiếc O-1 Bird dog

Bảng tổng kết của HK ghi nhận: số phi cơ của KQVN bỏ lại còn có 434 chiếc UH-1, 114 chiếc O-1, 32 chiếc CH-47 Chinook và 72 phi cơ các loại khác gồm U-17, O-2A, T-37, T-41 và cả U-6 Beaver..
Bay ra biển:

Các phi cơ trực thăng (UH-1 và Chinook) khi tự động tan hàng, đa số tìm đường thoát bằng cách bay ra biển để đáp xuống bất cứ tàu bè nào đang di chuyển ngoài khơi: đáp trên chiến hạm Mỹ, nếu có chỗ đáp là tốt nhất, đáp trên chiến hạm VN và trong tình trạng ‘bi thảm ‘nhất’ là đáp xuống biển, phi công tự thoát, nếu may mắn sẽ được tiếp cứu và vớt lên tàu.

Trường hợp đặc biệt nhất được ghi vào lịch sử KQ và HQ Hoa Kỳ là trường hợp đáp của một L-19 chở đầy ‘hành khách’ trên Hàng Không Mẫu hạm..

Sau đây là một số trường hợp được kể lại trong các bài hồi ký:

Phi đoàn Thần Tượng 215

Khoảng 10 giờ sáng 29/4, bộ chỉ huy Phi đoàn 215 đã dùng 3 trực thăng để ‘di tản ‘về Côn Sơn. Trên các trực thăng có Phi đoàn trưởng (Tr/tá Khưu văn Phát), PĐ phó (Th/tá Đức) và các phi đội trưởng. Tuy nhiên do hết xăng nên cả 3 chiếc sau khi gặp tàu chở dầu của hãng Shell đã cố gắng thả người (nhảy từ máy bay xuống sàn tàu từ cao độ chừng 3 m) và phi công còn lại sau cùng đã đáp xuống biển, bơi thoát khỏi chiếc phi cơ đang chìm và được canô vớt. Cả 3 phi công (Đ/úy Chín, Đ/u Vĩnh và Th/tá Lương) đều được an toàn. (Vĩnh Hiếu: Phi đoàn Thần tượng Giờ thứ 25)

Phi đoàn Lôi Vũ 221:

Phi đoàn di tản từ Biên Hòa về TSN trong đêm 27/4, khi phi trường bị pháo kích. Chiều 29/4, Tr/Tá Nguyễn văn Trọng, PĐT tuyên bố giải tán phi đoàn. 13 trực thăng của phi đoàn bay được ra hạm đội HK. Trong đoàn di tản còn có Đ/tá Phước, Đ/tá Vy (Sư đoàn phó SĐ 1 KQ) (Tâm tư Lôi Vũ -52, Van Nguyên).

Phi đoàn Lôi Thanh 237 (Chinook CH-47)

Ngày 29/4, lúc 4 giờ sáng, 4 trực thăng Chinook CH-47 đậu song song với nhau trước phi cảng Hàng Không dân sự. Các nhân viên phi hành chờ quyết định của Th/tá Nguyễn văn Ba, Phi đoàn phó, nhưng ông vẩn trì hoãn chờ PĐ trưởng (Tr/tá Ch.) còn đang kẹt ở Biên Hòa. Các sỉ quan tham mưu của PĐ đều vắng mặt. Sau đó, ông quyết định di tản 4 phi cơ khả dụng đi Vũng Tàu. Khi 4 phi cơ vứa đáp xuống Vũng Tàu thì phi trường này cũng vừa bị pháo kích. Chỉ 3 phi cơ bay về Cần Thơ, một chiếc đã tự tách khỏi hợp đoàn. Ba phi cơ đáp xuống Mỹ Tho, 1 bay trở lại Sàigòn để đón gia đình Khi trở lại Mỹ Tho, phi cơ bị trục trặc nên đành bỏ lại nơi bờ sông. Hai chiêc còn lại cất cánh lúc 2 giờ trưa, bay ra hạm đội HK, thả người xuống chiến hạm Kirk và phi công ‘ditching’ để sau đó được vớt (Chuyến bay cuối cùng – Nguyển văn Ba – Lý Tưởng Úc châu, số kỷ niệm Ngày Không Lực 1-7-2011)
O-1 Birđ Dog (L-19) đáp trên Hàng Không Mẫu hạm:

Một trường hợp đặc biệt nhất của cuộc di tản, được ghi vào quân sử Hoa Kỳ, phi cơ hiện được lưu giữ tại viện bảo tàng là trường hợp dùng L-19 đáp xuống Hàng không Mẫu hạm Midway của Thiếu tá Lý Bửng, Sĩ quan trưởng phòng hành quân của PĐ Sao Mai 114/ KĐ 62 CT/ SĐ 2 KQ.

Việc O-1 đáp trên Hàng không Mẫu hạm đang di chuyển là chuyện không thể tưởng tượng nổi, ngay cả với các phi công Hoa Kỳ và những chuyên viên thiết kế máy bay của hãng Cessna.
Điều gây ‘kinh ngạc’ hơn nữa là trên phi cơ còn có thêm 6 người (vợ và 5 đứa con) ngồi chật cứng trên ghế sau.
Phi công Lý Bửng kể lại như sau (Chuyến bay về vùng tự do của KQ Lý Bửng- Đặc san Lý Tưởng số 02/2010):

… ‘Sáng 29/4, tôi, Hường, và Nhị cùng bay chiếc O-1 này ra Côn Sơn. Vợ con tôi đã ra Côn Sơn bằng phương tiện trực thăng trước, hình như của PĐ 215. Chiếc O-1 này tình trạng máy tốt, chỉ có vô tuyến là không hoạt động được. Tôi cất cánh từ TSN trong lúc phi trường đang bị pháo kich. Chúng tôi quyết định bay ra Côn sơn vì không rõ tình hình Cần Thơ. Đêm nghỉ tại Côn Sơn, chúng tôi chưa biết chắc sẽ đi Thái Lan bằng phi cơ gì. 
Sáng 30/4, có lệnh đầu hàng. Tôi sắp xếp cho tất cả anh em PĐ 114 trật tự lên các C-123 và C-130 đi Thái Lan. Tôi và gia đình dự trù sẽ đi chiếc C-123 sau cùng nhưng chiếc này bị hư không cất cánh được. Khoảng 130 người còn lại đành chờ tàu HQ. Cảnh tượng xuống tàu rất hỗn loạn. Tôi quyết định dùng chiếc O-1 mà tôi đã bay ra Côn Sơn hôm qua để chở cả gia đình để bay đi nhưng chưa biết đi đâu? Trời rất xấu, mưa mù mịt, tôi bay rase motte trên mặt biển, khoảng từ 500 đến 700 bộ. Trong lúc bay, tôi thấy nhiều trực thăng bay ra biển, tôi cũng lấy hướng bay này cho đến khi thấy chiếc hàng không mẫu hạm.

Chiếc O-1 bị hỏng hệ thống vô tuyến nên tôi không thể liên lạc được với ai. Tôi dùng phương thức bay qua đài kiểm soat của chiến hạm, lắc cánh để cho biết hệ thống vô tuyến bị hỏng và xin đáp. Dưới mẫu hạm bắn hỏa pháo đỏ liên tiếp ra dấu cho biết là họ không chấp thuận cho hạ cánh có lẽ vì không còn chỗ ? Tôi lấy bản đồ, giấy tờ trong máy bay viết chữ xin hạ cánh vì phi cơ còn có vợ con và buộc vào botte để thả xuống sàn tàu. Sau đó nhân viên trên tàu xô một số trực thăng xuống biển và dọn các trực thăng khác để lấy chỗ cho tôi đáp. Phi đạo họ dành cho cho tôi đáp là cạnh ngắn, khoãng 150 feet…’

Sau một lần đáp thử để ước lượng các thông số kỹ thuật, như gió ngang, sự di chuyển của mẫu hạm. Phi công Lý Bửng đã đáp thành công xuống Mẫu hạm Midway trước sự kinh ngạc và thán phục của nhân viên thủy thủ trên tàu.

Trong ‘chiến dịch di tản’ Frequent Wind’:

Hàng không mẫu hạm Midway đã tiếp nhận khoảng 60 trực thăng của KQ VNCH, trong đó có chiếc UH-1 của Tướng Kỳ và cả vài trực thăng của Air America..

Chiến hạm USS Kirk, trong thời gian yểm trợ đoàn tàu di tản của HQ VNCH đã là nơi đáp cho 16 chiếc trực thăng của KQ VNCH. Sàn đáp của chiến hạm chỉ dành cho một trực thăng nên sau khi đáp, trực thăng phải đẩy xuống biển để lấy chỗ cho chiếc kế tiếp. Ngoài 16 chiếc UH-1, còn có 1 Chinook sau khi thả người trên sàn đáp đã phải đáp xuống biển, phi công được cứu thoát. Số người trên các trực thăng đáp xuống USS Kirk lên đến gần 200 người. USS Kirk chở được về Subic Bay 3 chiếc UH-1.

Các chiến hạm khác như Blue Ridge, Mobile (LK 115) đều tiếp nhận các trực thăng của KQVN.

Tài liệu của Air America ghi nhận một số trường hợp các phi công VN dùng súng ‘tạm mượn’ phi cơ của Air America để bay ra Hạm đội Hoa Kỳ: Chiếc UH-1H (69-16715) của Air America màng dấu hiệu ICSS (Ủy Ban Liên hợp 4 bên) đã do phi công VN bay ra đáp tại Chiến hạm Blue Ridge trưa ngày 29/4. Tất cả có 6 chiếc trực thăng bị phi công VN “mượn tạm”, trong đó 5 chiếc loại UH-1 và một chiếc Bell 204B (?), chiếc Bell này sau đó đáp trên USS Kirk. (Air America in South Viet Nam: The Collapse. Tác giả Joe Leeker)

Số phận những phi cơ… đến được Utapao:

Ngay khi các phi cơ của KQ VNCH đáp xuống Utapao, vừa ngừng bánh, tắt máy, các nhân viên phi đạo lập tức sơn lại cờ chuyển từ VNCH sang thành máy bay của Hoa Kỳ. Người Thái Lan không muốn ‘chứa chấp’ những người Việt vừa phải bỏ nước ra đi nên HK đã phải lập cầu không vận, dùng các C-141 để đưa người tỵ nạn sang Guam.

Một trục trặc nhỏ đã xẩy ra: 65 người, tất cả trên cùng một chuyến C-130 đến Utapao đã đòi trở về VN. Dưới sự lãnh đạo của Tr/úy Cao van Le (?), những nhân viên KQVN này khi bay khỏi TSN, không biết là họ sẽ phải biệt xứ trong khi gia đình còn kẹt lại tại VN… và dọa sẽ tự tử nếu không được như ý. Một Đại tá KQVN và một Tuyên úy quân đội HK đã giúp điều đình để giải quyết vấn đề, chỉ còn 13 người cương quyết đòi về. Sau cùng cả 13 người đã được chích thuốc ngủ để đưa lên C-141 đi Guam.

CSVN đã lên tiếng đòi hỏi chủ quyền về những máy bay tỵ nạn tại Thái. Hà Nội đã đòi đưa một phái đoàn đến Thái để kiểm kê các phi cơ. Chính quyền Thái do áp lực của Hà Nội đã đòi’ tạm giữ’ các máy bay đang ở Utapao. 
Tướng Aderholt cho biết’ các phi cơ này thuộc quyền sở hữu của HK theo một điều khoản có ghi trong Thỏa ước Viện trợ Quân sự Mỹ-Việt’ nhưng chưa chắc Thái Lan đồng ý nên ông tìm cách chuyển các phi cơ khỏi Thái càng nhanh càng tốt. Trước hết, Aderholt ‘tặng’ cho Tư lệnh KQ Thái Lan 5 chiếc F-5 để mua chuộc giới quân sự Thái (Thật ra Aderholt không có quyền nhưng trước chuyện đã rồi, HK khó lấy lại được 5 phi cơ này). Khi Hàng không mẫu hạm Midway ghé một căn cứ HQ Thái Lan gần Utapao ngày 5/5, khoảng 140 phi cơ đủ loại đã được chở ra khỏi Thái Lan (trong số này có lẽ gồm cả một số phi cơ, trong tổng số 93 chiếc của Không lực Kmer đã bay sang Thái khi Nam Vang thất thủ). Bốn chiếc Skyraiders được Aderholt cho bay đi, cất giấu tại Căn cứ Takhli. Mẫu hạm Midway đã chở về Guam 101 phi cơ của KQVN, trong đó có 21 chiếc F-5E.

Theo ‘Escape to Utapao’ một chiếc C-123K được đưa ra khỏi Thái (số đuôi 54-00592). Chiếc này hiện ở Phi trường Avra Valley và không ai biết về trường hợp này. (Theo danh mục trong Flying Dragons trang 164 thì chiếc này của KQVN)

Tài liệu của Hải Quân Thái Lan ghi nhận: Trong danh mục phi cơ thuộc HQ Thái Lan có một số phi cơ ‘cũ’ của KQVN như:

– C-47A (43-48101, VNAF)

– VC-47D (43-48777, VNAF ‘EY’

– AC-47D (43-49095, VNAF ‘EK’

– RC-47 (43-49701, VNAF) và (43-49925, VNAF ‘EF’) và (44-76418, VNAF ‘EB’)

– EC-47 P (45-1044, VNAF ‘WA’)

Ngoài ra còn 3 chiếc U-7 mang các số đuôi 71-1438; 71-1442 và 7-1455 được ghi là VNAF(?)
Trần Lý
(tháng 4/2012)

Đà Nẵng những ngày cuối tháng Ba 1975!

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Bác sĩ Phùng Văn Hạnh

Sau khi thỏa hiệp Paris ký kết, Mỹ xuống thang chiến tranh. Dân sự bị thương cũng giảm. Các bác sĩ AMA giảm dần. Ban mê Thuột rồi Pleiku mất. Cao nguyên di tản. Quảng trị, Thừa thiên mất. Những ngày cuối tháng ba, 1975, Đà- nẵng đầy người chạy giặc. Cộng sản có biết tại sao mà lắm người sợ họ thế?

Ông bác tôi đã từng nếm mùi trại giam cộng sản, đã đứng tim chết khi nghe cộng sản trở lại. Cha tôi cũng thế. Lính khắp nơi ùn về đầy đường.

Tôi gặp một tiểu đội Địa phương quân. Họ vẫn còn kỷ luật lắm. Anh tiểu đội trưởng đi đầu, súng mang trên vai. Các đội viên đi hàng một, mũi súng chúc xuống đất. Chắc họ từ một đồn nhỏ ở ngoại ô vào thành phố. Mắt họ buồn và sợ sệt. Họ đi mất hút ở cuối đường. Có súng nổ lẻ tẻ. Xe tăng, súng ca-nông bỏ lại trên đường phố. Dân sự di tản từ Quảng Trị, Huế, Quảng Tín, Quảng Ngãi, ngủ trên lề đường.

Một thiếu phụ gia tài chỉ là đôi thúng gánh trên vai. Trong mỗi thúng là một em bé 2 đến 4 tuổi. Rất nhiều gia đình đã đi bộ vượt đèo Hải vân 20 km đường dốc núi. Bên Sơn Chà xe nhà binh nghẹt đường. Ngoài bờ biển, bến cảng mọi người ùn ra tìm ghe để có thể ra tàu lớn đậu ngoài khơi. Gia đình tôi lên phi trường.

Lúc gần đến, gặp cả đoàn xe cộ của một ông tướng sư đoàn cũng chạy giặc, phải tránh ra bên đường, nhường cho họ qua. Ngay cổng phi trường, xe dân sự sắp hàng dài hai bên đường. Chỉ đi bộ vào cổng. Một ký giả ngoại quốc chận tôi lại phỏng vấn. Tôi đã nói gì, bây giờ chẳng nhớ. Song một người bạn ở Thụy sĩ lúc đó có thấy tôi xuất hiện trên truyền hình. Máy bay hàng không dân sự đã ngừng bay. Một nhóm người thiện chí đứng ra liên lạc với Saigon. Họ tổ chức ra máy bay trong trật tự. Có hai chuyến cất cánh suông sẻ.

Song Việt cộng bắt đầu pháo kích vào phi trường. Mọi người tìm chỗ núp, rồi ùn ùn rời phi trường vì Saigon cho biết là máy bay không ra nữa. Chúng tôi đi bộ về nhà. Nửa đường gặp xe của một nha sĩ bạn. Anh ta chở gia đình tôi về đến nhà. Súng lính vất lại, nghẹt cả đường cống sâu trước nhà. Vào nhà, vợ tôi chia cho mỗi đứa con một xách áo quần và một ít tiền. Tất cả quì xuống trước bàn thờ Chúa. Nhà tôi dặn: “đang loạn lạc như thế nầy, chúng ta có thể bị ly tán. Nếu may ra các con đi chung với nhau, nhớ đứa lớn che chở đứa bé. Anh em nhớ yêu thương nhau”.

Thấy cảnh đau lòng, tôi rời nhà lên bệnh viện, định phi tang những bài viết chống cộng mà tôi bỏ lại ở văn phòng, trong ấy có một bài đả kích Hồ chí Minh. Vào hành lang, thấy người ta nằm la liệt. Kẻ thủng bụng, ruột lòng thòng. Người bể đầu, gảy tay chân, băng quấn sơ sài, đẫm máu. Một bạn giáo sư trung học, ôm chầm lấy năn nỉ:

“vợ tôi bị bắn thủng ruột đã 6 giờ rồi, chưa được ai chăm sóc”. Lúc ấy nhà thương không còn một bác sĩ nào cả. Tôi ghé văn phòng làm việc trống trơn, huỷ diệt bức thư điều trần, đưa kế sách cứu miền Nam, và những bài báo chống Cộng do tôi viết. Tôi xé nhỏ, bỏ vào nhà cầu và dội nước. Xong tôi vào khu giải phẫu. May sao nhân viên còn tại chỗ một nửa. Tôi cho mang vợ người bạn vào mổ.

Sau đó các ca khác lại tuần tự mang vào. Chiều hôm đó BS Phạm văn Lương vào phòng mổ thăm tôi. Tôi hỏi sao không lo trên BV Duy Tân mà xuống đây. Ông y tá trưởng nói nhỏ vào tai tôi là BS Lương nay làm thị trưởng, đi thị sát BV toàn khoa đó. Sau nầy tôi mới biết là BS Lương được tỉnh hội Phật Giáo đưa lên làm thị trưởng Đà-Nẵng trong những ngày cuối tháng ba, 1975(đài BBC có loan tin).

Một mình mổ đến chiều hôm sau thì ông y tá trưởng gỏ cửa phòng mổ và nói: “có ông sĩ quan cách mạng nói bác sĩ hãy ngừng mổ cho dân sự, và mổ cho các chiến sĩ cách mạng bị thương”. Hởi ôi, thế là cộng sản đã vào thành phố! Tôi nói với ông y tá trưởng là cứ ca nào nặng thì đem vào trước, không phân biệt dân sự, cách mạng. Đó là va chạm đầu tiên mà sau nầy tôi bị kiểm điểm là có lập trường nhân đạo chung chung, không có quan điểm cách mạng. Chừng 10 ngày sau, thì các bác sĩ cách mạng ở trên núi xuống tiếp thu bệnh viện. Lúc đó các ca cấp cứu đã giải quyết xong. Cả khu giải phẩu nhận giấy khen của Ủy ban quân quản Đà-nẵng là đã có công trong sự ổn định y tế thành phố.

Các bác sĩ bị kẹt lại dần dà đến nhận việc và được gọi là lưu dung. Xưa kia đi làm hơi tùy tiện vì đôi khi phòng mạch tư nhiều khách. Nay ai đến cũng đúng giờ. Bắt đầu là giao ban, toàn thể bác sĩ họp lại với bác sĩ giám đốc để trình bày phiên trực ngày hôm trước, nghe chỉ thị mới và phê bình những thiếu sót nếu có. Cách làm việc nặng phần trình diễn, phí phạm thì giờ. Sau giao ban, đi khám bệnh phòng rồi đi mổ những ca lên chương trình từ cuối tuần trước.

Có điều đặc biệt là bác sĩ cách mạng chuồn đâu mất lúc 10 giờ sáng. Tìm không ra. Sau nầy hỏi ra mới biết đó là thói quen đã có tự ngoài Bắc. Vì sáng không ăn, hoặc ăn ít nên 10 giờ đói, phải tìm chỗ kín nằm nghĩ. Có một bác sĩ thuốc mê đã được đào luyện ở Tiệp khắc, được nhân viên phòng mổ cho ăn xoài. Anh ta trầm trồ khen ngon hết lời vì chưa bao giờ nếm thứ trái cây ngon như thế. Một anh khác kể là ngày Tết được chia bồi dưỡng một gói tiêu nhỏ. Về nhà rủi làm đổ. Phải thắp đèn lên kiếm từng hạt. Họ nói ở ngoài Bắc nghe tuyên truyền là trong Nam cực khổ lắm. Bây giờ mới tỉnh ngộ. Vào Saigon chơi về, họ khoe là như ra ngoại quốc. Nói là phồn vinh giả tạo, song toàn là đồ thiệt đẹp và tốt.

Những ngày đầu tháng tư, 1975, các bác sĩ VC trên núi về, tiếp thu TTYTTK Đà-Nẵng và Bệnh viện Đức. Họ chỉ lo về hành chánh, chứ chuyên môn thì đợi các bác sĩ Hà-Nội vào. Về giải phẫu thì họ chỉ đứng xem Vài người tỏ ra hiếu học, vào phụ mỗ với các bác sĩ lưu dung. Tôi nhớ có Bác sĩ cấp bực Đại úy, vào phụ tôi để tái tạo một ống chân vỡ nát vì mìn. (Hắn ta là bác sĩ riêng cho thầy cũ Tám Trinh, nay đổi tên Nguyễn xuân Hữu, Phó bí thư đảng bộ Liên khu V. Phải mất ba giờ và nhiều cố gắng mới giữ được cái chân. Cuối ca mỗ, đáng lý nói: ca nầy khó ác liệt, tôi tự nhiên buông câu nói theo thói quen: ca nầy khó ác ôn côn đồ Việt Cộng. Anh ta nhìn tôi không nói gì. Các y tá quanh tôi đều sững sốt. Không biết anh ta có báo cáo gì không. Song sau nầy không thấy ai nhắc đến chuyện đó.

Trong suốt hơn một năm làm việc với CS, tháng ngày cũng qua nhanh, vì rất bận rộn. Những ngày đầu, mổ liên miên để giải quyết xong nhiều ca cấp cứu, Những tháng kế tiếp là mổ cho dân quê trở về làng khai khẩn nhưng đồng ruộng bỏ hoang trong chiến tranh, vướn phải mìn hay đạn ca- nông chôn dưới đất. Giải phẩu tái tạo tiếp theo cho những tật nguyền do vết thương chiến tranh gây ra. Ngoài ra nào giao ban, nào học chính trị mỗ tuần vài lần. Làm việc trong không khí u uất, vì nghe lắm lời phi lý, ngu xuẩn của bọn cán bộ, lắm chế độ hà khắc, kiểm soát tư tưởng, việc làm, những tranh cải lý thuyết v.v..

Bất hạnh thường không đến một mình. Đã buồn bực vì phải kẹt ở lại với CS, lại càng buồn thêm vì sự ra đi của người cha thân yêu. Ngày tôi chở vợ con lên phi trương để di tản, tôi đã năn nỉ cha mẹ tôi cùng đi, nhưng cha tôi một mực từ chối vì ông đã bị bại hai chân từ ba năm nay, hậu chứng xuất huyết não, và phải di chuyển trên xe lăn. Ông không muốn là gánh nặng cho tôi. Mẹ tôi thì chỉ chịu đi khi cha tôi cùng đi, vì bà phải săn sóc cha tôi tật nguyền. Khi chúng tôi không di tản được, từ phi trường trở về, hai ông bà đã khóc sướt, và lo cho tương lai chúng tôi. Hai ngày sau cha tôi chết êm thắm. Ông đã bị đứng tim trong giấc ngủ. Buổi sáng mẹ tôi mang sửa lại cho ông uống, thì thấy ông nằm bất động, tay chân lạnh ngắt. Cũng như bác tôi, cha tôi vì sợ quá, tim già đã ngưng đập khi nghĩ đến những hình phạt khủng khiếp trong tù CS. Mặc dù mới trải qua một cuộc đổi đời chưa hết bàng hoàng, tôi vẫn tổ chức ma tang thật chu đáo, với rất nhiều bà con thân thuộc theo linh cửu ra nghĩa địa. Tôi phải mướn nhiều xe ca, trong khó khăn hiện tại. Cha ơi, xin yên nghỉ bằng an trong nước Chúa.

Lúc say sưa làm việc những năm chiến tranh, theo lời khuyên của một bác sĩ Mỹ, tôi gom góp hồ sơ các ca chữa thương vơí đầy đủ phim, ảnh, ghi chú theo dõi. Ông cho tôi một máy ảnh, và tôi thuê một thợ chụp ảnh phụ tá cho tôi chụp hình bệnh nhân trước và sau khi mổ, diễn tiến bệnh khi nằm tại nhà thương và tái khám. Hồ sơ được lưu trử trong một căn phòng lớn của bệnh viện. Tôi định khi nào rảnh rổi sẽ viết bài, dựa trên nhận xét lâm sàng để rút ra những kết luận hữu ích. Hai tháng sau khi cộng sản vào, thấy rảnh, tôi xuống phòng lưu trữ hồ sơ thì thấy các hộc trống trơn. Hỏi ra mới biết là tổ nhà bếp trên núi xuống nấu cơm cho bệnh nhân, vì thiếu củi đun, nên lấy hồ sơ nhóm lửa. Bao nhiêu tâm huyết đổ sông. Xưa kia nhà thầu cung cấp cơm nước cho bệnh nhân. Họ đâu có nấu nướng trong bệnh viện.

Tôi có nhiều giấc mơ đơn giản. Song đều thất bại. Lúc còn hoạt động trong đoàn Sinh viên công giáo, có đọc thuyết “Kinh tế và nhân bản” ( économie et humanisme) của cha Lebret, có dự định cùng các bạn đồng chí hướng lập những đoàn thiện chí gồm nhiều chuyên viên về thôn quê chia xẻ đời sống của nông dân. Bác sĩ lo chữa bệnh, truyền bá vệ sinh. Kỷ sư nông nghiệp, cơ khí, chăn nuôi, tìm cách nâng cao sản xuất. Tổ chức hợp tác xã, tiếp xúc với công ty ngoại quốc, tìm thị trường, vốn đầu tư..mong cho dân giàu, nước mạnh. Song khi ra trường, thì chiến tranh tràn lan, thôn quê không còn an ninh. Cuối năm 1974, thấy tình hình miền Nam sắp có nguy cơ rơi vào tay Việt cộng, mà trí thức thì chơi mạt chược và trùm chăn quá nhiều, định đi khắp các tỉnh, diễn thuyết, kết hợp những người thiện chí, cố nổ lực tối đa để trong sạch hoá bộ máy chính quyền, tất cả mọi người có thể cầm súng được phải chia phiên nhau ra trận. Không có nạn con ông cháu cha. Trí thức phải xuống xã ấp, phá vòng vây nông thôn bao vây thành thị. Chính phủ tuyên bố tình trạng quốc gia lâm nguy, đóng cửa Trung học và Đại học. Đưa người qua Mỹ diễn thuyết hầu giành hậu thuẩn dân Mỹ. Nếu cần cầu viện Tây âu. Sắp xếp các ý tưởng, trình bày trong một bức thư điều trần gửi quốc hội và tổng thống với đề tài “Tổ Quốc lâm nguy, đề nghị biện pháp giải cứu”. Giáng sinh 1974, tôi vào Sài-gòn, đưa thư điều trần cho bạn bè xem, song không ai hưởng ứng, vì họ đoan chắc với tôi là Mỹ sẽ không bỏ miền Nam. Sau đó tình hình Miền Nam suy sụp quá nhanh. Tuy thế lúc Việt cộng vào, đã có người muốn lập công, đưa cho chúng tài liệu, nên bị hạch hỏi. Phải làm kiểm điểm vài lần, nhận có nêu lên vấn đề, song chưa phổ biến sâu rộng. Cuối cùng muốn viết vài bài về chuyên môn mình cũng không được, vì tài liệu đã bị đốt cháy ra tro.

Khi sang Canada, đi Mỹ chơi gặp một đồng nghiệp cũ ở Bệnh viện Đà-nẵng, nay hành nghề ở Westminster, Cali. Anh ta nói với tôi: “người chống cộng có hệ thống như anh, thì lại kẹt ở lại. Còn lè phè như chúng tôi, thì lại thoát. Oái ăm thiệt!”

Kể ra cũng tại số mình long đong, chạy trời không khỏi nắng. Tôi đã bỏ lở nhiều dịp may: năm 1973, cộng đồng người Hoa ở Đà-Nẵng muốn có một nhà thương riêng cho họ, nên dạm hỏi tôi có muốn bán đưỡng đường của tôi với giá 20 triệu. Vì đang làm ăn phát đạt tôi từ chối. Nếu tôi chịu bán, tôi sẽ trích ra độ một triệu, mua thông hành cho cả gia đình, lấy cớ đi Mỹ học rồi ở lại luôn. Một bác sĩ bạn tôi đã ra đi như thế.

Cuối 1974, nhân có người cháu, Đại uý lái phi cơ trưc thăng, đóng ở Cần thơ, chuyển về không đoàn I. Anh ta nhờ tôi xin về xưởng sữa chữa trực thăng, vì thấy đi bay, có nhiều hiểm nguy. Nhờ quen biết tôi đã thoả mãn cho anh ta. Nhận thấy miền Nam sắp mất, tôi bảo anh ta sữa chữa thật tốt một trực thăng, đổ đầy nhiên liệu, sẵn sàng chở gia đình anh ta với gia đình tôi đi Sài gòn hoặc Thái Lan, khi Đà- Nẵng có nguy cơ mất. Hôm 27-03-75, vì quen biết với gia đình Giám đốc Hàng không Việt Nam Đà-Nẵng, chúng tôi được họ mời chia xẻ một chuyến bay chót đặc biệt dành riêng cho gia đình họ. Trong khi chờ đợi máy bay từ Sài-gòn ra, tôi đến thăm người cháu gần đó, để xin ít nước uống cho các con tôi, vì đêm qua ra đi vội vã quên mang nước theo. Vào nhà tôi thấy gia đình nó chuẩn bị lên trực thăng mà tôi đã dặn để dành cho việc tẩu thoát, nếu Đà-Nẵng mất. Nó nói: “con có điện thoại lại nhà dượng, kêu dượng lên đi, nhưng không ai trả lời. Thế bây giờ dượng đi với chúng con?”. Tôi từ chối vì cho rằng đi máy bay tiện lợi hơn là trực thăng. Tôi trở lại với gia đình và ra ra sân bay, vì máy bay đã đáp xuống ở một chỗ hẹn trước. Nhưng chuyến bay ấy bị quân nhân phi trường tước đoạt. Cảnh súng bắn đì đoàng, người đạp lên người, chen lấn lên máy bay, làm cả hai gia đình chúng tôi đứng xa mà ngó. Cuối cùng máy bay cất cánh có cả người đeo tòn teng vào bánh xe, rụng rơi dần. Cùng lúc ấy, đạn pháo Việt cộng nổ gần phi đạo chúng tôi hoảng hốt dắt díu nhau chạy. Sau nầy gặp lại ở Mỹ, nó tiếc hùi hụi là hôm đó trực thăng nó trực chỉ Sài-gòn mà không có gia đình ông dượng ân nhân, có sáng kiến hay.

Cơ hội chót là ngày 29-03-75 vẫn còn một bác sĩ Mỹ, môn đồ Quaker, sang Đà-Nẵng làm từ lâu, với tư cách cá nhân, và anh ta không chịu di tản, chỉ ưng ở lại làm việc truyền đạo, chia ngọt bùi với bệnh nhân khu bài lao. Máy bay từ hạm đội Mỹ không ngại hiểm nguy đáp xuống trên nóc bệnh viện Việt Đức. Hai lính Mỹ vào mời bác sĩ ấy ra đi, nhưng anh ta một mực từ chối. Khi thấy tôi đi ngang qua, anh ta kéo tôi vào và năn nỉ tôi đi theo trực thăng ra tàu hạm đội Mỹ. Nhưng lúc ấy gia đình tôi không có mặt ở đó và tôi không muốn ra đi một mình, nên cũng từ chối. Nếu ngày ấy tôi ra đi. Sang Mỹ trở lại nghề và phát đạt, sẽ có phương tiện bảo lãnh cho gia đình qua sau, chậm lắm là vài năm sau và thoát đi tù cải tạo 12 năm. Nhưng đó chỉ là nếu, thực tế thì bi thảm vô kể.

Bác sĩ Phùng Văn Hạnh

Cuộc Di Tản đầy Máu và Nước Mắt

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

LTS: Đại Tá Trịnh Tiếu đã quá vãng, ông ở San Jose. Là trưởng phòng Hai (tình báo) của QĐ2, QK2 ông chịu trách nhiệm về cú lừa tình báo. Thoạt đầu ông không viết và ẩn dật, mãi đến khi nhà báo NPH đốc thúc ông nên nói rõ sự thật để ghi lại sử và sau khi Đại tá Lê Khắc Lý nói không đúng nhiều chuyện thì Đại tá Trịnh Tiếu bắt đầu viết. Tòa soạn gửi các bạn một trong những bài viết nhân tháng 3 “thất thủ Cao Nguyên”.

Đại Tá Trịnh Tiếu


Không phải mãi hai ngày sau người Mỹ mới biết lý do đằng sau vụ di tản rút quân bỏ miền Trung. Vào buổi tối ngày 17.3.1975, tại bữa cơm đãi một số Viên Chức cao cấp Mỹ và Việt Nam tại nhà ông Thomas Polgar, Trưởng CIA, ở Sài Gòn, Tướng Ðặng Văn Quang Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống Thiệu, đã lật trang sử khi giải thích quyết định của ông Thiệu. Rất giống người Nga tiêu diệt đội quân của Nã Phá Luân vào năm 1812 bằng cách bỏ đất để câu giờ hầu chấn chỉnh tổ chức quật ngược thế cờ, Tướng Quang cho rằng quyết định của ông Thiệu đi theo chiến lược đó sẽ đánh bại quân Bắc Việt. Tướng Quang nói ‘’Có thể mùa mưa sẽ giúp chúng tôi như thể Ðại Tướng mùa Đông đã giúp người Nga’’.


Tại Cao Nguyên Trung Phần, dân chúng không chờ giải thích. Họ thấy rõ quá rồi nên tự lo lấy.Khi quân Bắc Việt pháo kích Kontum, con đường dẫn xuống Pleiku tràn ngập dân di tản chạy trốn pháo kích. Trong khi các Ðơn Vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu rời các vị trí ở Pleiku và các phi cơ vận tải bay lên bay xuống phi trường suốt ngày đêm, người dân biết ngay đến lúc chạy theo Quân Ðội.


Vào đêm Chủ Nhật, một đoàn xe vận tải dài thòng âm thầm rời khỏi Pleiku từng cái một đèn sáng choang. Phóng viên Nguyễn Tư nghĩ nó ‘’giống như một đoàn xe đi chơi cuối tuần trở về nhà’’. Phía sau, những tiếng nổ lớn phát ra từ các kho đạn bị phá và bầu trời đen nghịt khói từ các bồn xăng đốt cháy.


Trong khi đoàn xe tiến về hướng Nam tung lên những đám bụi đỏ mờ mịt, từng đoàn người dân đi bộ dài như rắn bò hai bên Ðường Quốc Lộ song song với đoàn quân xa. Một vị Nữ Tu Công Giáo nhớ lại ‘’trẻ thơ và trẻ em được chất lên xe bò và người kéo đi. Mọi người đều hoảng hốt. Người ta cố thuê mướn xe bằng mọi giá’’. Trong ba ngày 16, 17, 18, tháng ba, cuộc di tản di chuyển êm thắm khỏi Pleiku và giữa các đoàn quân xa là hàng trăm dân sự đi theo cuộc di tản. Và cũng từ đó bắt đầu một đoàn công voa di tản đầy máu và nước mắt.


Ði được nửa đường tiến ra Duyên Hải, đoàn xe bị khựng lại để cho Công Binh Quân Ðoàn II cố làm xong chiếc cầu nổi ngang qua sông Ea Pa cách đèo Cheo Reo (Phú bổn) vài cây số. Tướng Phạm Văn Phú tiên liệu hai ngày sẽ sửa xong con Ðường số 7 nhưng mãi ba ngày vẫn chưa sửa xong cây cầu. Ðến chiều tối ngày 18.3, xe cộ và lính tráng đã đi được ba ngày và một đám dân tỵ nạn khổng lồ bị khựng lại dọc theo con đường và dồn cục tạm nghỉ ở chung quanh châu thành Tỉnh Phú Bổn. Cái châu thành nhỏ bé cheo leo này làm sao cung cấp đủ nhu cầu cho đoàn di tản này, nhiều người bỏ nhà ra đi chỉ có bộ đồ trên người.


Vì hoảng sợ, địch đe dọa phía sau, đói khát và có những băng lính không còn Cấp Chỉ Huy nữa sanh đạo tặc, đoàn người đòi cứ tiến đi không cần biết hậu quả ra sao. Trước tình thế hỗn quân hỗn quan này, các giới chức lãnh đạo không thể nào thuyết phục dân chúng và điều động xe cộ vũ khí thành một phòng tuyến phòng thủ. Và y như xảy ra khi quân Ðức bao vây khóa chặt Paris năm 1940, dân châu thành cũng chạy trốn, làm tắc nghẽn mọi con đường, Quân Ðội không thể nào di chuyển để bảo vệ họ trước kẻ địch. Tình hình đe dọa hỗn loạn. Cần phải có những bàn tay tổ chức. Nhưng Tướng Lê Duy Tất vẫn còn ở Pleiku với đoàn hậu vệ Biệt Ðộng Quân, trong khi Ðại Tá Lý bị kẹt ở giữa đoàn xe, đã phải bỏ xe đi bộ đến Bộ Chỉ Huy ở Cheo Reo.


Khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu di chuyển xuống Quốc Lộ số 7, Tướng cộng sản Văn tiến Dũng cũng đã bị đánh lừa theo kế hoạch của Tướng Phú. Trước khi khởi sự chiến dịch 275, Dũng đã chỉ vẽ nhiều lần cho tư lệnh sư đoàn 320 về những con Ðường Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không thể nào dùng nó như là lối thoát sau cùng. Tuy nhiên, sau khi nghe tin Tây Phương nói dân chúng đang bỏ Pleiku, các chuyến bay từ Pleiku về Nha Trang tấp nập và Hà Nội đánh tín hiệu ngày 16.3 báo cho biết Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II đã di tản về Nha Trang, Dũng mới bắt đầu nghĩ lại xem có con đường nào khác cho địch quân rút được không.


Ðến 4 giờ chiều cùng ngày, công điện của Hà Nội đến báo, tình báo Bắc Việt báo một đoàn xe dài từ Pleiku tiến về phía Nam xuống Ban Mê Thuột. Tin này làm cho Tướng cộng sản bối rối. Phải chăng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phản công hay là chạy trốn? Tình báo của Dũng cho ông ta câu trả lời ngay sau đó, đúng như tình hình diễn biến ở trên. Ðến lúc này bộ chỉ huy cộng sản mới dở bản đồ ra, chiếu đèn pin và dùng kiếng phóng đại dò tìm địch quân. Kiểm điểm lại, Tướng Dũng và Tướng Kim Tuấn, tư lệnh sư đoàn 320, mới biết bị Tướng Phú lừa ngay trước mắt, Tướng Dũng khiển trách Tướng Kim Tuấn, đồng thời phối trí các đơn vị di chuyển về tụ điểm Quốc Lộ 7 để tiêu diệt đoàn công voa di tản về Tuy Hòa.


Ðoàn xe Quân Dân miền Nam cầu mong sao cho thời gian chậm lại để đi kịp về miền biển không bị cộng sản tấn công. Nhưng không kịp nữa, khi màn đêm buông xuống ngày 18.3 lúc đoàn xe kẹt ở Cheo Reo, quân cộng sản bắt đầu pháo kích vào đám đông dân di tản. Họ hết còn bí mật nữa và kẻ thù ở trong tầm tay. Ðêm ngày 18.3, những đơn vị tiền phong của sư đoàn 302 đụng độ với đoàn xe Quân Ðoàn II ở Cheo Reo. Cùng lúc các đơn vị khác đụng độ với Ðoàn Quân hậu bị Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân ở Thị Trấn Thành An ngã tư Quốc Lộ 14 và Quốc Lộ 7. Ðại Tá Lý đi bộ mãi rồi cũng tới Bộ Chỉ Huy Cheo Reo kịp lúc để giúp điều động Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân vào vị trí phòng thủ chống các cuộc xung phong của quân Bắc Việt ở lối vào Thị Trấn phía Tây. Ðồng thời, pháo binh Bắc Việt rót vào. Ðoàn xe cái đầu ở Cheo Reo nhưng cái đuôi vẫn còn ở Pleiku. Việt cộng tha hồ pháo kích. Sáng hôm sau, xác chết và xác bị thương lính tráng và dân nằm la liệt trên Ðường Phố Cheo Reo (Phú Bổn) cùng với hàng trăm xe cộ bị phá hủy hoặc bỏ rơi. Một phi công trực thăng Không Quân Việt Nam báo cá ‘’Khi tôi bay thấp, tôi có thể nhìn thấy hàng trăm xác chết nằm rải rác dọc theo con đường cạnh các xe còn cháy’’.


Mặc dù lực lượng cộng sản đã chiếm được Phi Trường Phú Bổn, Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân vẫn còn giữ được lối vào châu thành và cây cầu phía Nam sửa xong. Ðây là một cú cải tử hoàn sinh, Ðại Tá Lý và các Cấp Chỉ Huy của ông có cơ hội ra lệnh cho đoàn xe lên đường trở lại với 2.000 xe nổ máy ầm ầm lăn bánh. Nhưng đoàn xe di chuyển không bao lâu, Tướng Phú cho trực thăng đến đón Ðại Tá Lý ra khỏi Cheo Reo. Thế là đầu không còn ai Chỉ Huy chỉ có Tướng Tất Chỉ Huy ở phía sau. Từ ngày 19 trở đi, Chỉ Huy đầu đoàn công voa là những Ðơn Vị Trưởng cấp Tiểu Ðoàn, Ðại Ðội mạnh ai lấy ra lệnh.


Bất kể hỏa lực của cộng sản, trực thăng của Không Quân Việt Nam bắt đầu đáp xuống bốc những người Lính và dân bị thương dọc theo con đường. Khi những người di tản được trực thăng chở đến Phi Trường Tuy Hòa, họ kể những chuyện khủng khiếp xảy ra cho họ. Ngày 19.3, đầu đoàn xe đã đến Sông Côn chỉ còn cách Tuy Hòa 40 km. Nhưng ở đoạn đuôi nửa đường giữa Cheo Reo và Sông Côn, quân Bắc Việt lại đánh ngang hông đoàn xe, lần này ở khoảng Thị Trấn Phú Túc. Không Quân Việt Nam được gọi đến oanh kích chặn tiến quân của địch nhưng đã nhầm lẫn bỏ bom xuống Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân (Làm tổn thất gần 1 Tiểu Ðoàn). Nhưng Liên Ðoàn này vẫn tiếp tục chiến đấu giữ cho con đường mở.


Ðoàn xe chạy qua Cheo Reo cho đến ngày 21.3 thì quân Bắc Việt chọc thủng các vị trí cố thủ của Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân, vượt qua chiếm châu thành và cắt đứt con đường. Trong số khoảng 160.000 người của đoàn xe di tản, nhiều người dân bị cô lập với Lính của Ba Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân. Theo lệnh Tướng Phú, Tướng Tất, vẫn còn ở phía sau đoàn xe, phải bỏ mọi vũ khí và quân trang nặng để chạy khỏi Phú Bổn càng nhanh càng tốt. Hàng ngàn người chạy vào rừng. Lính tráng với vợ con bên cạnh bị rượt bắt và tấn công nhiều lần. Một số ít giơ cờ lên được trực thăng đáp xuống bốc. Nhưng đa số cầm chắc bị đói và bị bắt.


Những người may mắn, các bà mẹ trẻ dính máu, các cụ già và phụ nữ người mặc áo dính bùn, và những người lính gào khóc, chân không, bước xuống trực thăng trước khi các phóng viên bủa ra hỏi thăm tin tức tại phi đạo Tuy Hòa. Các trực thăng bắt đầu chở thực phẩm và nước cho đoàn xe vẫn còn dài thòng di chuyển như con rắn vì đã có nhiều người đói.


Trong khi ở đuôi đoàn xe bị tấn công dữ dội và Tướng Tất cùng các Ðơn Vị còn lại cố chống trả bọc hậu, các Ðơn Vị đầu đoàn xe đã tiến vào ranh giới Tuy Hòa, trên con Sông Ba, cách Thị Trấn 20 cây số. Chiếc cầu nổi mà Tướng Cao Văn Viên hứa cũng đến kịp lúc, nhưng không kịp với lực lượng cộng sản đã đắp mô các ngã đường nằm giữa Sông và Tuy Hòa. Chiếc cầu không thể nào chở xe nổi đến chỗ Bắc nên phải mượn 4 phi cơ C-47 của Quân Ðoàn IV chở từng khúc đến.


Ngày 22.3, đúng một tuần sau khi đoàn xe di tản đầy máu và nước mắt rời Pleiku, chiếc cầu được bắc xong, đầu đoàn xe vội vã vượt qua con sông quá nặng làm chiếc cầu phao lật, người trong xe cộ phải lội sông. Nhưng đến cuối ngày, đoàn xe vẫn tiếp tục vượt qua khi chiếc cầu được sửa lật lại. Ngay cả đến thời thiết cũng tiếp tay cho cộng sản để làm cho đoạn cuối đoàn xe đến Tuy Hòa chưa hết nạn.


Trời nắng đột nhiên trở thành mưa gió lạnh lẽo cho người di tản. Không những thời thiết thay đổi xấu gây ra bệnh tật mà nó còn làm cho phi cơ quân sự không bay lên yểm trợ, chống trả những cuộc tấn công dưới đất của việt cộng. Từ ngày 22.3, Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân bị kẹt đánh trong một trận đánh bọc hậu vừa đánh vừa lui trước nỗ lực rượt theo rất rát của quân cộng sản. Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân đã thu góp xe tăng và pháo binh để bảo vệ con đường ở khúc quẹo thung lũng gần cầu nổi. Họ đánh câu giờ để cho người di tản và Lính kịp vượt qua sông.


Ðồng thời, những Ðơn Vị đi đầu đã vượt qua Sông Ba rồi phải phá mô việt cộng để tiến vào Tuy Hòa. Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân chỉ còn ít quân sống sót đã gom góp được hơn chục thiết giáp M-113 vừa đánh vừa ủi các mô tiêu diệt các vị trí cộng sản. Ðến ngày 25.3, vị trí cuối cùng của quân Bắc Việt bị tiêu diệt nốt, Biệt Ðộng Quân bắt tay được với Lực Lượng Ðịa Phương Quân ở phía Ðông Tuy Hòa.


Ðoàn xe khập khễnh tiến vào Tuy Hòa như một đoàn xe ma. Xấp xỉ 60.000 người dân đến đích, hai phần ba hay hơn 100.000 người bị bỏ lại dọc đường, chết sống không ai biết. Về phía Quân Ðội, 20.000 quân tiếp vận và yểm trợ, chỉ còn 5.000 người đến nơi. Sáu Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân 7.000 người, chỉ còn 9.00 đến Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Ðoàn II ở Nha Trang và đóng chốt bảo vệ Thành Phố. Một vị Tướng ở Bộ Tham Mưu đã buồn bã nói: ‘’70% lực lượng tác chiến của Quân Ðoàn II gồm Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, Biệt Ðộng Quân, Pháo Binh, Thiết Giáp, Công Binh Chiến Ðấu và các Ðơn Vị Truyền Tin đã bị tan rã từ ngày 10 đến 25.3’’. Vì thế chuyện phản công tái chiếm Ban Mê Thuột không thể giao phó cho Quân Ðoàn II.


Canh bạc Tướng Phú chọn Quốc Lộ 7 có thể đã an toàn nếu các cầu nổi được bắc kịp thời và Tướng Viên đổ lỗi cho vị Tư Lệnh Quân Ðoàn II. Tướng Viên tin rằng Tướng Phú phải hoãn cuộc di tản ít ngày để cho các Kỹ Sư Công Binh kịp bắc cầu. Tướng Viên cũng tin rằng hoãn lại cho phép điều động sắp xếp kỹ hơn nhất là kiểm soát dân chúng. Theo một vị Tướng Mỹ thông thạo các Sĩ Quan cao cấp Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lỗi lầm không những ở kế hoạch di tản của Tướng Phú mà ở ngay chính Tướng Phú và lỗi lầm đầu tiên và quan trọng nhất là để mất Ban Mê Thuột. Một vị Tư Lệnh Quân Ðoàn cương quyết hơn không cần phải rút quân như vậy. Một Sĩ Quan Tùy Viên Mỹ tuyên bố: ‘’Một vị Tư Lệnh mạnh như Tướng Toàn (Trước đó là Tư Lệnh Quân Ðoàn II) có thể phản công tái chiếm Ban Mê Thuột, sử dụng toàn bộ Hải, Lục, Không Quân có trong tay đã có thể kềm hãm quân Bắc Việt, cố thủ thêm một năm nữa’’.


Nhưng ngày 25.3.1975,không còn cơ hội đó. Cuộc di tản tự làm cho mình thất bại đau đớn, như lời Tướng Viên mô tả, hoàn tất, gây một cơn ác mộng tâm lý và chính trị to lớn cho ông Thiệu, cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cho dân chúng Việt Nam Cộng Hòa. Một dư luận đồn thổi khắp nước và cả ở những viên chức dân sự và quân sự cao cấp nói rằng: Tổng Thống Thiệu và người Mỹ, trong một thỏa hiệp mật của Hiệp Định Paris, đã cố kết với nhau cho cộng sản chiếm một phần lớn lãnh thổ Nam Việt Nam. Tại sao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu can trường suốt hai mươi năm không thua đột nhiên bị ra lệnh rút khỏi Cao Nguyên, bỏ Pleiku và Kontum không một tiếng súng giao tranh ?


Tinh thần đổ vỡ vì mất bốn Tỉnh trong ba tháng và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh nặng và vô ích không tái chiếm nổi Ban Mê Thuột đã làm cho dân chúng Nam Việt Nam hết còn tin tưởng Tổng Thống Thiệu có thể bảo vệ họ. Vậy ai khác có thể làm được? Phe đối lập ông Thiệu vô tổ chức, đứng ngoài chờ thời cơ và người Mỹ tiếp tục làm ngơ. Chỉ có ông Thiệu là người phải tìm ra cách nào để lấy lại tinh thần cho Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng trước khi ông tìm ra hướng đi hợp tình thế thì tin xấu từ Quân Ðoàn I bay về. Cũng lại di tản và cuộc di tản Quân Ðoàn I bi thảm không kém để kết thúc ngày 30.4.1975.

Đại Tá Trịnh Tiếu

Dũng Gạc Ma và nghĩa tình đồng đội

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Trần Đăng

Một trong hai người tên Dũng liên quan đến Gạc Ma đã ra đi vì căn bệnh hiểm nghèo cách nay 4 năm. 

Các cựu binh Trường Sa viếng Khu lưu niệm Gạc Ma tại bán đảo Cam Ranh

Các cựu binh Trường Sa viếng Khu lưu niệm Gạc Ma tại bán đảo Cam RanhNgười còn lại là Nguyễn Văn Dũng hiện ở Bãi Tiên, TP.Nha Trang (Khánh Hòa). Các anh không làm hổ danh tên “Dũng”, từng là lính Trường Sa!Cuối năm 2019, tôi ghé thăm Nguyễn Văn Dũng ngoài Bãi Tiên, cách trung tâm TP.Nha Trang 10 cây số về phía bắc. Thấy khách quen nhưng Dũng không “nghỉ tay” để tiếp khách mà liên tục chỉ huy tốp thợ hàn gấp rút hoàn thành “hội trường” 200 chỗ kịp đón đại biểu là lính Gạc Ma trong cả nước hoặc từng là lính Trường Sa quê Khánh Hòa và Phú Yên về họp mặt nhân kỷ niệm 32 năm ngày xảy ra trận Gạc Ma. Mấy ngày sau đó, Nha Trang phát hiện ca bệnh Covid-19 đầu tiên nên cuộc gặp mặt nói trên bị hủy trong hụt hẫng. “Tốn trên 200 triệu đó anh. Lại đến từ Trung Quốc!”, Dũng phân trần với tôi về câu chuyện gặp mặt lính Gạc Ma – Trường Sa phải gác lại mà không biết đến khi nào mới tổ chức được.Từ nhiều năm nay, ngôi nhà của Nguyễn Văn Dũng – cũng là nơi anh mở quán ăn mang tên Thiên Phước, đã thành chỗ đi về của những người lính Gạc Ma – Trường Sa. Chí tình với đồng đội, rộng lòng với bạn bè, thủy chung và ơn nghĩa với những người đã từng vì mình mà hy sinh… đó là phẩm chất của anh thương binh hạng 2/4 này.

Dũng Gạc Ma và nghĩa tình đồng đội - ảnh 1Anh Nguyễn Văn Dũng tặng quà cựu binh Trường SaẢNH: TRẦN ĐĂNG

Trận ốm định mệnh

Bao giờ cũng vậy, mỗi khi nhắc đến Phan Tấn Dư, giọng nói của người cựu binh Trường Sa này như chùng xuống: “Nếu tôi không có trận ốm đột xuất trước ngày ra Trường Sa 11.3.1988 thì Dư sẽ không phải nằm lại giữa vùng biển Gạc Ma ấy. Nhưng biết làm sao được, không phải tôi thì là Dư, không phải Dư thì là một người lính nào đó cũng sẽ ngã xuống trước sự bạo tàn của quân Trung Quốc xâm lược ấy thôi”. Dũng luôn gằn từng tiếng mỗi khi nhắc đến hai tiếng Trung Quốc trong bất cứ cuộc chuyện trò nào. Quen với Dũng lâu nay tôi biết vì sao anh lại luôn tỏ thái độ như vậy mỗi khi nhắc đến hai tiếng “nhạy cảm” kia. Vì 64 đồng đội của anh đã ngã xuống, vì hòn đảo mang tên Gạc Ma mà các anh đã đổi cả máu của mình giờ đã nằm trong tay kẻ khác hay vì điều gì khác nữa…, rất khó để cắt nghĩa rạch ròi. Nhiều lúc có cảm giác như Phan Tấn Dư, người bạn, người đồng đội đã ngã xuống thay Dũng ở đảo đá Gạc Ma luôn thầm thì vào tai anh rằng “Dũng ơi, đừng bao giờ quên mối uất hận ấy nhé” vậy.Đã 33 năm rồi mà Dũng vẫn nhớ không sót một chi tiết nào về trận ốm định mệnh nọ: “Đêm trước ngày ra Trường Sa, chúng tôi tập kết tại quân cảng Cam Ranh. Những ngày ấy, không khí rất căng thẳng do những tin tức từ Trường Sa điện về. Dù vậy, trước khi mang ba lô xuống tàu, anh em lính cũng tụ họp một trận ra trò, cùng hát những bài hát ra trận. Kết quả là tôi bị viêm họng và sốt. Lính thông tin, giữ điện đài liên lạc cho đơn vị mà nói không ra hơi như thế nên thủ trưởng ra quyết định nhanh: “Phan Tấn Dư thay Nguyễn Văn Dũng đi để trực điện đài. Dũng đi chuyến sau”. Tôi ngẩn ngơ không phải vì “tiếc” chuyến ra Trường Sa mà vì cảm thấy như mình hèn nhát. Ba ngày sau, tôi nhận hung tin, đau đớn thay, Phan Tấn Dư – người thay tôi trực điện đài nằm trong số 64 đồng đội vừa ngã xuống!”.

Má Niệm của Dũng

Rồi Dũng cũng ra Trường Sa sau đó không lâu. Một cú trượt chân khi anh leo lên đài quan sát đã khiến một bên chân bị giập nát. Đi khắp các bệnh viện trong Nam ngoài Bắc, Dũng mới giữ lại được chiếc chân thương tật ấy đến giờ. Ra quân khi một chân không còn nguyên vẹn, cơm áo của thời đất nước gian lao như đè nặng thêm lên đôi vai của anh thương binh này. Dũng chọn Bãi Tiên để làm rẫy, hết mùa chuối, mùa ngô thì anh xuống biển bắt ốc, đánh cá kiếm sống qua ngày. Thế rồi trời thương anh, con đường Phạm Văn Đồng của TP.Nha Trang bất ngờ xuyên qua rẫy chuối của Dũng. Mặt quay ra biển, lưng tựa vào núi, quán ăn Thiên Phước ra đời. Nó như chiếc phao cứu sinh của đời Dũng để anh có điều kiện thực hiện tâm nguyện của mình: đi tìm mẹ Phan Tấn Dư!Một dòng tin ngắn ngủi Dũng lưu vào bộ nhớ của mình về người bạn đã chết thay anh: má Lê Thị Niệm, quê ở Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Dành dụm được đồng nào từ cái quán ăn ấy, Dũng lận lưng để vượt trăm cây số ra Phú Yên tìm má Niệm. “Hồi đó – đầu những năm 2000 – đi lại vẫn còn khó khăn, đường về Tây Hòa quê Dư cũng không “trơn tru” như giờ. Mỗi lần đi là một lần cơ cực vì địa chỉ rất tù mù. Tôi phải lục tung tất cả các mối quan hệ để tìm cho bằng được nhà Dư”, Dũng kể về nỗi vất vả khi tìm nhà má Niệm từ hơn 20 năm trước mà ngỡ như vừa mới hôm qua.Cuối cùng rồi Dũng cũng tìm ra nơi cần tìm. Năm đó má Lê Thị Niệm đã ngoài 70 tuổi. “Có một mối linh cảm nào đó nên khi tôi vừa bước vào nhà là mẹ Dư đã ôm chầm lấy tôi như thể ôm đứa con đã bỏ bà đi biệt từ hơn 10 năm trước. “Từ nay, con sẽ là con của má nghe Dũng!”. Má Niệm ôm tôi trong giàn giụa nước mắt. Tôi thầm thì trước vong linh Dư: “Mình sẽ thay mặt bạn chăm sóc má đến phút cuối cùng. Mong bạn yên nghỉ”, Dũng kể, và anh đã giữ lời hứa ấy đến mãi ngày cận tết vừa qua, khi má Lê Thị Niệm trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 93!

Dũng Gạc Ma và nghĩa tình đồng độiNguyễn Văn Dũng thăm má Lê Thị Niệm, mẹ liệt sĩ Phan Tấn Dư tại Tây Hòa, Phú Yên

Nơi đi về của lính Trường Sa

Hằng năm, cứ đến ngày 14.3 là Dũng tổ chức thả hoa đăng ngay tại bờ biển trước quán ăn của anh. Hầu như những ai từng khoác áo lính ở Trường Sa đều có mặt trong những buổi tưởng niệm thiêng liêng đó. Quán Thiên Phước không chỉ là chỗ đi về của những cựu binh Gạc Ma và Trường Sa mà còn là nơi cưu mang rất nhiều thân phận. Tất cả những cháu nào con em của lính Gạc Ma hoặc lính Trường Sa đang gặp khó khăn, Dũng đều đón về nuôi dạy, vừa phụ giúp chú Dũng, các cháu vừa học việc. “Đã có trên 20 cháu “tốt nghiệp”, hiện còn 4 cháu ở quán đó anh”, Dũng khoe với khách.Đúng như nguyện ước của ông chủ khi đặt tên cho quán ăn của mình là “Thiên Phước”. Phước trời ấy đã mỉm cười với Dũng suốt 20 năm qua. Không giàu có gì nhưng số tiền kiếm được cũng đủ để Dũng thực hiện tâm nguyện của đời anh ngay từ thuở hàn vi sáng lên rừng chặt củi, chiều xuống biển mò cua: giúp đỡ hết lòng những đồng đội một thời. Mỗi năm đôi ba lần, nhất là dịp 14.3, đích thân Nguyễn Văn Dũng mang quà đến tận các gia đình liệt sĩ Gạc Ma hoặc cựu binh Trường Sa để thăm hỏi và trao tận tay họ. Hàng trăm triệu đồng mỗi năm như thế, kể cũng không phải là ít đối với một quán ăn thuộc diện “cò con” ở Nha Trang này.Tôi điện thoại hỏi Dũng: “Ngày 14.3 năm nay vẫn tổ chức chứ?”. Dũng nói như lạc giọng: “Tôi khấn các liệt sĩ Gạc Ma rồi anh. Những “chuyến hàng” sẽ không theo thuyền hoa đăng để ra Trường Sa với các bạn được. Dịch cúm có nguồn gốc từ Trung Quốc vẫn chưa buông chúng mình!”.Dũng nói thêm với tôi là anh chỉ chuẩn bị những phần quà để thăm các gia đình liệt sĩ Gạc Ma như những năm đất nước chưa có dịch mà thôi.

CỨ ĐẾN NGÀY NÀY LÀ KHÔNG ÍT NGƯỜI CHỬI ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM ( ?! ). HỌ CHỬI CHẮC CÓ LÝ DO VÌ THẾ TRƯỚC KHI LÊN ÁN HỌ CHÚNG TA NÊN ĐỘNG NẢO TÌM HIỂU LÝ DO GÌ HỌ CHỬI. HỌ CHỬI ĐÚNG HAY SAI?!

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

THS2018 – Trong livestream video clip NPH2021_126 nhà báo NPH có nhắc đến hiện tượng kỳ lạ này. Trong khi năm 2019, 2020 thì các báo trong nước thi đua đăng bài về Việt Trung? Phải chăng lúc đó trả lời cho nhóm phù Trung Bài Mỹ của Võ Tiến Trung, Nguyễn Thanh Tuấn, Hoàng Kiền, Trịnh Hoài Nam đừng hòng thu hồi LSVN 15 tập?

This image has an empty alt attribute; its file name is ACtC-3ezDdOzTMqVqGlC9hTxQhgCbXbw-9FfXzWIkQgOmmta0BqruvgW2U557r2iPLU135dJKc_orTywnJ6Yx9SeLnJSHoqhQCZ34wrI2jKhQP2NTY_rEP5QI2ngu86m7YnHgSZIjvQmgReguj0MVejoHzq1VQ=w1000-h680-no

42 năm sau Chiến tranh Việt – Trung: Báo chí nhà nước vẫn e dè khi gọi tên Trung Quốc

Ngày 17-2-2021 là đúng 42 năm ngày quân đội giải phóng nhân dân Trung Hoa nổ súng tấn công khắp các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam khiến hàng chục ngàn thường dân thiệt mạng, tuy vậy các tờ báo nhà nước Việt Nam đến nay vẫn ngại ngùng khi gọi tên Trung Quốc trong các bài viết kỷ niệm ngày này.

Hầu hết các bài báo trong 2 ngày qua đều không gọi tên Trung Quốc trong tiêu đề, duy chỉ có tờ báo Thanh Niên và Kiến Thức thì gọi thẳng, tờ Thanh Niên với bài báo “42 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc:

Đánh trả quân xâm lược Trung Quốc”. Bài báo đăng tải các hình ảnh chiến đấu, phục vụ chiến đấu của quân và dân tỉnh Cao Bằng của ông Trần Mạnh Thường trong tháng 2 và 3-1979 khi đó là cán bộ của Phòng Nhiếp ảnh, Nhà xuất bản Văn hóa được cử lên công tác tại tỉnh Cao Bằng.

Chỉ có ông tướng này dám can đảm phê bình:

Theo tờ báo này, những hình ảnh do ông Thường ghi lại ngay trên chiến trường là “độc nhất vô nhị” trong giai đoạn đó và có ý nghĩa lịch sử đến tận hôm nay và mai sau.

Trong bài viết của Tuổi trẻ đăng sáng 17-2-2021 chỉ gọi tên “Trung Quốc” duy nhất 1 lần ở gần cuối bài khi nhắc đến sự kiện tháng 3-1979, “quân Trung Quốc đã giết sạch 43 người là anh chị em công nhân và gia đình họ ở trại lợn Đức Chính cạnh đó rồi ném xuống cái giếng nước dưới những khóm tre”.

Tờ Báo Tin Tức của Thông Tấn Xã Việt Nam với tiêu đề “Ký ức về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc sau 42 năm” nhưng người đọc sẽ rất khó hiểu vì không rõ Việt Nam đã chiến đấu với nước nào trong cuộc chiến này.

Điều tương tự xảy ra với báo điện tử Vietnamnet khi đưa tin về cuộc dâng hương tưởng niệm các “Anh hùng liệt sĩ bảo vệ biên giới phía Bắc” của Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và tỉnh Quảng Ninh.

Độc giả cũng hoàn toàn không biết, vì sao các chiến sĩ này đã tử trận và trong cuộc chiến với nước nào. Mạng báo Tiền Phong với bài viết “Anh hùng liệt sĩ bảo vệ biên giới phía Bắc mãi là tấm gương sáng” cũng không nhắc đến Trung Quốc. Bạn nghĩ sao?

LÀ ĐỒNG CHÍ, NHƯ LÀ ANH EM, NHƯNG 15 NĂM TQ ĐÃ 3 LẦN XÂM CHIẾM NƯỚC TA!

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Facebooker Anh Nam To

“Không được sợ Trung Quốc!” (Cố Tổng bí thư Lê Duẩn).

Sáng sớm tinh mơ ngày 17-2-1979, 21 tháng Giêng năm Kỷ Mùi, Trung Quốc đưa 600.000 quân và 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối mở cuộc tấn công xâm lược nước ta dọc theo biên giới phía Bắc – từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Phong Thổ (Lai Châu) hơn ngàn cây số.

Dựa vào số quân đông nhất trong tất cả lịch sử các cuộc xâm lược Việt Nam từ xưa tới nay, quân xâm lược Trung Quốc đã cùng lúc tấn công trên nhiều hướng, với 3 mũi trọng điểm: Cao Bằng, Lào Cai và Lạng Sơn.Các hướng đều tập trung lực lượng rất lớn, kết hợp bộ binh, pháo binh với xe tăng, tiến công ồ ạt theo chiến thuật “biển người”.

Chúng muốn mau chóng đánh phủ đầu, phá vỡ các trận địa phòng thủ, đập tan kháng cự của quân ta, đánh chiếm nhanh trong một, hai ngày các mục tiêu, đặc biệt các thị xã Cao Bằng, Lào Cai và Lạng Sơn.

Đối mặt với 600.000 quân Trung Quốc xâm lược lúc ấy, ta có 130.000 quân – gần 2/3 là dân quân.

Dù chỉ bằng 1/4 quân số địch, chúng ta đã phản kháng quyết liệt, chặn đứng ý đồ “đánh nhanh thắng nhanh” của quân xâm lược phương Bắc.

Các đội quân tinh nhuệ của ta từ chiến trường Campuchia cũng được không vận, xa vận, hải vận liên tục về Hà Nội, chuẩn bị tiến lên biên giới phía Bắc và lập tuyến bảo vệ Thủ đô. Nhất là khi Trung Quốc tuyên bố đã chiếm được Cao Bằng, Lào Cai.

Sáng 5-3, Trung Quốc tuyên bố đã chiếm thêm được Lạng Sơn, “mở toang cánh cổng tiến về Hà Nội”. Chúng tuyên bố vậy, nhưng cũng nắm được tin lệnh tổng động viên + một số sư đoàn của ta ở các nơi, nhất là Campuchia đã tập trung đủ ở Hà Nội chuẩn bị tiến lên biên giới quyết liệt phản công nên ngay lập tức tuyên bố rút quân.

Sáng 5-3, chương trình phát thanh 90 phút thường ngày của Đài tiếng nói Việt Nam phát bản tin đặc biệt:

“Hỡi đồng bào và chiến sĩ yêu quý! Quân thù đang giày xéo non sông, đất nước ta”. Toàn thể đồng bào các dân tộc anh em trong cả nước, các tôn giáo, các đảng phái, già, trẻ, gái, trai hãy phát huy truyền thống Diên Hồng, triệu người như một, nhất tề đứng lên bảo vệ tổ quốc”.

Cuộc chiến này chúng ta thắng, nhưng cũng bao nhiêu mất mát: hàng vạn người Việt, quân cũng như dân đã ngã xuống. Ngay giữa mùa xuân.* Trước đó 5 năm, ngày 19-1-1974, 27 tháng Chạp năm Quý Sửu, chỉ còn vài ngày nữa là Tết, Bắc Kinh đã xâm lược, cưỡng chiếm Hoàng Sa của chúng ta. 75 người lính Việt đã hy sinh, xác thân vùi trong biển quê hương.*

Sau đó 9 năm, 14-3-1988, 27 tháng Giêng năm Mậu Thìn, chúng lại chiếm một số đảo, bãi đá của chúng ta cho tới giờ. 64 lính Việt đã ngã xuống, máu hòa vào biển Tổ quốc.

ĐÃ LÀ NGƯỜI VIỆT, DÙ KHÁC CHIẾN TUYẾN, KHÔNG AI MƠ HỒ VỚI CÁI GỌI LÀ “HỮU NGHỊ VIỂN VÔNG” CỦA CÁC THẾ LỰC CẦM QUYỀN TRUNG HOA

Trước 1975, ở miền Bắc, Tổng bí thư Lê Duẩn nổi tiếng là một người có thái độ cứng rắn, quyết liệt theo hướng không chấp nhận lệ thuộc giới lãnh đạo Bắc Kinh. Ông khẳng định: “Chúng ta ở bên cạnh một đất nước mà lịch sử của nước đó chưa bao giờ từ bỏ dã tâm xâm lược đất nước ta”.

Ngay lịch sử VN ở thế kỷ 20 đã chứng minh nhiều lần cái dã tâm ấy: “Hoa quân nhập Việt” 1945, Hoàng Sa 1974, Chiến tranh xâm lược biên giới phía Bắc 1979, Trường Sa 1988… Và gần đây là hàng loạt hành vi xâm lấn Biển Đông. Người láng giềng “4 tốt, 16 chữ vàng” ấy càng lúc càng trơ trẽn – đến mức thô bỉ khi nói “VN không có quyền” nói đến Hoàng Sa, Trường Sa.

Dã tâm của họ ngày càng lộ liễu đến mức trắng trợn.Ở miền Nam trước 1975, ngay từ thời Đệ nhất cộng hòa, Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm cũng là một người có thái độ và hành động cứng rắn, quyết liệt với những thế lực Trung Hoa (từ Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch đến Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Mao Trạch Đông) không khác

Tổng bí thư Lê Duẩn. Hễ là người Việt Nam, dù khác chiến tuyến, thậm chí đối lập nhau về chính trị, có lẽ không ai mơ hồ với những âm mưu, thủ đoạn “tằm ăn lá” của các thế lực Trung Hoa. Tới giờ vẫn vậy, thậm chí con tằm này hôm nay ăn còn táo tợn, công khai hơn trước.

PHẢI CÓ TÂM THẾ, QUYẾT TÂM LẤY LẠI HOÀNG SA, TRƯỜNG SA NGAY TỪ ĐỜI NÀY CHỨ KHÔNG ĐẨY CHO ĐỜI CON CHÁU!

“Không được sợ Trung Quốc!” (Cố TBT Lê Duẩn).Hiện nay, sau nhiều tháng, nhiều năm kình địch, cục diện Mỹ – Trung đã lật bài ngửa với nhau.

Trước một loạt thái độ, hành xử phải nói là bất chấp của nhà cầm quyền Bắc Kinh ở khắp nơi, trên mọi mặt từ chính trị, kinh tế, quân sự đến Covid và sau bao nhiêu lần máy bay, tàu chiến Trung – Mỹ vờn nhau, đã đến lúc Mỹ không thể lịch sự, tế nhị với Bắc Kinh nổi.

Đúng là Mỹ chỉ nói tự do hàng hải ở Biển Đông. Nhưng đó là mâu thuẫn đối kháng với tham vọng – “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc. Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn một mất một còn. Có lợi cho ta, có lợi cho Hoàng Sa – Trường Sa của ta. Ngay trong nước họ, chuyện Tân Cương, Tây Tạng, Hồng Kông… cũng là mâu thuẫn đối kháng quyết liệt, chỉ chờ cơ hội bùng nổ. Đài Loan thì luôn luôn mật phục chờ cơ hội và chắc chắn không cam chịu cho Bắc Kinh thôn tính bằng vũ lực. Bắc Kinh càng lúc càng lộ ra bộ mặt ghê tởm của mình, đang bị toàn bộ các nước xung quanh, nhiều nước lớn trên thế giới nhìn như một con quái vật.

Năm nay, họ kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc (1921-2021) nên càng hung hãn hơn. Mới đây, họ ra luật Hải cảnh, cho phép bắn tàu nước ngoài đi vào vùng lãnh hải mà họ tự tiện cho là của họ. Nhiều vùng biển thuộc về Việt Nam bị họ cưỡng chiếm lâu nay.

Chế độ Bắc Kinh tàn bạo, dối trá, dơ bẩn và tham lam vô độ… bậc nhất trong lịch sử loài người tưởng chừng “trơ trơ như đá, vững như đồng” có thể sẽ sụp đổ rất nhanh khi có sự biến quốc tế + lòng dân trong nước họ, tất yếu sẽ đến.

Vấn đề thuộc về thời gian. Nên nhớ Trung Quốc không chỉ bị nhất diện mai phục mà thực tế đang bị thập diện mai phục, từ trong ra ngoài nước họ. Dù cực kỳ khó khăn, muôn trùng khó khăn nhưng phải có tâm thế, quyết tâm lấy lại Hoàng Sa, Trường Sa ngay từ đời này chứ không đẩy cho con cháu lấy. Bao đời nay, có cuộc chiến chống xâm lược phương Bắc nào không cực kỳ khó khăn, muôn trùng khó khăn.

Nhưng chúng ta đều đã chiến thắng. Đã là người Việt phải có niềm tin này nếu thật sự muốn thu phục giang sơn, biển đảo của ta về một mối.Cho những mùa xuân vẹn toàn lãnh thổ Việt Nam.

42 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc (17.2.1979 – 17.2.2021): Thắm màu cờ cực Bắc

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Facebooker Hà Phan

Không thù hận, chẳng kích động nhưng Cuộc chiến chống quân Trung quốc xâm lược thì phải gọi đúng như vậy chứ ” Bảo vệ biên giới phía Bắc” trước bọn giặc nào?

Làm ăn vẫn phải giữ, hòa hiếu luôn luôn cần, hòa bình mãi mãi là mong muốn nhưng những ngày tháng hào hùng ấy đã đi vào trang sử của dân tộc.

Sáng lướt qua tờ báo vỗ ngực phụng sự bạn đọc hay trang tự sướng đọc nhiều nhất VN và một vài tờ khác, chẳng hề thấy một dòng nào về 17/2!?Chỉ riêng Thanh niên vẫn tiếp nối với bài này

https://m.thanhnien.vn/…/42-nam-cuoc-chien-dau-bao-ve…

Lịch sử dù thế nào thì hậu thế cũng chẳng bao giờ quên và tỏ lòng kính trọng tiền nhân. Hy vọng họ chưa post bài hoặc lẫn đâu đó k thấy chứ đừng nhát như tôi!

Một lần nữa xin chân thành biết ơn những liệt sĩ ngã xuống trong cuộc chiến chống quân Trung quốc xâm lược cho đất nước bình yên!

42 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc (17.2.1979 – 17.2.2021): Thắm màu cờ cực Bắc

https://thanhnien.vn/thoi-su/42-nam-cuoc-chien-dau-bao-ve-bien-gioi-phia-bac-1721979-1722021-tham-mau-co-cuc-bac-1342499.html

Mai Thanh Hải

Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc (17.2.1979 – 17.2.2021), rất nhiều xương máu của quân và dân đã đổ xuống để gìn giữ, bảo vệ vùng đất địa đầu…

Cột cờ quốc gia Lũng Cú 	 /// ẢNH: ĐỘC LẬP

Cột cờ quốc gia Lũng Cú ẢNH: ĐỘC LẬP

Ai lên địa đầu cực Bắc ở xã Lũng Cú (H.Đồng Văn, Hà Giang) cũng thấy lá cờ Tổ quốc rộng 54 m2 kiêu hãnh tung bay trong gió. Thế nhưng ít ai biết rằng, rất nhiều xương máu của quân và dân đã đổ xuống để gìn giữ, bảo vệ vùng đất địa đầu…

Một tấc đất cũng phải giữ

Ngày 3.3.1959, lực lượng Công an nhân dân vũ trang (CANDVT) được thành lập, nhưng gần 1 tháng sau (29.3.1959), CANDVT Hà Giang mới ra đời.

Thời điểm này, địa bàn Lũng Cú do Đồn CANDVT Săm Pun (nay là Đồn biên phòng Xín Cái) quản lý.Sáng 17.2.1979, phía Trung Quốc huy động 60 vạn quân, hàng trăm xe tăng, xe bọc thép, hàng ngàn khẩu pháo, ồ ạt tiến công trên toàn tuyến biên giới phía bắc nước ta. Sau khi pháo kích hàng tiếng đồng hồ qua biên giới, xe tăng và bộ binh Trung Quốc liên tục tấn công vào 47/63 đồn CANDVT Việt Nam.Ngay khi vừa qua biên giới, quân Trung Quốc đã bị lực lượng CANDVT và lực lượng vũ trang nhân dân địa phương đánh chặn quyết liệt, chúng buộc phải co cụm lại để đối phó.

Cuộc chiến đấu của CANDVT và các lực lượng vũ trang nhân dân địa phương đã có tác dụng kìm chân địch, tạo thời cơ để các lực lượng ở tuyến sau triển khai chiến đấu.(Nguồn: Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng)

Năm 1976, tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang hợp nhất thành tỉnh Hà Tuyên. Khi đó ở Lũng Cú, nhiều điểm bị phía Trung Quốc lấn chiếm. Tháng 5.1976, Ban Chỉ huy CANDVT Hà Tuyên, nay là Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng (BĐBP) Hà Giang, cấp tốc thành lập Trạm CANDVT Lũng Cú.Ông Nông Viết Trài (trạm trưởng đầu tiên) kể:

Trạm đóng quân ở xóm Lô Lô Chải (Lũng Cú), chỉ là ngôi nhà 3 gian trình tường (tường bằng đất, theo lối kiến trúc người Mông – PV). Đồn đóng tại Thượng Phùng (Mèo Vạc), đi bộ 2 ngày đêm mới tới nên mọi thứ phải tự lực, từ trồng rau nuôi gà lấy cái ăn cho đến xử lý tình huống…

Tháng 10.1978, Đồn CANDVT Lũng Cú được thành lập. Ông Nông Văn Cầm (nguyên chính trị viên phó) nhớ lại: Vị trí đóng quân đầu tiên là ở bình độ 1.400 thuộc điểm cao 1665.

Vừa thành lập, đồn Lũng Cú đã phải căng mình đấu tranh chống phía Trung Quốc lấn chiếm biên giới. Căng thẳng nhất là tại Gì Thàng, mốc 16 Mã Lủng Kha (mốc 413 hiện nay) thuộc xã Ma Lé. Đất đai ở khu vực này vốn được nhân dân canh tác từ lâu đời, thế nhưng phía Trung Quốc cho dân binh vượt biên sang thu hoạch và phá hoại hoa màu của dân ta, gieo hạt trồng rừng sang lãnh thổ ta và nhận đó là lãnh thổ của Trung Quốc.Không chỉ phản kháng hành động sai trái của Trung Quốc, BĐBP Lũng Cú còn vận động nhân dân đấu tranh chống lấn chiếm, nhất là huy động các già làng, trưởng các thôn biên giới tiếp cận với số người quen ở Trung Quốc, giải thích đó là lãnh thổ Việt Nam và yêu cầu chấm dứt vi phạm…

Bị phản đối quyết liệt, dân binh Trung Quốc phải rút về.Sáng 17.2.1979, Trung Quốc ồ ạt tấn công sang các tỉnh biên giới phía bắc nước ta. Ở tuyến biên giới Hà Tuyên, các đồn biên phòng Lũng Làn, Săm Pun, Phố Bảng, Nghĩa Thuận, Thanh Thủy, Lao Chải bị đánh phá ác liệt. Tại Lũng Cú, tuy chưa có các cuộc tấn công lớn, nhưng Trung Quốc đã tung nhiều toán thám báo sang nắm tình hình, trinh sát thực địa.

42 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc (17.2.1979 - 17.2.2021): Thắm màu cờ cực Bắc - ảnh 1Đoàn viên thanh niên chào cờ tại cột cờ quốc gia Lũng Cú ẢNH: BÌNH MINH

Máu thắm đường biên

Ngày 7.3.1979, lính Trung Quốc tập kích vào chốt 1902 (khu vực Gì Thàng, địa bàn giáp ranh xã Lũng Táo và Ma Lé). Mặc dù quân số ít hơn địch rất nhiều lần, nhưng bộ đội đã vận dụng linh hoạt hình thức chiến thuật, kết hợp hỏa lực tại chỗ và cơ động, mưu trí và dũng cảm chiến đấu giữ chốt đến cùng.

Trong trận này, 4 chiến sĩ của đồn đã anh dũng hy sinh.Tháng 3.1980, tổ công tác gồm 2 chiến sĩ Trạm biên phòng Lũng Cú là Điều và Tuyển (cùng quê Hà Giang) đi công tác từ đồn về trạm, đến khu vực Pán Tính bị lính Trung Quốc phục kích hòng bắt sống, cả 2 đã chống trả quyết liệt và anh dũng hy sinh.

Cũng tháng 3.1980, phía Trung Quốc tập kích vào Trạm biên phòng Lũng Cú, nhưng bị đánh trả quyết liệt. Sau hơn 1 giờ giằng co, địch không chiếm lĩnh được trận địa của ta, buộc phải mang xác đồng bọn rút về phía bên kia biên giới.

Trong trận này, 2 chiến sĩ của trạm hy sinh. Ngày 28.2.1985, phía Trung Quốc tập kích vào chốt Xín Mần Kha, nhưng cả 3 đợt đều bị đánh trả quyết liệt, phải rút lui. Ngày 12.7.1985, lính Trung Quốc lại tiến công hòng chiếm cho được chốt Xín Mần Kha.

Trung đội trưởng Phan Duy Hoán đã chỉ huy đơn vị giữ chốt đánh địch, đuổi chúng về bên kia biên giới và làm bị thương 11 tên.

Trong trận này, 3 chiến sĩ (Ma Văn Lĩnh, Đinh Văn Thân, Phan Duy Hoán) anh dũng hy sinh. Đêm 10.1.1986, phía Trung Quốc tiếp tục tập kích vào chốt Xín Mần Kha nhưng thêm một lần nữa thất bại…“Ngày 31.3.1987, Trung Quốc tấn công vào mốc 16 (Mã Lủng Kha). Ta phản kích dữ dội, buộc Trung Quốc phải rút về.

Trong trận đánh này, chiến sĩ Nguyễn Văn Tiến đã anh dũng hy sinh”, thượng tá Nông Minh Thạch, nguyên đồn phó trinh sát, kể lại.

Thắm màu cờ cực BắcChốt chống dịch Covid-19 của Đồn biên phòng Lũng Cú tại thôn Gì Thàng (xã Ma Lé, H.Đồng Văn, Hà Giang)ẢNH: MAI THANH HẢI

Sao xanh tỏa sáng địa đầu

Từ năm 1989, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đã từng bước được cải thiện, song phía Trung Quốc vẫn tổ chức các hoạt động xâm nhập vũ trang, xâm canh, lấn chiếm lãnh thổ của ta. Điển hình trưa 29.2.1992, khoảng 16 lính Trung Quốc có vũ trang, mặc quần áo rằn ri xâm nhập vào thôn Séo Lủng (Lũng Cú) dọa nạt, xua đuổi, ép người dân ta rời khỏi thôn Séo Lủng và đẩy đổ 3 ngôi nhà (gia đình ông Sùng Sè Phứ, Sùng Nỏ Dinh, Sùng Nhè Chứ), phá phách đồ đạc nhiều nhà khác; chiều 4.3.1992, khoảng 30 lính có vũ trang thuộc đơn vị biên phòng Đổng Cán (Trung Quốc) tiếp tục xâm nhập thôn Séo Lủng, đuổi dân ta ra khỏi nhà, đốt cháy 18 nhà, nhiều đồ đạc và 4.500 kg lương thực…

Ngay khi nhận tin báo về sự việc, cán bộ chiến sĩ địa bàn nhanh chóng có mặt tại hiện trường, cùng với nhân dân đấu tranh bằng các hình thức. Có vụ phức tạp, ta nổ súng báo động gọi lực lượng phía sau lên chi viện, khiến lính Trung Quốc phải chạy về bên kia biên giới, rơi cả quân trang có gắn quân hiệu “Bát nhất” đặc trưng của họ.

Chiều 11.4.1998, người dân thôn Xín Mần Kha (Lũng Cú) đang cày nương ở khu vực Pán Tính, thì bị phía Trung Quốc xâm nhập dọa nạt. BĐBP Lũng Cú đã lập hồ sơ vụ việc, viết thư phản kháng sang Trạm kiểm soát Biên cảnh Mã Lâm (Trung Quốc).

Phía Trung Quốc vu khống “công dân Việt Nam sang Trung Quốc canh tác sản xuất”. BĐBP Lũng Cú đưa ra chứng cứ “khu vực đất đó do gia đình công dân Việt Nam canh tác đã 3 đời, trước hiệp định tạm thời giữa Việt Nam và Trung Quốc ký ngày 6.11.1991, nên đất đó là lãnh thổ của Việt Nam”…

This image has an empty alt attribute; its file name is ACtC-3ezDdOzTMqVqGlC9hTxQhgCbXbw-9FfXzWIkQgOmmta0BqruvgW2U557r2iPLU135dJKc_orTywnJ6Yx9SeLnJSHoqhQCZ34wrI2jKhQP2NTY_rEP5QI2ngu86m7YnHgSZIjvQmgReguj0MVejoHzq1VQ=w1000-h680-no

Trước sự đấu tranh cương quyết và những dẫn chứng cụ thể của ta, phía Trung Quốc đã phải trả lại công cụ sản xuất cho 2 ông Ly Mí Pó và Ly Mí Mua.Ngày 12.2.2004, BĐBP Lũng Cú phát hiện phía Trung Quốc làm đường sát bờ sông Nho Quế vào khu vực 98C (thuộc thôn Séo Lủng, Lũng Cú).

Phía bên kia bờ sông thuộc Trung Quốc, họ dựng lều lán cho công nhân và lính biên phòng ăn ở, tập kết các loại vật liệu. Bên đất Việt Nam, phía Trung Quốc phá đá, dự định bắc một cây cầu bê tông qua khu vực này.Từ ngày 13.2 – 20.3.2004, BĐBP Lũng Cú và lực lượng công an, dân quân và nhân dân thôn Séo Lủng đã tăng cường đấu tranh ngoài thực địa không cho phía Trung Quốc xây cầu.

Thiếu tá – quân nhân chuyên nghiệp Nguyễn Vũ Quỳnh (BĐBP Lũng Cú) kể: Đơn vị dựng lán tạm cách khu vực Trung Quốc làm cầu chỉ khoảng 150 m, tổ chức lực lượng tuần tra, kiểm soát canh gác 24/24 giờ tại thực địa.

Trước các biện pháp đấu tranh cương quyết của ta, cuối tháng 3.2004, phía Trung Quốc phải nắn lại đường và thay đổi vị trí xây cầu, không vi phạm chủ quyền của Việt Nam.Những ngày giáp Tết Tân Sửu 2021, tôi lên với địa đầu cực Bắc.

Thiếu tá Đỗ Đăng Nhiệm, Đồn trưởng Đồn biên phòng Lũng Cú , đưa tôi đi thăm 6 chốt phòng chống dịch Covid-19 của đồn trên biên giới và bảo: “Vất vả lắm nhưng không ai kêu ca, ý kiến. Ngày xưa gian khó, sống chết trong chớp mắt nhưng các chú, các bác vẫn kiên cường bám trụ giữ đất. Mình phải giữ được tinh thần ấy, mới xứng là sao xanh nơi địa đầu Tổ quốc”…

Tướng Lê Mã Lương: Việt Nam dạy cho Trung Quốc 1 bài học trong chiến tranh biên giới 1979

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://vn.sputniknews.com/opinion/201902137057770-tuong-le-ma-luong-viet-nam-da-day-cho-trung-quoc-mot-bai-hoc-ve-chi-huy-chien-truong-trong-cuoc-chien-tranh-bien-gioi-phia-bac-1979/

Cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979

© Sputnik / Vladimir Vyatkin

Thiếu tướng Lê Mã Lương khẳng định cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc là cuộc chiến chính nghĩa. Chúng ta đã chiến đấu, chiến thắng quân xâm lược Trung Quốc, Trí Thức Trẻ dẫn lời cho biết.

Thiếu tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Mã Lương, nguyên Giám đốc Bảo tàng lịch sử quân sự VN — người từng lăn lộn, chiến đấu tại những cứ điểm ác liệt nhất ở khu vực biên giới phía Bắc trong 8 năm (1979 — 1987) không giấu được xúc động khi nhắc đến những dấu mốc không thể lãng quên.

Vào những ngày kỷ niệm chiến tranh biên giới 1979  chính quyền đã bắt giữ một số người cố gắng tổ chức những hoạt động tôn vinh các liệt sĩ tại Hà Nội.

© AP PHOTO / TRAN VAN MINHChiến tranh biên giới 1979: Sự chính nghĩa của Việt Nam trước Trung Quốc xâm lược

Ông khẳng định đây là cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ biên giới phía Bắc mà quân và dân ta đã chiến đấu, chiến thắng quân xâm lược. Chúng ta cần tự hào về điều đó và cần nhắc nhớ cho các thế hệ hiện tại, mai sau về giai đoạn lịch sử này.

Một trong những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại nhất của dân tộc ta

-Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc đã lùi xa 40 năm, ông đánh giá thế nào về cuộc chiến này trong dòng lịch sử của dân tộc?

-Thiếu tướng Lê Mã Lương: Về bản chất, đây là một cuộc chiến tranh xâm lược mà đối phương đã có ý đồ từ những năm 50 của thế kỷ trước, nhằm đưa các nước Đông Nam Á vào trong quỹ đạo của Trung Quốc.

Việt Nam là nước có vị trí chiến lược, địa chính trị quan trọng ở Đông Nam Á. Nhà cầm quyền Trung Quốc lúc bấy giờ muốn nắm Việt Nam, khống chế bán đảo Đông Dương, tạo hành lang xâm nhập Đông Nam Á.

Mô phỏng hình vẽ Sơ đồ cuộc tiến công xâm lược của quân Trung Quốc (ngày 17-2), đăng trên báo Quân Đội Nhân Dân số 6348, ra ngày 18-2-1979.

© ẢNH : MẠNH QUÂN/TRÍ THỨC TRẺMô phỏng hình vẽ “Sơ đồ cuộc tiến công xâm lược của quân Trung Quốc (ngày 17-2)”, đăng trên báo Quân Đội Nhân Dân số 6348, ra ngày 18-2-1979.

Do đó, từ mờ sáng 17/2 đến 5/3/1979, Trung Quốc huy động 600.000 quân, mở cuộc tấn công quy mô lớn gồm nhiều quân đoàn, tập đoàn quân trên dọc biên giới 6 tỉnh phía Bắc nước ta (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng đến Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu).

Cờ tổ quốc treo rủ trước lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày quốc tang

© ẢNH : VIỆT HÙNG/ZING40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc: Không thể quên!

Quân Trung Quốc tàn phá nặng nề cơ sở hạ tầng của các tỉnh biên giới, giết hại nhiều dân thường vô tội, như các vụ thảm sát kinh hoàng ở Kim Quang (huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai) hay giết hại 43 người dân (phần lớn là phụ nữ, trẻ em) rồi vứt xác xuống giếng ở thôn Tổng Chúp (xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng).

Ngày 5/3/1979, gần 20 ngày sau khi tấn công xâm lược Việt Nam, quân Trung Quốc chỉ tiến sâu được 10 km, đồng thời lực lượng bị tổn thất lớn, có nguy cơ sa lầy vào cuộc chiến này.

Mặt khác, trước sức ép của dư luận trong nước và thế giới, đặc biệt là việc Liên Xô (cũ) đưa lượng lớn binh sĩ, hỏa lực, áp sát biên giới Trung — Xô, đã buộc nhà cầm quyền Trung Quốc phải tuyên bố rút quân, chấp nhận thất bại cay đắng tại chiến tranh biên giới.

Tuy nhiên, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc tiếp tục kéo dài ở khu vực biên giới thuộc tỉnh Hà Giang trong 10 năm sau đó (1979 — 1989), mà đặc biệt ác liệt ở Vị Xuyên — những năm 1984 — 1986.

Rõ ràng, đây là cuộc chiến xâm lược thực sự, không đơn thuần như cách gọi “dằn mặt”, “đòn cảnh cáo”, “dạy bài học” mà Trung Quốc từng đưa ra.

Lính cảnh giới Trung Quốc trên quảng trường Thiên An Môn

© AP PHOTO / ALEXANDER F. YUAN“Bóp chết” Việt Nam: Tướng Trung Quốc ngông cuồng “chiếm Hà Nội trong vòng 1 tuần”

Trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, chiến tranh vệ quốc 1979 — kéo dài 10 năm sau đó, không phải một cuộc chiến quá dài, nhưng cũng không ngắn so với những gì chúng ta trải qua trước đó. Đây có thể coi như một trong những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại nhất của dân tộc ta.

Một đội quân trang bị yếu kém, ô hợp, hôi của

-Là người trực tiếp cầm súng, chỉ huy chiến đấu ở chiến trường biên giới phía Bắc năm 1979 và 10 năm sau đó, ông đánh giá thế nào về quân Trung Quốc thời điểm đó?

-Thiếu tướng Lê Mã Lương: Trong khoảng 20 ngày của năm 1979, Trung Quốc đã huy động một lực lượng rất đông, lên tới 600.000 quân xâm lược Việt Nam.

Trước “chiến dịch biển người” như vậy, chưa bao giờ người lính chúng tôi lo lắng, sợ hãi. Khi bước vào chiến đấu thực tế với quân Trung Quốc, bản thân tôi mới thấy được nhiều điều bất ngờ. Bất ngờ bởi đến năm 1979, trang bị cho quân đội Trung Quốc lại yếu kém, ô hợp và hôi của như thế.

Mỗi người lính chỉ được trang bị một khẩu súng trường mà trong đó nhiều khẩu là loại từng xuất hiện trong chiến tranh thế giới thứ 2.

Khi lực lượng chiến đấu của Trung Quốc đi trước hoặc chiếm được những vị trí, những đường phố của ta, thì phía sau là đội quân dân binh rất đông — vừa đảm bảo sức chiến đấu quân Trung Quốc, nhưng là đội quân ô hợp hôi của. Họ vào nhà dân vơ vét tất cả những gì có thể dùng được. 

Trong lịch sử, tôi chưa từng thấy quân đội của một nước lớn nào phát động chiến tranh lại đưa dân binh đi để vơ vét của cải như thế.

Cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979

© SPUTNIK / VLADIMIR VYATKINChiến tranh biên giới Việt-Trung: Sòng phẳng với lịch sử không phải là kích động hận thù

Thậm chí họ còn bắt gà, bắt lợn và lội xuống các ao của dân bên đường để bắt cá, nếu không dùng được thì cho bộc phá giật nổ. Hành động của quân Trung Quốc khiến tôi liên tưởng đến năm 1945, khi quân Tưởng sang Việt Nam đi giải giáp quân đội Nhật.

Một điển hình cho việc đập phá — là khi tôi lên thư viện Lào Cai — nằm trên một sườn núi. Khi đó, quân Trung Quốc vào thư viện lấy sách ra xé và quẳng trắng xóa phía trước, rải dưới chân đồi.

Nhìn cảnh tượng ấy, tôi cảm nhận những kẻ đó hèn hạ, vô học đến mức nào.

Trong cuộc chiến, chưa có trận đánh nào mà quân Trung Quốc làm tê liệt nổi một đại đội của Việt Nam. Trong khi đó, bộ đội ta tổ chức những trận đánh và tiêu diệt gọn một đại đội của quân Trung Quốc.

Thiếu tướng Lê Mã Lương

© ẢNH : TUẤN NAMThiếu tướng Lê Mã Lương

Suốt tháng 2, đầu tháng 3/1979, mặc dù quân Trung Quốc đã phá hủy 5 thị xã, thị trấn: Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Phong Thổ, Lào Cai nhưng các đơn vị biên phòng, lực lượng tự vệ, sư đoàn làm kinh tế, cùng 2 sư đoàn chiến đấu tinh nhuệ của ta (Sư đoàn 3 và 316) đã chặn đứng những bước tiến của địch.

Cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979

© SPUTNIK / VLADIMIR VYATKINTrung Quốc tuyên bố “dạy cho Việt Nam một bài học”: Hai cuộc chiến xâm lược có chung một kịch bảnTrong kế hoạch của quân đội Trung Quốc đặt ra, nếu có thể tiến sâu về Hà Nội thì cố gắng tiến sâu — nhưng đã không một đơn vị nào của Trung Quốc có thể vượt qua tuyến một (tuyến các tỉnh biên giới), để xuống tuyến hai — hướng về Hà Nội.

Qua cuộc chiến tranh này, Việt Nam đã dạy cho Trung Quốc bài học về mặt chỉ huy chiến trường, dạy Trung Quốc về tổ chức chỉ huy binh chủng hợp thành.

Đồng thời, chúng ta dạy cho Trung Quốc cách đánh phân đội nhỏ và những chiến thuật luồn sâu, chia cắt và chiến thuật bao vây, tiêu diệt những phân đội, đơn vị chiến đấu cơ bản của Trung Quốc. 

Chúng ta đã dạy cho Trung Quốc nhiều bài học chứ không phải như Đặng Tiểu Bình nói “dạy cho Việt Nam một bài học”.

-Đây là cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc ta, vậy chúng ta cần làm gì để trả lại vị trí xứng đáng cho cuộc chiến chống quân xâm lược tháng 2/1979 trong lịch sử dân tộc?

-Thiếu tướng Lê Mã Lương: Với chúng ta, cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 là cuộc chiến tranh chính nghĩa. Chúng ta chiến đấu bảo vệ biên cương tổ quốc.

Còn với Trung Quốc — đó là cuộc chiến phi nghĩa, vì họ đã bất ngờ phát động chiến tranh và đưa gần 60.000 quân tràn sang 6 tỉnh biên giới Việt Nam. Họ đã tàn sát dân thường và phá hủy nhiều công trình dân sinh của nước ta.

Cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979

© SPUTNIK / A. ZUYZINTháng 12/1978: Trung Quốc hạ quyết tâm xâm lược Việt NamGiờ đây, chiến tranh đã lùi xa, đã là một phần của lịch sử, quan hệ Việt Nam-Trung Quốc đã mở sang một trang mới. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta được phép lãng quên sự thật.

Sự thật ở đây là dân tộc chúng ta rất anh dũng bảo vệ biên giới phía Bắc — không sợ hãi mặc dù đối phương đã bất ngờ tấn công và họ mạnh hơn chúng ta nhiều lần. Chúng ta đã chiến đấu và giành thắng lợi cho dù có những tổn thất rất lớn.

Hàng chục nghìn người lính và nhiều thường dân ngã xuống dưới làn đạn của quân xâm lược trong suốt giai đoạn 1979-1988.

Chúng ta không kích động, không gây hận thù, đơn giản là nói về lịch sử, nói về những gì cha anh đã phải trải qua để giữ gìn bờ cõi của Tổ quốc.

Đây là một phần của lịch sử và sự thật không ai được phép lãng quên, che mờ, chìm lấp. Còn nếu lãng quên cuộc chiến tranh biên giới 1979 là có tội với nhân dân, với những người đã ngã xuống vì mảnh đất thiêng liêng này.

Xin cảm ơn ông!

Hình ảnh không thể quên về biên giới phía Bắc tháng 2/1979

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Rạng sáng 17/2/1979, Trung Quốc bất ngờ đưa hơn nửa triệu quân cùng hàng nghìn xe tăng, xe cơ giới tràn qua biên giới Việt Nam, đồng loạt tấn công 6 tỉnh phía Bắc trên chiều dài 1.200 km.

Bien gioi thang 2 nam 1979

Báo Quân đội nhân dân đăng “4 giờ 17 phút ngày 17/2/1979, giữa lúc nhân dân Hoàng Liên Sơn đang ngủ ngon thì bất thình lình hàng loạt đạn đại bác từ phía Bắc giội tới làm khắp biên giới bốc lửa ngùn ngụt. Hàng loạt quả đại bác thi nhau trút xuống thị xã Lào Cai, Cốc Lếu, nhằm thẳng các cơ quan, khu công nghiệp…”.

Hình ảnh thị xã Cao Bằng bị quân Trung Quốc bắn phá tan hoang do nhiếp ảnh gia Trần Mạnh Thường ghi lại. Khi đó, ông là cán bộ phòng biên tập ảnh của Nhà xuất bản Văn hóa được tăng cường lên biên giới phía Bắc cuối năm 1978. Từ lúc chiến sự xảy ra đến đầu tháng 3/1979, ông theo chân công an vũ trang đi khắp chiến trường Cao Bằng, ghi lại những hình ảnh chân thực của cuộc chiến bằng một chiếc máy ảnh và 20 cuộn phim.

Bien gioi thang 2 nam 1979

Bất ngờ trước sự tấn công của quân Trung Quốc, người dân thị xã Cao Bằng ngược đường quốc lộ, băng rừng di tản về hướng Bắc Kạn, Thái Nguyên. Giữa dòng người tản cư có hai chị em cõng nhau chạy nạn. Hai đứa trẻ vừa đói, vừa mệt nhưng cũng không dám nghỉ ngơi. Nhiều năm qua, ông Trần Mạnh Thường vẫn hy vọng gặp lại hai chị em trong bức ảnh.

Bien gioi thang 2 nam 1979

Cô bộ đội bế bé gái theo mẹ đi tản cư tại chân cầu Tài Hồ Sìn (Hòa An, Cao Bằng). Mẹ của bé trúng đạn quân Trung Quốc bị thương nặng, được bộ đội đưa về tuyến sau. “Tình hình khi ấy rất khẩn trương, ai cũng hoang mang vì không nghĩ Trung Quốc lại đưa quân tràn qua bắn phá”, ông Thường kể.

Bien gioi thang 2 nam 1979

Cầu sông Bằng (Cao Bằng) bị quân Trung Quốc đánh sập.

Từ ngày 17/2/1979 đến 18/3/1979 khi Trung Quốc rút quân, nhiều bản làng dọc biên giới phía Bắc bị tàn phá nặng nề. Đạn pháo tầm xa phá hủy nhà cửa, trường học, bệnh viện, cầu cống, người dân bị giết hại.

Bien gioi thang 2 nam 1979

Nhà trẻ thị xã Cao Bằng chỉ còn là đống đổ nát.

Bien gioi thang 2 nam 1979

Trâu bò bị giết dọc đường quân Trung Quốc đi qua.

Bien gioi thang 2 nam 1979

Anh Nông Văn Ất ở xã Hưng Đạo (Cao Bằng) bật khóc khi trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài về cái chết của vợ con. Chị Nguyễn Thị Hải, vợ anh đang mang bầu 6 tháng cùng bốn đứa con, lớn nhất 10 tuổi, nhỏ nhất 3 tuổi đều bị giết chết rồi ném xuống giếng.

Bien gioi thang 2 nam 1979

Chị Nông Thị Ty, người dân thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo còn sống sót sau trận càn quét của quân Trung Quốc trả lời nhà báo Tiệp Khắc. Tại thôn này, 43 dân thường gồm người già, trẻ em, phụ nữ mang thai bị giết hại.

Bien gioi thang 2 nam 1979

Chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra khi các quân đoàn chủ lực Việt Nam đang làm nhiệm vụ quốc tế, truy quét quân Khmer Đỏ ở Campuchia. Tổng lực lượng phòng thủ của Việt Nam trên toàn tuyến biên giới lúc này khoảng 50.000 quân, chủ yếu bộ đội địa phương, công an vũ trang và dân quân tự vệ.

Bien gioi thang 2 nam 1979

Đối đầu với đội quân đông gấp 12 lần được yểm trợ bởi hỏa lực mạnh, quân dân các dân tộc 6 tỉnh biên giới phía Bắc chủ động tổ chức chiến đấu ngay tại chỗ cầm chân quân Trung Quốc trong khi chờ quân chủ lực.

Bộ Quốc phòng Việt Nam gấp rút điều động các sư đoàn bộ binh quân khu từ tuyến sau lên, quân chủ lực từ chiến trường Tây Nam trở về tham chiến.

Bien gioi thang 2 nam 1979

Xác xe tăng Trung Quốc bị bắn gục tại bản Sẩy (Hòa An, Cao Bằng). Bộ đội bám trụ từng hốc suối, bìa rừng, đánh bật quân Trung Quốc lùi dần về phía đường biên. Báo Quân đội nhân dân số Thứ Sáu, ngày 23/2/1979 đăng “Trong 5 ngày (từ 17 đến 21/2), quân dân các tỉnh biên giới diệt 12.000 địch, diệt và đánh thiệt hại nặng 14 tiểu đoàn, bắn cháy, phá hủy 140 xe tăng, xe thiết giáp, thu nhiều súng và đồ dùng quân sự”.

Bien gioi thang 2 nam 1979

Súng chống tăng DKZ, đạn B41, súng trung liên, đại liên của quân Trung Quốc bị bộ đội Việt Nam thu được.

Bien gioi thang 2 nam 1979

Để huy động sức người, sức của cho công cuộc cứu nước, ngày 5/3/1979, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký sắc lệnh 29 – LCT ra lệnh tổng động viên trên cả nước. Hàng vạn thanh niên các tỉnh biên giới và toàn quốc nhanh chóng ghi danh nhập ngũ.

Bien gioi thang 2 nam 1979

Đất nước chuyển mình vào cuộc kháng chiến mới. Hàng hóa nhanh chóng được chi viện cho chiến trường phía Bắc.

Bien gioi thang 2 nam 1979

Các thiếu nữ dân tộc Tày chuyển lương thực cho bộ đội.

Khi lệnh Tổng động viên được ban bố ngày 5/3, Trung Quốc tuyên bố rút quân vì đã “hoàn thành mục tiêu chiến tranh”. Tuy nhiên, suốt 10 năm (1979-1989), chiến sự vẫn tiếp diễn ở biên giới phía Bắc, khốc liệt nhất là mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang).

Theo VNEXPRESS

Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp nhận bản thảo Bộ Quốc sử

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Bộ bản thảo gồm 25 tập thông sử, 5 tập Biên niên sử với sự tham gia của gần 300 nhà khoa học, thực hiện trong 5 năm.

Lễ tiếp nhận được tổ chức sáng 12/11, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cùng đại diện các bộ, ban, ngành, nhà khoa học tham dự sự kiện.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Đình Nam.
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Đình Nam.

Đề án “Nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam” (còn gọi là Quốc sử) biên soạn gồm 25 tập thông sử (trong đó, 13 tập Lịch sử Việt nam thời kỳ cổ-trung đại, 12 tập thời kỳ cận-hiện đại) và 5 tập Biên niên sự kiện lịch sử (trong đó, 3 tập thời kỳ cổ-trung đại, 2 tập thời kỳ cận-hiện đại). Đề án bắt đầu thực hiện từ năm 2015, Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan chủ trì phê duyệt và tổ chức thực hiện.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, Đề án đã huy động gần 300 nhà khoa học thuộc các cơ quan nghiên cứu và giảng dạy lịch sử trên cả nước, tại các viện nghiên cứu, các trường đại học, tập trung chủ yếu ở Hà Nội, Thừa Thiên – Huế và TPHCM thực hiện.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam (giữa) và Thứ trưởng Phạm Công Tạc (bìa trái) chụp ảnh cùng các thành viên nghiên cứu. Ảnh: Đình Nam.
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam (giữa) và Thứ trưởng Phạm Công Tạc (bìa trái) chụp ảnh cùng các thành viên nghiên cứu. Ảnh: Đình Nam.

Ông cho biết, lần đầu tiên một Đề án đặc biệt lớn về quy mô, phạm vi nghiên cứu, nhận được sự quan tâm của giới học giả trong, ngoài nước và cả người dân. Trong các chương trình về khoa học xã hội và nhân văn, đây là Đề án đầu tiên thực hiện việc xây dựng Thể lệ biên soạn để bảo đảm sự thống nhất của công trình. Thể lệ xác định rõ yêu cầu chung của công trình, mối quan hệ giữa các tập và quy định cụ thể về bố cục nội dung và các quy định trong cách trình bày của mỗi tập, bảo đảm ngay từ khi bắt đầu thực hiện, Ban Biên soạn của các đề tài cùng triển khai trên một quỹ đạo thống nhất.

Kinh phí thực hiện Đề án được cấp bởi Quỹ Nafosted. “Đây cũng là một trong các nhiệm vụ khoa học công nghệ đầu tiên thực hiện theo phương thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng”, Thứ trưởng Phạm Công Tạc nói.

Tại lễ tiếp nhận, đại diện các nhóm nghiên cứu đã báo cáo về quá trình thực hiện cũng như nội dung của từng nhiệm vụ trong Đề án. Thứ trưởng Phạm Công Tạc cho biết sau tiếp nhận bản thảo, sau đó sẽ tổ chức thẩm định chuyên gia, đánh giá nghiệm thu các đề tài thuộc đề án.

“Các đề tài tiếp tục điều chỉnh bản thảo theo ý kiến chuyên gia và kết luận của Hội đồng khoa học, đối chiếu giữa các tập Chính sử, Biên niên, để bảo đảm chất lượng biên soạn, tính thống nhất của bộ Quốc sử trước khi đưa vào biên tập xuất bản”, Thứ trưởng Phạm Công Tạc cho biết.

GS Nguyễn Văn Khánh (bìa phải) bàn giao bản thảo cho ông Đỗ Tiến Dũng, Giám đốc Quỹ Nafosted. Ảnh: Đình Nam.
GS Nguyễn Văn Khánh (bìa phải) bàn giao bản thảo cho ông Đỗ Tiến Dũng, Giám đốc Quỹ Nafosted. Ảnh: Đình Nam.

Phát biểu tại sự kiện, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng chưa có đề tài nào sau bước nghiệm thu cấp cơ sở lại có lễ bàn giao. Trong hàng nghìn đề tài, nhiệm vụ cấp Nhà nước nếu kể về số nhà khoa học tham gia, kinh phí lớn hơn, trang tài liệu sẽ có nhiều đề tài có số lượng nhiều hơn nhưng với đề tài này có nhiều điểm đặc biệt, thu hút sự quan tâm bởi ý nghĩa sự trân trọng quá khứ, các thời đại đã qua.

Phó Thủ tướng cho rằng, việc nghiên cứu để ra sản phẩm là một bộ Quốc sử, Bách khoa thư… mới hoàn thành nhiệm vụ cấp cơ sở. Sẽ còn nhiều bước tiếp theo để đi đến bước cuối cùng để xuất bản. Nhưng kết quả được bàn giao ngày hôm nay là sự đóng góp không mệt mỏi của các nhà khoa học lịch sử, trong đó có cố GS Phan Huy Lê. “Các nhà khoa học, lịch sử tạo nên sản phẩm là kết tinh của “hồn thiêng sông núi” để tồn tại mãi với thời gian”, Phó Thủ tướng nói.

Bích Ngọc