Tuyên Ngôn Độc Lập VNDCCH

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

 Bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam được Hồ Chí Minh soạn thảo, và đọc trước công chúng tại vườn hoa Ba Đình (nay là quảng trường Ba Đình) ngày 2 tháng 9 năm 1945. Đây được nhiều người xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ ba của lịch sử Việt Nam, sau bài thơ thần Nam quốc sơn hà ở thế kỷ X và Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi viết năm 1428.

Lịch sử

Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp từ giữa thế kỷ 19. Trong Chiến tranh thế giới thứ haiĐế quốc Nhật Bản đã thay Pháp chiếm đóng Việt Nam từ năm 1940. Khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh giữa năm 1945, Việt Minh có cơ hội lớn để chiến thắng. Cơ hội này đã được Việt Minh tận dụng.

Sáng ngày 26 tháng 8 năm 1945, tại ngôi nhà số 48 Hàng NgangHà Nội, Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong số các quyết định của cuộc họp này, Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ Lâm thời ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 30 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh mời một số người đến góp ý cho bản Tuyên ngôn độc lập do ông soạn thảo.[5]31 tháng 8 năm 1945, ông bổ sung thêm cho dự thảo Tuyên ngôn độc lập[5] và đến 2 tháng 9 năm 1945, ông đọc bản Tuyên ngôn độc lập trong cuộc mít tinh trước hàng chục vạn quần chúng, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cuối tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh lo chuyện tác động đến các lãnh đạo của phe Đồng Minh theo hướng công nhận nền độc lập của Việt Nam, cũng như chuyện ông phải nắm quyền lực nhà nước hoặc phải tự thể hiện bản thân như là biểu tượng dân tộc của sự thống nhất và tự quyết. Hồ Chí Minh đã lựa chọn một cách tiếp cận hoàn toàn khác với các vua, chúa trước đây của Việt Nam khi ông trực tiếp đọc bản Tuyên ngôn chứ không cần thông qua bên bên trung gian nào đó. Điều này cũng khác hẳn với Đế quốc Việt Nam, bên đã không triệu tập một buổi đọc bản Tuyên ngôn độc lập có sự tham gia của quần chúng. Còn lễ thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại, cựu hoàng dường như không được mời nói chuyện trước công chúng cho đến lúc đọc lời tuyên bố thoái vị đầy cảm xúc trước đám đông ở cổng Ngọ Môn tại Huế vào ngày 30 tháng Tám. Cái cách Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn cũng phảng phất nét tương đồng với không khí lộng lẫy và hoành tráng của các buổi lễ chính trị tại Tây Âu, Hoa Kỳ và Liên Xô. Hồ Chí Minh đã lựa chọn quảng trường Puginier, sau này được gọi là quảng trường Ba Đình, một nơi rộng rãi không bị các chướng ngại vật che khuất tầm nhìn nhằm đủ chỗ chứa lượng khán thính giả càng nhiều càng tốt dù chỉ có vài ngày thông báo. Đối với đồng bào Công giáo, ngày hôm đó cũng là ngày “Lễ hội những người tử vì đạo Việt Nam” của Công giáo, tưởng niệm những người đã chết vì đức tin của mình, đặc biệt vào thế kỉ 19, nên các nhà thờ ở Hà Nội buổi sáng đó tràn ngập người tham dự thánh lễ. Việc lựa chọn ngày 02/09 của Hồ Chí Minh còn nhằm gắn kết chính quyền mới với phía Giáo hội Thiên chúa giáo. Các linh mục sau buổi lễ của mình đã cùng các con chiến hướng về Quảng trường Ba Đình để tham dự buổi lễ. Những nhà sư trụ trì ở những ngôi chùa cũng làm tương tự vậy. Các giáo viên trang bị còi hay loa dẫn đầu đám trẻ con hát những bài ca cách mạng. Đám thanh niên đặc biệt chú ý đến cách những lá quốc kì đỏ rực mà những nhóm thiếu nữ đang cầm tương phản với những chiếc áo dài trắng tinh khôi. 

Nội dung bản tuyên ngôn 

Bản tuyên ngôn gồm 3 phần:

  • Phần 1: Cơ sở pháp lý của bản tuyên ngôn.
  • Phần 2: Cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn.
  • Phần 3: Lời tuyên bố độc lập.

Toàn văn bản tuyên ngôn 

Hỡi đồng bào cả nước,Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!Vì những lẽ trên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Những người ký tên gồm: Hồ Chí Minh (chủ tịch), Trần Huy LiệuVõ Nguyên GiápChu Văn TấnDương Đức HiềnNguyễn Văn TốNguyễn Mạnh HàCù Huy CậnPhạm Ngọc ThạchNguyễn Văn XuânVũ Trọng KhánhPhạm Văn ĐồngĐào Trọng KimVũ Đình HòeLê Văn Hiến.

Diễn biến ngày 02 tháng 9 năm 1945 

Theo tường thuật của nhà báo Hồng Hà, báo Cứu quốc của Việt Minh, ông Nguyễn Hữu Đang đọc chương trình buổi lễ và giới thiệu Chính phủ lâm thời, chủ tịch Chính phủ đọc Tuyên ngôn độc lập, các thành viên Chính phủ tuyên thệ, ông Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng Bộ Nội vụ giãi bày tình hình trong nước và nhiệm vụ của Chính phủ, ông Trần Huy Liệu tường trình vào Huế nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại, ông Nguyễn Lương Bằng đại biểu của Tổng bộ Việt Minh thuật qua lại cuộc tranh đấu của Việt Minh để mưu giải phóng cho dân tộc…. Sân khấu được làm vội vã từ gỗ và được trang hoàng bằng lớp vải trang trí trắng và đỏ, do đó cho phép hầu hết khán thính giả có thể thấy được những vị lãnh đạo mới của mình, dù chỉ như những chấm li ti. Hồ Chí Minh và các đồng sự của mình đã cố gắng truyền trực tiếp bản Tuyên ngôn độc lập đến mọi miền Tổ quốc nhưng các vấn đề kỹ thuật lúc đó đã không cho phép điều này diễn ra. Mặc dù đã ở nước ngoài trong suốt hơn 30 năm nhưng phong cách nói tiếng Việt của Hồ Chí Minh vẫn đầy tự tin và mạnh mẽ. Bản tuyên ngôn độc lập có độ dài vừa đủ do những người Việt tham gia buổi lễ hôm đó phần lớn còn chưa tiếp xúc với hoạt động mít-ting kiểu châu Âu như thế này bao giờ. Ngày mùng 2 tháng 9 năm đó, nhiều gia đình đã dọn dẹp nhà cửa và chuẩn bị đốt pháo để ăn mừng buổi lễ.

Từ Phủ Toàn quyền, Jean Sainteny, viên chức cao cấp của nước Pháp Tự do (Free French) – nước Pháp sau khi được giải phóng khỏi Phát-xít Đức – có mặt ở Hà Nội, đã quan sát hàng chục ngàn người Việt Nam đi thành từng hàng băng qua đại lộ Brière-de-l’Isle để tiến vào quảng trường. Jean Sainteny ngạc nhiên trước sự tham gia công khai của giới Công giáo và sửng sốt trước sự trật tự của đám đông, không có bất kì hành vi gây rối nào. Không ai có cử chỉ thù địch đối với Jean Sainteny hay đối với tòa nhà phủ Toàn quyền.[10]Vấn đề an ninh cũng được suy xét đáng kể, với đội quân danh dự của Quân Giải phóng đảm bảo không ai trong số khán thính giả có thể tới gần khán đài trong phạm vi 20 mét, những công nhân và sinh viên có vũ trang cũng được xếp đặt tại mọi góc của mấy khu vườn, và một đơn vị tự vệ cảnh giác trước bất kì sự quấy rối nào từ hướng Thành Hà Nội nơi quân Pháp vẫn còn bị Nhật giam giữ. Trước cuộc mít-tinh, lính Nhật ở khu đất thuộc Phủ Toàn quyền đã thiết lập mấy khẩu súng máy chĩa về quảng trường, làm những nhà tổ chức phải dựng lên một bức màn người gồm những dân quân tự vệ với chỉ thị thà chết còn hơn rút lui.

Mặc dù chương trình được mong đợi bắt đầu vào đúng 2 giờ chiều, nhưng xe hơi chở các thành viên trong nội các Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đến trễ hai mươi lăm phút khi phải đi xuyên qua các đám đông. Hồ Chí Minh dẫn đầu những người còn lại bước nhanh lên khán đài, điều làm ngạc nhiên nhiều người đứng xem vì họ mong chờ những người cầm quyền sẽ di chuyển với phong thái từ tốn và trang nghiêm. Trong khi hầu hết các đồng sự của ông trên khán đài đều mặc đồ vest Tây và thắt cravate, nhưng ông Hồ cố ý chọn mặc bộ đồ khaki phai màu với cổ cao và mang đôi dép cao su trắng. Sau lễ chào cờ và hát quốc ca, Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Nội vụ, bước tới micrô giới thiệu Hồ Chí Minh, người được chào mừng bằng những tiếng hô vang dội được sắp xếp trước, “Độc lập! Độc lập!” Ông Hồ vẫy tay trước khán thính giả trong vài phút, đoạn nâng hai bàn tay lên để kêu mọi người im lặng. Bằng giọng Nghệ Tĩnh đặc trưng, ông Hồ lúc đó bắt đầu đọc Tuyên ngôn Độc lập. Một mối liên kết và sự thể hiện lòng tôn trọng đối với người dân mà chưa từng có vị quân vương Việt Nam nào trong lịch sử thể hiện đã được tạo ra khi Hồ Chí Minh có những tương tác với quần chúng khi ông hỏi: “Đồng bào có nghe rõ không?” và đám đông đồng thanh hô vang “Rõ!”.

Trong buổi lễ này, thông qua bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh cũng đã kêu gọi các nước Đồng minh ủng hộ nền độc lập chân chính do nhân dân Việt Nam vừa tự tay giành được thông qua Cách mạng tháng Tám. Ông tuyên bố rằng Chính phủ lâm thời đã huỷ bỏ hết mọi hiệp ước do Pháp kí trong quan hệ với Việt Nam và bãi bỏ hết mọi đặc quyền của người Pháp. Ông cảnh báo rằng người Việt “kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”. Kết thúc bài phát biểu của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu từng bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời với quần chúng nhân dân và tất cả đều làm lễ tuyên thệ nhậm chức. Võ Nguyên Giáp khi đó bước tới và đọc một diễn văn dài đầy vẻ nghiêm trang để tô điểm thêm cho bản Tuyên ngôn. Sau đó, Trần Huy Liệu, bộ trưởng bộ thông tin và tuyên truyền, báo cáo trước khán thính giả về buổi lễ thoái vị của Bảo Đại ở Huế ba ngày trước đó, và rồi trao thanh kiếm hoàng gia và ấn cho Hồ Chí Minh. Là một người có khả năng ăn nói thiên bẩm, Trần Huy Liệu dường như đã làm cho đám đông cười ồ lên và vỗ tay khi mô tả sự cáo chung của chế độ quân chủ. Hòa vào bối cảnh đó, ông Hồ tuyên bố rằng thanh kiếm, trước đây được dùng để đàn áp dân chúng, giờ đây sẽ được dùng để “chặt đầu kẻ phản bội”.[16] Đại diện cho Tổng bộ Việt Minh là Nguyễn Lương Bằng sau đó nói ngắn gọn về nhu cầu cần thống nhất và đấu tranh, phát biểu thẳng thừng rằng đánh Pháp là chuyện cần thiết. Vào một thời điểm nào đó giữa buổi lễ lúc chiều, hai chiếc máy bay Tia chớp P-38 của Mỹ sà xuống thấp ngay trên đám đông, một sự kiện được tuyên bố ngay tức thì và ai cũng tin là đại diện cho lời chào mừng của Mỹ dành cho chính quyền non trẻ của Việt Nam. Cuối cùng, trước khi kết thúc buổi lễ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chúng ta sẽ phải trải qua nhiều khốn khó và đau khổ hơn nhiều. Đồng bào phải ủng hộ chính quyền, để sau này có thêm nhiều buổi ăn mừng và thắng lợi!” Buổi lễ kết thúc bằng việc đoàn người có tổ chức ở quảng trường sau đó diễu hành ra phố, giải tán ở hồ Hoàn Kiếm, và gia nhập vào bầu không khí vui chung cho đến giờ giới nghiêm.

Tại Sài Gòn

Vào thời điểm đó, do hạn chế về phương tiện kỹ thuật nên các diễn biến ở Hà Nội không được truyền đến Sài Gòn nhưng từ bài diễn văn ứng khẩu của Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ Trần Văn Giàu, nhân dân miền Nam nói chung và nhân dân Sài Gòn nói riêng đã thể hiện lòng quyết tâm ủng hộ cách mạng, ủng hộ mặt trận Việt Minh, bảo vệ nền độc lập non trẻ của Việt Nam.[20]

Lễ đài lễ độc lập 2-9-1945 tại Sài Gòn đặt trên đường Cộng Hòa (nay là đường Lê Duẩn), ngay phía sau nhà thờ Đức Bà. Hầu hết người dân Sài Gòn đều đổ ra đường, thành một biển người chưa từng thấy ở thành phố này. Cờ rợp trời: cờ đỏ sao vàng của Việt Minh, cờ các nước đồng minh, cờ của các đoàn thể. Khẩu hiệu giăng đầy các con đường lớn: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm!”, “Đả đảo thực dân Pháp!”, “Độc lập hay là chết!”… bằng năm thứ tiếng: Việt, Hoa, Anh, Pháp, Nga.

Lễ độc lập cử hành đúng 14g chiều. Nhưng mới 12g trưa, dưới mặt trời đứng bóng, các đoàn thể dân chúng, các toán dân quân từ trong các trụ sở ở Châu Thành, từ các vùng ngoại ô kéo về đại lộ Cộng Hòa (tức đại lộ Norodom vừa đổi tên) tập trung sau nhà thờ Đức Bà. Buổi lễ bắt đầu bằng nghi thức chào quốc kỳ. Lúc đó, bản Tiến quân ca của Văn Cao chưa được phổ biến trong Nam nên ban quân nhạc cử bài Quốc tế ca và bản Thanh niên hành khúc, nhạc của Lưu Hữu Phước

Theo thông báo của ban tổ chức buổi lễ, đúng 14g chiều hôm ấy, tại quảng trường Ba Đình ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Đài tiếng nói Việt Nam (lúc đó đặt tại Bạch Mai nên còn gọi là Đài Bạch Mai) sẽ trực tiếp truyền thanh buổi lễ ở Hà Nội trên làn sóng 32m. Ban tổ chức sẽ tiếp sóng Đài Bạch Mai để đồng bào Sài Gòn nghe bản Tuyên ngôn độc lập qua hệ thống loa phóng thanh đặt dọc theo đường Cộng Hòa và các ngả đường gần đó.

Tuy nhiên, việc tiếp sóng không thành công. Nửa giờ trôi qua, dân chúng bắt đầu bàn tán xôn xao. Một số người cảnh giác đặt ra nghi vấn: phải chăng có kẻ phá hoại? Mặc dù hoài nghi này không có chứng cớ, song trong bối cảnh lúc đó nó vẫn thuyết phục được nhiều người. Mãi về sau này người ta mới biết lý do của sự cố này: đài phát của ta quá yếu, máy thu của ta quá cũ, thời tiết chiều hôm ấy lại xấu.

Để trấn an quần chúng, ban tổ chức buổi lễ đề nghị ông Trần Văn Giàu phát biểu. Ông Trần Văn Giàu suy nghĩ vài phút, ghi vội lên giấy mấy ý chính, rồi bước lên lễ đài, ứng khẩu một bài diễn văn. Lúc đó, các nhà báo chưa sử dụng máy ghi âm nên ghi lại bài diễn văn bằng phương pháp tốc ký để công bố toàn văn trên các báo xuất bản ở Sài Gòn ngày hôm sau.

Mở đầu, ông Trần Văn Giàu tuyên bố một đổi thay lớn trong lịch sử nước nhà sau Cách mạng Tháng Tám: “Việt Nam từ một xứ thuộc địa đã trở thành một nước độc lập. Việt Nam từ một đế chế đã trở thành một nước cộng hòa. Việt Nam đương tiến bước trên đường sống”. Song cuộc hồi sinh của dân tộc đang bị kẻ thù đe dọa: “Kẻ địch toan tính một cuộc âm mưu gác lại ách nô lệ trên cổ 25 triệu đồng bào… Chúng tôi đã nắm được bằng cớ chắc chắn là họ toan dùng võ lực thình lình lật đổ chính phủ dân chủ cộng hòa để đặt lại một quan toàn quyền như thuở trước”.

Do đó, ông khuyên đồng bào hãy đề cao cảnh giác: “Mừng thắng lợi, nhưng đồng bào chớ say sưa vì thắng lợi. Bởi vì Việt Nam yêu quí của chúng ta đương gặp một tình cảnh nguy nan. Không khéo lo, nước ta dân ta có thể bị tròng lại ách nô lệ”.

Ông Trần Văn Giàu hỏi những người dự lễ: “Đồng bào ở đây có ai thừa nhận một quan toàn quyền cai trị xứ ta không? Có ai chịu bó tay để cho chế độ thực dân – ra mặt hay giấu mặt – trở lại không?”. Sau mỗi câu hỏi của ông, cả triệu người đồng thanh đáp lại: “Không! Không! Không!” vang dội một góc trời.

Tiếp sau sự đồng tâm ấy, ông Trần Văn Giàu nhắc lại những điều đã nói với đại diện chính phủ Pháp:

“Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng ký kết với Cộng hòa Pháp những hiệp ước cộng tác về kinh tế, về văn hóa, luôn về binh bị nữa, nếu Pháp công khai thừa nhận quyền độc lập của chúng tôi. Nhược bằng trái lại, các người kể chúng tôi như tôi mọi thì liên hiệp với dân chúng cách mạng Pháp, chúng tôi thề chết (chứ) không nhượng bộ trước bất cứ một sự hăm dọa hay khiêu khích nào”. Thay mặt hàng triệu người dân Nam bộ, ông nói lên quyết tâm bảo vệ tổ quốc: “Chúng ta thề cương quyết đứng bên cạnh chánh phủ, chống mọi sự xâm lăng, dầu chết cũng cam lòng”.

Ông kết thúc bài diễn văn bằng lời kêu gọi: “Quốc dân hãy sẵn sàng chiến đấu!… Đứng lên! Ngày độc lập bắt đầu từ nay! Tiến tới, vì độc lập, vì tự do, tiến tới mãi! Không một thành lũy nào ngăn nổi chí của muôn dân trên đường giải phóng!”.

Ý nghĩa 

Về mặt chính trị, bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Đây là biểu tượng cho việc chấm dứt sự cai trị của các thế lực ngoại quốc ở Việt Nam. Bản tuyên ngôn đã đưa tới cho người đọc và người nghe một thế giới quan kịch tính, một lịch sử cô đặc, một vài khẳng định táo bạo, những cụm từ sinh động, và hình tượng đầy cảm xúc. Trong bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên liệu được việc Pháp sẽ quay lại và Hoa Kỳ sẽ can thiệp vào Việt Nam. Bản Tuyên ngôn độc lập đã nêu bật các giá trị bình đẳng giữa các quốc gia, các quyền cơ bản của con người và của các dân tộc, quyền tự quyết dân tộc và quyền được hưởng độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia. Bản Tuyên ngôn Độc lập đã tố cáo và lên án những tội ác man rợ của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam về các mặt chính tri, kinh tế, văn hóa… Đồng thời khẳng định, Việt Nam – một nước thuộc phe Đồng minh trong Chiến tranh Thế giới thứ hai – đã giành độc lập sau khi chiến thắng Phát-xít Nhật Bản, trước đó người Pháp đã hai lần trao quyền đại diện và bảo hộ đối với Việt Nam cho Phát-xít Nhật nên Pháp không còn đủ tư cách để đại diện cho nhân dân Việt Nam nữa. Bản Tuyên ngôn Độc lập còn khẳng định với thế giới cơ sở pháp lý về quyền của dân tộc Việt Nam được hưởng tự do độc lập, đồng thời cũng vạch ra cơ sở thực tế là Việt Nam đã là một nước tự do và độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ nước nào. Đồng thời, bản Tuyên ngôn cũng khẳng định nhân dân Việt Nam sẽ giữ nền độc lập, tự chủ mới giành được bằng mọi giá. Bản tuyên ngôn độc lập để thể hiện sự tôn trọng ngoại giao mà Hà Nội dành cho Paris và Washington khi Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập Mỹ 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp 1791. Việc này đã tạo ra bức tranh đối lập giữa những lý tưởng mà Pháp và Mỹ vẫn đang cổ súy với thực tại đau khổ trong 80 năm Việt Nam bị Pháp cai trị.

Cách mạng Tháng Tám và ý nghĩa của độc lập, tự do

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/thanh-tuu-nhan-quyen-viet-nam/cach-mang-thang-tam-va-y-nghia-cua-doc-lap-tu-do-631945

QĐND – Cách mạng Tháng Tám (CMT8) có giá trị vĩ đại không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại. Thế nhưng hiện nay, vẫn có thế lực từ bên ngoài với tâm địa đen tối, bằng những lập luận thiếu tử tế hòng xuyên tạc và phủ định giá trị của CMT8.

Họ cho rằng không cần phải làm CMT8 vì với xu thế chính trị sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thực dân Pháp rất muốn và sẽ tự trao trả độc lập cho Việt Nam. Hơn nữa, họ còn cho rằng dân tộc Việt Nam cũng không cần độc lập mà cứ là một thuộc địa của Pháp thì sẽ phát triển hơn. Đáng buồn và đáng giận là vẫn có những người Việt Nam thuộc thế hệ sau được hưởng thành quả từ xương máu của thế hệ đi trước, nhưng vì thiếu hiểu biết, suy nghĩ nông cạn đã bị ảnh hưởng từ những thông tin sai trái, để rồi có những lời lẽ vô ơn khi nhắc tới CMT8. 

Đầu tiên cần phải khẳng định, thắng lợi của CMT8 năm 1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử của dân tộc ta, đất nước ta. Thắng lợi này đã chính thức chấm dứt ách đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp đối với nước ta, mở ra kỷ nguyên độc lập, lần đầu tiên tên nước Việt Nam có trên bản đồ thế giới, với tư cách và vị thế của một quốc gia-dân tộc độc lập, có chủ quyền. Về ý nghĩa vĩ đại của CMT8, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: “Lịch sử dân tộc ta có nhiều thời kỳ rất vẻ vang. Nhưng trước ngày CMT8, dân tộc ta đã phải trải qua gần một thế kỷ vô cùng tủi nhục. Trên địa đồ thế giới, tên nước ta đã bị xóa nhòa dưới bốn chữ “Đông Dương thuộc Pháp”. Thực dân Pháp gọi đồng bào ta là lũ Annamít dơ bẩn. Thiên hạ gọi chúng ta là vong quốc nô… CMT8 thành công. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Nhân dân ta tự làm chủ vận mạng của mình. Tên tuổi của nước ta lại lừng lẫy khắp năm châu, bốn biển”(1). CMT8 cũng trở thành nguồn động viên to lớn để nhiều dân tộc thuộc địa đứng lên giành độc lập.

Ngày 19-8-1945, sau cuộc mít tinh tại Quảng trường Nhà hát lớn, quần chúng nhân dân Thủ đô đã đánh chiếm Bắc Bộ phủ, cơ quan đầu não của chính quyền tay sai Pháp ở Bắc Bộ. Cách mạng Tháng Tám mở ra một thời đại mới ở Việt Nam – thời đại nhân dân Việt Nam làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của chính mình. Ảnh: TTXVN

Thực tế là Việt Nam giành chính quyền từ tay phát xít Nhật chứ không phải từ thực dân Pháp. Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc nêu rõ rằng, thực dân Pháp “đã bán nước ta hai lần cho Nhật”. Đó là “mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương… thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật”. Rồi ngày 9-3-1945, phát xít Nhật đã đảo chính, hất cẳng thực dân Pháp không chỉ ở Việt Nam mà toàn cõi Đông Dương. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Sau đó, phát xít Nhật đã dựng lên một chính phủ bù nhìn do Trần Trọng Kim đứng đầu. Chính phủ này chỉ tồn tại trên giấy, không làm gì và cũng không thể làm gì. Mọi quyền hành đều trong tay phát xít Nhật.

Như thế, câu chuyện thực dân Pháp trả độc lập, tự do cho Việt Nam là điều hoàn toàn nực cười cả về pháp lý, đạo lý và thực tế lịch sử. Vì người ta không thể “cho” hay “trả” cái mà người ta không có.

Và thực dân Pháp có muốn trả độc lập, tự do dân tộc Việt Nam không? Thực dân Pháp không bao giờ muốn! Lịch sử đã cho thấy rõ ràng! Khi thế cuộc của Chiến tranh thế giới thứ hai đã rõ ràng với chiến thắng của phe Đồng minh, thực dân Pháp đã có mưu đồ quay trở lại xâm lược nước ta.

Ngay sau khi nước ta giành độc lập, thực dân Pháp theo chân quân Mỹ, Anh vào Nam Bộ để giải giáp quân Nhật. Ngày 23-9-1945, quân Pháp bất ngờ tấn công để lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ tại Nam Bộ. Nam Bộ bị quân Pháp dìm trong bể máu.

Độc lập, tự do của nhân dân ta ở Nam Bộ chỉ không đầy một tháng lại bị thực dân Pháp tước đi. Cả Nam Bộ đứng lên kháng chiến để đánh đuổi quân Pháp. Sau khi tấn công chiếm Nam Bộ, Pháp tiếp tục đưa quân ra miền Bắc, liên tục khiêu khích, đòi tước vũ khí của Quân đội ta. Nhiều lần Chính phủ ta đã tỏ thiện ý thương lượng, đàm phán, với sự nhân nhượng vì mong muốn duy trì hòa bình, tránh đổ máu cho dân tộc nhưng không thể được trước tâm địa đen tối của thực dân Pháp quyết cướp nước ta một lần nữa. Quân Pháp quyết gây chiến tranh khi liên tiếp gây ra các vụ thảm sát tại Hải Phòng và Hà Nội.

Sau đó, ngày 18-12-1946, thực dân Pháp gửi hai tối hậu thư liên tiếp, đòi tước vũ khí của Quân đội ta. Đến ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Cả dân tộc đứng lên trường kỳ kháng chiến 9 năm để đánh đuổi thực dân Pháp, kết thúc bằng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Hiệp định Geneva được ký kết. Thế nhưng thực dân Pháp rút đi thì đế quốc Mỹ cũng ngay lập tức thế chân tại miền Nam, với mưu đồ biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới và để từ đó tấn công phá hoại miền Bắc.

Lịch sử đã chứng minh rằng, các nước thực dân, đế quốc luôn muốn đặt ách thống trị tại Việt Nam, không bao giờ muốn nước ta được độc lập, nhân dân ta được tự do. Từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, dân tộc ta đã phải anh dũng, kiên cường chiến đấu suốt 30 năm nữa, đổ bao xương máu mới có được độc lập, tự do, thống nhất trên cả nước.

Ấy thế mà ngày nay, vẫn có những kẻ muốn lừa bịp giới trẻ, vẽ ra ảo tưởng thực dân, đế quốc tốt bụng, sẽ trao trả độc lập, tự do cho dân tộc ta, đem lại sung sướng, hạnh phúc cho nhân dân ta và chúng ta chẳng cần phải làm gì, chỉ trông chờ vào sự tốt bụng đó.

Nguy hiểm hơn, có những người mang dòng máu Việt Nam lại gieo rắc luận điệu cho rằng, nước ta chẳng cần độc lập để làm gì, mà cứ giữ là thuộc địa của Pháp có khi lại phát triển hơn, đời sống người dân sung sướng hơn. Luận điệu ấy chắc chắn chỉ có trong đầu óc của những kẻ thiếu tử tế và thiếu nhân cách. Suy nghĩ ấy là của những kẻ luôn muốn ăn bám và tư duy lệ thuộc. Đó là những kẻ không xứng đáng đứng trước tổ tiên để nhận mình là con cháu Việt Nam. Lịch sử oanh liệt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc cho thấy ý thức, khát vọng độc lập, tự chủ đã ăn sâu vào máu của mỗi người Việt Nam. Người Việt Nam, dân tộc Việt Nam sẵn sàng chiến đấu, hy sinh chứ quyết không chịu đặt dưới ách cai trị của dân tộc khác. Dân tộc Việt Nam cũng không chịu để kẻ thù cướp đi bất cứ tấc đất nào của cha ông để lại.

Khi đọc những lời lẽ hùng hồn trong bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh bất ngờ dừng lại và hỏi: “Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?”. Và cả triệu người đồng thanh đáp lại vang dội: “Có!”. Trong giờ phút ấy, chắc hẳn từ vị Chủ tịch nước cho tới từng người dân đều xúc động nghẹn ngào, nhiều giọt nước mắt đã rơi… Tại Sài Gòn (nay là TP Hồ Chí Minh), do hạn chế về kỹ thuật, không thể tiếp sóng phát thanh trực tiếp lời Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Lễ tuyên ngôn độc lập từ Quảng trường Ba Đình, do đó, ông Trần Văn Giàu, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Nam Bộ, Chủ tịch Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ đã được đề nghị lên phát biểu. Trong phát biểu của mình, ông Trần Văn Giàu cũng nêu rõ: “Việt Nam từ một xứ thuộc địa đã trở thành một nước độc lập… Việt Nam đương tiến bước trên đường sống”. Ông cũng đã chỉ rõ mưu toan của thực dân Pháp: “Kẻ địch toan tính một cuộc âm mưu gác lại ách nô lệ trên cổ 25 triệu đồng bào”. Ông đã hỏi những người dự lễ: “Đồng bào ở đây có ai thừa nhận một quan toàn quyền cai trị xứ ta không? Có ai chịu bó tay để cho chế độ thực dân-ra mặt hay giấu mặt-trở lại không?”. Sau mỗi câu hỏi của ông, cả triệu người đồng thanh đáp lại: “Không! Không! Không!” vang dội cả góc trời. Thay mặt hàng triệu người dân Nam Bộ, ông Trần Văn Giàu nói lên quyết tâm bảo vệ Tổ quốc: “Chúng ta thề cương quyết đứng bên cạnh Chánh phủ, chống mọi sự xâm lăng, dầu chết cũng cam lòng”(2).

Chính vì ý thức, khát vọng độc lập, tự do rất mãnh liệt như vậy nên dù trải qua bao thăng trầm của lịch sử, dân tộc ta vẫn giữ được bản sắc của mình, không bị đồng hóa như rất nhiều dân tộc khác trên thế giới này đã từng tồn tại và biến mất.

Cái ý nghĩ, mong muốn nhờ vào ngoại bang để có được hạnh phúc, phồn vinh đã bị không chỉ lịch sử Việt Nam mà còn là lịch sử nhân loại chứng minh sự sai lầm. Suy nghĩ sai lầm tai hại ấy không chỉ làm cho nhiều thế hệ hào kiệt, nhiều nhà cách mạng tiền bối của Việt Nam phải sa cơ, thất bại mà còn làm cho con đường cứu nước, giải phóng dân tộc của chúng ta kéo dài. Phải đến khi nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc tìm được con đường cứu nước chân chính, đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam thì sự nghiệp giải phóng dân tộc mới đi đúng hướng. Trong Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã viết: “Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

“Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” chính là thể hiện tinh thần, ý thức tự chủ, tự lực, tự cường của cuộc CMT8. Đó chính là phương thức cứu nước đúng đắn mà thế hệ trước đã tìm ra, đã thực hiện thành công và trao truyền lại cho thế hệ những người Việt Nam tiếp theo. Ngày nay, bài học vô giá phải trả bằng máu đó phải được tiếp tục khắc cốt ghi tâm trong những người con mang dòng máu Việt Nam. Dân tộc ta không thể phó mặc, không thể trông chờ vào bất cứ dân tộc nào, quốc gia nào để bảo vệ chủ quyền đất nước, để được độc lập, tự do. Dân tộc ta cũng không thể trông chờ vào bất cứ dân tộc, quốc gia nào để được hạnh phúc, phồn vinh, phát triển. Chúng ta trước hết phải dựa vào sức mình! Bằng tinh thần đoàn kết, bằng trí tuệ, ý chí, sức lực, lòng dũng cảm của mình, chắc chắn chúng ta sẽ làm được điều đó! Dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam sẽ trường tồn!

Đã gần 75 năm kể từ ngày lời Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang vọng trên Quảng trường Ba Đình. Việt Nam của chúng ta ngày nay đã rất khác xưa, đã là một đất nước độc lập, tự do, thống nhất, hòa bình, hạnh phúc và đang ngày càng phát triển. Với vị thế quốc gia của mình, Việt Nam có tiếng nói ngày càng có trọng lượng trên trường quốc tế, được bạn bè quốc tế lắng nghe, tin tưởng và nể trọng. Tất cả thực tế đó đã chứng minh những luận điệu xuyên tạc về CMT8 là hoàn toàn sai trái, không thể có chỗ đứng trong lòng những người Việt Nam chân chính và nhân loại có lương tri.   

HỒ QUANG PHƯƠNG

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 14, tr621, tr622.

(2) TS Phan Văn Hoàng, Báo Tuổi trẻ ngày 2-9-2006, Lễ Độc lập 2-9-1945 tại Sài Gòn.

NHỮNG NGƯỜI TRONG CUỘC GÂY MÂU THUẪN VỀ 30-4-1975

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

ĐÔNG LA

Trung tướng Phạm Xuân Thệ

Tôi đã dành khá nhiều thời gian cho ngày 30-4, nhưng với cả một hệ thống trong các lĩnh vực tuyên giáo, lịch sử, thông tin, văn chương, v.v… khổng lồ của cả một đất nước gần 100 triệu dân mà sau gần nửa thế kỷ người ta vẫn tranh cãi về nó, thì dù tôi có bỏ ra một, hai năm để “xem lại” cũng không phải là nhiều. Nhưng với thời đại internet thì không cần phải lâu thế. Dù vậy tôi thấy cũng khá rắc rối.

Khi ta xem một thông tin từ đài báo chính thống, tưởng một chuyện là như thế này, nhưng xem một thông tin từ chỗ khác đầy đủ hơn, ta lại thấy thông tin trước là sai.

Như xem một chương trình trên VTV1, phát thanh viên nói: “Trưa ngày 30/4/1975, chiếc xe tăng 843 bị mắc kẹt trước cổng dinh Độc Lập và chiếc 390 lao lên trước. Tất cả được nhà quay phim chiến trường Neil Davis ghi lại”.

Nhưng xem chương trình người khác làm thì chính Nhà báo Úc đó cho biết, đó là cảnh dựng lại mà ông có tham gia.

Vì vậy, để có thể nhận diện được sự thật, người ta cần phải có rất nhiều thông tin, cần phải có trí cao, tâm sáng và lương tri. Nếu không, chỉ biết một mẩu rồi phán, tất rất dễ sai lầm. Câu chuyện Ông Tùng, Ông Thệ, như Đại tá Nhà báo Đào Văn Sử viết, lẽ ra phải được khép lại ngay từ năm 1985, khi cấp tối cao là Ban Bí thư đã điều tra và Quân Đoàn 2 đã phải sửa lại lịch sử quân đoàn.

Có lẽ do chính hệ thống thông tin khổng lồ không làm tốt chức trách, như VTV còn bận làm game show kiếm tiền quảng cáo chẳng hạn, nên ngay những cựu chiến binh QĐ2, có mặt tại Dinh Độc lập trong ngày 30-4, cũng không biết chính xác lịch sử quân đoàn mình.Đại tá Phạm Ngọc Sơn, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 347, Quân khu 1, nguyên là Sỹ quan tác chiến Quân đoàn 2, luôn đi cùng Bộ chỉ huy tiền phương Quân đoàn gồm Tư lệnh Nguyễn Hữu An, Phó Tư lệnh Hoàng Đan, Phó Chính ủy Nguyễn Công Trang và đặc phái viên, Thiếu tướng Nam Long.

Trưa ngày 30-4-1975 ở dinh Độc lập, sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng ở đài phát thanh về, ông được lãnh đạo QĐ2 giao canh giữ Nội các DVM.

Là một người trong cuộc như vậy nhưng năm 2018, trong một cuộc phỏng vấn, ông nói: “Khi Sở chỉ huy quân đoàn vào thì lúc này các đồng chí Bùi Quang Thận đã cắm cờ rồi. Anh Thệ mới lại anh Tùng đã bắt, thực ra mà nói là anh Tùng, Bùi Văn Tùng , anh ấy là Chính uỷ Lữ đoàn 203, đã bắt DVM sang đài phát thanh rồi. Nhưng tôi không biết…”. Ông “không biết” như vậy nhưng cứ nói tự nhiên như thế, có sai về lịch sử Quân đoàn mình cũng chẳng sao!

Một nhân chứng khác còn sát sạt hơn thế, Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt, từng là chiến sĩ lái xe tăng 380 vào dinh Độc lập cùng với hai xe tăng 390 và 843 ngày 30/4/1975, đã viết trên facebook mà Trần Đăng Khoa đã trích dẫn trong bài “chửi” Phạm Xuân Thệ:“

Sự kiện 30-4-1975, lịch sử không bao giờ chấp nhận sự ngoắt ngoéo, mù mờ. Mặc dù cuộc hội thảo đã đưa ra kết luận song cái kết luận này lại gây ra phản ứng dữ dội từ một số nhân chứng và sự không đồng tình, không ‘tâm phục, khẩu phục’ trong dư luận chung. Cuộc bút chiến, tranh luận vẫn tiếp tục.

Ngay sau khi báo chí đưa tin nội dung kết luận của Viện Lịch sử quân sự, từ TP. Hồ Chí Minh, đại tá Bùi Văn Tùng đã lập tức phản ứng. Ông cho rằng ‘kết luận’ đó không khách quan, nghiêng về phía trung tướng Tư lệnh Quân đoàn Phạm Xuân Thệ và yêu cầu phải tiếp tục làm sáng tỏ sự thật lịch sử”.

Trong Thư ngỏ gửi Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, đề nghị xem xét việc tuyên dương danh hiệu AHLLVTND cho ông Bùi Văn Tùng, Nguyễn Khắc Nguyệt, với tư cách là Đại tá, Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, Trưởng ban liên lạc Hội CCB Lữ đoàn xe tăng 203, thay mặt Ban Liên lạc ký, đóng dấu ghi ngày 23/4/2020, có đoạn:“ngay khi có mặt tại dinh Độc Lập, chính ủy Bùi Văn Tùng đã trả lời Dương Văn Minh khi ông ta nói “đang chờ Quân giải phóng vào để bàn giao”: “Các ông đã bại trận! Các ông không còn gì để bàn giao cả mà phải đầu hàng vô điều kiện!”.

Ngay sau đó, chính ông đã quyết định đưa Dương Văn Minh – Tổng thống chính quyền Sài Gòn ra Đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng. Tại Đài phát thanh, ông đã thảo Lời tuyên bố đầu hàng để Dương Văn Minh đọc trước máy ghi âm và cũng chính ông thay mặt Quân giải phóng chấp nhận đầu hàng của chính quyền Sài Gòn”.

Như vậy, Nguyễn Khắc Nguyệt cũng “đếch cần biết chính xác” lịch sử Quân đoàn 2, cứ nói theo ý mình!Nguyễn Khắc Nguyệt còn viết sách: “Bút ký lính tăng HÀNH TRÌNH ĐẾN DINH ĐỘC LẬP”. Tôi đã chăm chú nghe hàng chục lần đoạn tác giả khắc hoạ cảnh các chiến sĩ xe tăng tiến công từ Cầu SG đến Dinh Độc lập, được đọc trên https://www.youtube.com/watch?v=9EgMxdPmFqg

Có nhiều chi tiết rất quan trọng nhưng ông Nhà Văn Đại tá đã viết khác với lời kể của những người trong cuộc.

Trong hành trình từ Cầu Sài Gòn đến Dinh Độc lập, đoạn từ Cầu SG đến Cầu Thị Nghè, ông viết xe dẫn đầu là xe 866 của trưởng xe Lê Tiến Hùng, nhưng BÙI THANH, trên báo Tuổi trẻ, trong loạt bài phỏng vấn Trưởng xe 843 Bùi Quang Thận, Trưởng xe 390 Vũ Đăng Toàn, v.v… , viết xe dẫn đầu là xe 387. Vậy xe của Lê Tiến Hùng là xe nào? https://tuoitre.vn/nhung-tieng-sung-cuoi-cung-76059.htm

Sau khi xe đi đầu của Lê Tiến Hùng bị trúng đạn, anh bị thương hi hữu ngay “chỗ ấy”, một chiến sĩ công binh hy sinh, Nguyễn Khắc Nguyệt viết xe 843 của anh Bùi Quang Thận lao lên dẫn đầu, xe 390 của anh Nguyễn Đăng Toàn đi thứ 2. Nhưng Bùi Thanh lại viết ngược lại, xe 390 dẫn đầu, 843 đi theo sau! Ở chi tiết này tôi tin Bùi Thanh hơn, vì viết theo lời kể của chính Nguyễn Đăng Toàn. Nếu Nguyễn Đăng Toàn không nhìn thấy xe anh Bùi Quang Thận lù lù đi trước, chẳng lẽ anh không nhìn thấy gì sao? Một người không nhìn thấy gì sao có thể chỉ huy được xe 390 húc đổ cổng chính lao vào sào huyệt quân địch đầu tiên? Còn nhảy xuống mang AK bảo vệ anh Thận chạy vào dinh treo cờ. Bùi Thanh còn hỏi Nguyễn Đăng Toàn: “Nhưng tại sao chiếc xe 843 đi sau lại húc vào cổng dinh Độc Lập trước? Nguyễn Đăng Toàn trả lời: “Chúng tôi đi lạc vì không biết đường. Xe 390 của chúng tôi cứ thẳng tiến theo đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) và không biết chính xác phải quẹo trái ở ngã tư nào để đến dinh”.

Khi xe 390 vượt qua luôn ngã tư Công Lý – Hồng Thập Tự, đến cổng Trường Lê Quý Đôn thì mới nhận ra sai, đã lùi lại! Trong cuốn sách, nhân vật lái xe 380 là Trang, vậy Trang chính là Nguyễn Khắc Nguyệt.

Theo tác giả, xe 380 bị thương nên chạy sau đoàn xe, và các chiến sĩ đều được chỉ dẫn trước, qua cầu Thị Nghè, đi qua 7 ngã tư, rẽ trái là sẽ tới Dinh Độc lập. Theo lời kể của cuốn sách và những người trong cuộc thì xe 843 của anh Thận đã rẽ trước ở ngã tư thứ 6, tức đến đường Pasteur; còn xe anh Toàn đi quá, vượt qua ngã tư thứ 7, tức vượt qua đường Công Lý (nay là Nam Kỳ khởi nghĩa, đường chạy ngang ngay trước dinh ĐL).

Về khoảnh khắc lạc đường này của xe 390, Nguyễn Khắc Nguyệt viết: “Tập… về số để quay đầu… tay kéo mạnh cần lái trái cho xe quay 180o về phía sau, quay lại ngã tư, rẽ phải vào một con đường…”. Nhưng nhân vật chính, Tập, lái xe 390, kể: “Sau đó là tôi cho xe lùi khoảng 10 m đánh vào tay trái rẽ về hướng Dinh ĐL”.

Ở SG đã 44 năm, tôi đã quá quen thuộc và qua lại không biết bao lần các địa danh trong sự kiện lịch sử 30-4, nhưng 10 giờ sáng qua (14-5-2020), tôi vẫn muốn kiểm chứng lại. Tôi đã lấy xe máy đi lại theo hành trình các chiến sĩ xe tăng 45 năm trước đến Dinh ĐL.

Theo cảm tính cứ nghĩ là xa, nhưng từ ngã tư Hàng Xanh đến Cầu Thị Nghè đi chỉ mất có 3 phút. Đến chỗ ngã tư Hồng Thập Tự (Giờ là Nguyễn Thị Minh Khai) – Công Lý (Giờ là Nam Kỳ khởi nghĩa), rồi đi một đoạn đến cổng trường Lê Quý Đôn, thì thấy đúng như lời Nguyễn Đăng Toàn và Nguyễn Văn Tập kể.

Có chi tiết khiến tôi đau đầu về khoảnh khắc này là Ngô Sĩ Nguyên, pháo thủ số 1 xe 390, trong chương trình “Người đương thời”, kể lúc xe mình và xe Bùi Quang Thận chạy gặp nhau từ hai hướng như “thước thợ”, Bùi Quang Thận từ Hồng Thập Tự tới, xe mình từ Công Lý tới, nghĩa là xe 390 phải chạy từ ngã tư Võ Văn Tần-Công Lý lên, và điểm hai xe gặp nhau là ngã tư Hồng Thập Tự – Công Lý chứ không phải là cổng Dinh ĐL.

Lời kể của Nguyên như vậy khác với lời kể của hai anh Toàn và Tập. Nghĩ mãi mới nhận ra, thì ra điểm hai xe gặp nhau mà anh Nguyên muốn nói chính là cổng Dinh Đl, vậy là anh đã nói nhầm, xe anh Bùi Quang Thận chạy từ đường Thống Nhất (nay là Lê Duẩn) tới chứ không phải Hồng Thập Tự.

Tất nhiên nói nhầm như anh Nguyên là bình thường vì quá khứ đã lùi xa và anh cũng không thuộc đường vì không sống ở SG. Sự viết sai của Nguyễn Khắc Nguyệt về chi tiết lái xe Tập lùi xe 390 không quan trọng về ý nghĩa, cũng là chuyện nhớ lầm bình thường như Ngô Sĩ Nguyên.

Nhưng ở chỗ khác, cũng chỉ là những chi tiết nhỏ, có điều tác giả không vô tình mà chủ ý nhầm, khiến xã hội hiểu sai về sự kiện và nhân vật lịch sử thì không thể là chuyện bình thường được. Như đoạn Nguyễn Khắc Nguyệt viết về xe 843, sau khi chết máy vì húc không đổ cổng phụ dinh Độc lập, đã khởi động lại được, và: “Trong xe 843 Hoả… lao vào sân dinh… Hoả tăng ga cho xe 843 chạy song song với xe 390. Hai chiếc xe như hai người lính cận vệ hai bên cho người đại đội trưởng của mình”.

Đây là cảnh không có ai thấy và không có thước phim hay tấm ảnh nào chứng thực, mà chỉ có một sự thực, nhiều lần Nguyễn Đăng Toàn và những người trên xe 390 kể, Bùi Quang Thận cầm cờ chạy sau xe mình!*** Về hai sự kiện chính mà hai ông đại tá, cựu chiến binh QĐ2, Phạm Ngọc Sơn và Nguyễn Khắc Nguyệt cho là công của ông Bùi Văn Tùng hết, xin trả lời hai ông.

-Thứ nhất, rất nhiều thước phim, hình ảnh, lời chứng chứng minh sự kiện quan trọng nhất trong ngày 30-4-1975 lịch sử, việc bắt sống TT Dương Văn Minh và nội các và áp giải sang đài phát thanh SG để tuyên bố đầu hàng, là của các anh Phạm Xuân Thệ, khi đó là Đại úy, Trung đoàn phó Trung đoàn Bộ binh 66, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2; Trung úy Nguyễn Văn Nhu (có nơi ghi Nguyễn Khắc Nhu), Trợ lý tác chiến; Trung úy Phùng Bá Đam, Trợ lý cán bộ; Chiến sĩ lái xe Đào Ngọc Vân; Binh nhất Nguyễn Huy Hoàng, Chiến sĩ Thông tin và Binh nhất Bàng Nguyên Thất.

Kể cả những nhân chứng mà những người bênh vực ông Bùi Văn Tùng dẫn ra cũng có trang viết chứng minh lời anh Thệ đúng nhưng họ đã cố tình cắt xén, như Borries Gallasch, trong cuốn Ho – Tschi – Minh Stadt, được viết từ năm 1975, đã viết: “Là một người châu Âu duy nhất, là một nhà báo duy nhất, tôi chứng kiến đại tướng Minh “lớn” – tổng thống của VN cộng hòa, đã bị bắt bởi Phạm Xuân Thệ, chỉ huy của đoàn Đông Sơn thuộc quân đội giải phóng. Tay cầm súng ngắn đã lên đạn, một khẩu K54 của Nga, Thệ rất phấn khích la lớn yêu cầu ông Minh ra đài phát thanh”.

Trần Đăng Khoa đăng lại bài của CAO MINH, với lời tán đồng: “TÔI ĐỒNG Ý VỚI TÁC GIẢ. BÀI VIẾT RẤT HAY. HAY VÀ ĐÚNG”, nhưng bài này cũng có đoạn chứng tỏ ông Bùi Văn Tùng nói sai khi nhận công bắt Dương Văn Minh, lời chứng của một cơ sở tình báo không quen anh Thệ nên càng khách quan:“Cơ sở tình báo có mặt lúc ấy là kỹ sư Tô Văn Cang mô tả: “…

Một bộ đội đội nón cối có huy hiệu sao vàng (sau này mới biết là đại úy Phạm Xuân Thệ, trung đoàn phó trung đoàn bộ binh 66) súng lên đạn cầm tay lăm lăm cùng hai trợ lý từ phía cầu thang giữa chạy lại. Nguyễn Hữu Hạnh nói ông Minh đã tuyên bố bàn giao chính quyền. Người bộ đội đẩy ra và la lớn: “Không có bàn giao gì hết. Hãy xếp hàng hai lại, nhanh lên!”. Cang giơ tay xin nói cũng bị ngăn lại và la: “Xếp hàng lại”. Cang vẫn mạnh dạn: “Không! Tôi là người của Mặt trận, thuộc đoàn 22, của tướng Ba Trân, bộ đội tiền phương”.

Chưa hết, ông Phạm Duy Đô, Trung úy Đại đội trưởng của Trung đoàn 116 đặc công, sáng ngày 30-4, cũng ngồi cùng xe với Đại úy Phạm Xuân Thệ, kể: “Sau khi xe tăng 390 húc đổ cổng dinh Độc Lập tiến vào bên phải xe tăng 843, anh Thệ và tôi đã rẽ trái vào. Khi xe dừng, tôi và các đồng đội nhảy xuống. Tôi lao lên ban công, rút là cờ trong túi ra phất báo hiệu cho các xe tăng tiến vào, rồi cắm lại cờ trên đó chạy xuống dưới. Khi tôi kéo rèm ra thì phát hiện Tổng thống Dương Văn Minh… Ngay lúc đó đồng chí Thệ đứng trước cửa không cho Dương Văn Minh và nội các chống trả hay bỏ trốn”.

Như vậy sự thật không như hai ông đại tá Phạm Ngọc Sơn và Nguyễn Khắc Nguyệt nghĩ. Có thể ông Bùi Văn Tùng khi gặp Dương Văn Minh cũng nói này nọ, nhưng như trong thể thao và tất cả các phát minh sáng chế, người ta chỉ công nhận người đầu tiên mà thôi!

Lão cựu chiến binh Bùi Văn Quyệt nói rất dí dỏm, rất dân dã, nhưng rất đúng: “Thưa Nhà thơ TĐK, không ai bắt được cá lại bỏ vào giỏ người khác, ông Tùng bắt ông Minh sao không đưa lên xe mình mà lại để lên xe ông Thệ? Không bao giờ có chuyện đó đâu vì ông Tùng khôn lắm! ”

-Thứ hai, chuyện sang đài, như tôi đã viết, anh Phạm Xuân Thệ đưa ông Minh đi đọc lời đầu hàng thì đến nơi tất phải soạn ngay, đâu biết có ông Tùng đi sau đâu mà đợi.

Thiếu tướng Hoàng Trọng Tình, Phó Chính ủy Quân khu 4, trong chiến dịch Hồ Chí Minh, làm chính trị viên tiểu đoàn 8, đơn vị đã đánh chiếm đài phát thanh Sài Gòn. Lời ông kể giống những người trong nhóm Phạm Xuân Thệ áp giải ông DVM kể nhưng đầy đủ hơn. Khoảng trưa, ông thấy xe Phạm Xuân Thệ đến đài phát thanh. Phạm Xuân Thệ cho ông biết đưa Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu đến để tuyên bố đầu hàng. Trong lúc chờ tổ trinh sát đi tìm nhân viên đài phát thanh thì ông thấy Phạm Xuân Thệ cùng các trợ lý Phùng Bá Đam, Đinh Thái Quang, Nguyễn Văn Nhu soạn thảo nội dung lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh.

Ông kể: “Anh Thệ là người chắp bút. Lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh được viết gần xong thì chúng tôi thấy một người cao lớn bước vào tự giới thiệu là Bùi Văn Tùng, chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203. Sau những lời chào hỏi, đồng chí Bùi Văn Tùng nói: “Vào dinh Độc Lập, tưởng các anh là người của quân đoàn thực hiện nhiệm vụ nên tôi không tham gia. Khi biết các anh là cán bộ Trung đoàn 66 đưa Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu sang đài phát thanh, tôi theo luôn”.

Đồng chí Thệ phấn khởi mời đồng chí Tùng cùng điều hành nhiệm vụ”.

Riêng ông Nguyễn Văn Nhu, trong một cuộc phỏng vấn đã nói, khi cùng nhóm soạn thảo, ông đã nhớ đến bộ phim “Giải phóng” của LX chiến thắng Phát xít Đức, nên ông đã góp ý là “thêm ý “đầu hàng vô điều kiện” vào”!

Như vậy, ông Phạm Xuân Thệ luôn nói sự thật, luôn nhắc đến sự đóng góp của tất cả đồng đội, và của cả chính ông Bùi Văn Tùng nữa, hoàn toàn không có chuyện mà TĐK lu loa là anh đã cướp công!15-5-2020

ĐÔNG LA

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954)

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ho-so-su-kien-nhan-chung/su-kien-va-nhan-chung/chien-thang-lich-su-dien-bien-phu-751954-3368

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là chiến thắng vĩ đại nhất, giáng đòn quyết định, tạo bước ngoặt làm thay đổi cục diện chiến tranh trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thắng lợi, thực dân Pháp được sự hỗ trợ của các thế lực đế quốc đã quay trở lại xâm lược nước ta. Ngày 19/12/1946, đáp lời Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, nhân dân Việt Nam đã anh dũng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống kẻ thù xâm lược.

Dựa vào sức mình là chính, với vũ khí thô sơ và tinh thần “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp. Đến năm 1953, chúng ta đã làm chủ trên các chiến trường, tạo ra sự so sánh lực lượng có lợi cho ta. Để cứu vãn tình thế, thu – đông năm 1953, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đã triển khai Kế hoạch Nava tăng cường binh lực và phương tiện chiến tranh, mưu toan trong vòng 18 tháng sẽ tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực của ta, kiểm soát lãnh thổ Việt Nam, giành lại thế chủ động trên chiến trường, làm cơ sở cho một giải pháp chính trị hòng tiếp tục sự chiếm đóng lâu dài. Khi phát hiện hướng tiến công chiến lược của ta vào Tây Bắc, Lai Châu và Thượng Lào, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã cho quân nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ, xây dựng nơi đây thành căn cứ quân sự kiên cố.

Lược đồ Chiến dịch Điện Biên Phủ

Về phía ta, tháng 9/1953, Bộ Chính trị họp bàn và quyết định mở cuộc tiến công chiến lược đông – xuân với phương châm: tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, chọn nơi sơ hở và nơi xung yếu của địch mà đánh, đẩy mạnh chiến tranh du kích, giữ vững thế chủ động, buộc địch phải phân tán lực lượng. Quân và dân ta đã phối hợp với quân và dân Lào, Campuchia liên tiếp mở chiến dịch và giành thắng lợi ở Lai Châu, Tây Nguyên, Trung Lào, Hạ Lào, Thượng Lào và Đông Campuchia, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng buộc quân Pháp lâm vào tình thế bị động chiến lược, phải phân tán lực lượng để đối phó trên khắp các chiến trường.

Điện Biên Phủ là cứ điểm có ý nghĩa chiến lược khống chế cả một vùng rộng lớn của Tây Bắc và Thượng Lào. Tuy nằm ngoài dự kiến ban đầu của Kế hoạch Nava, nhưng các tướng lĩnh Pháp và Mỹ đã tăng cường lực lượng, xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh. Ở đây tập trung 16.200 quân gồm 21 tiểu đoàn trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội không quân, 1 đại đội vận tải cơ giới. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được bố trí thành 3 phân khu Bắc, Trung, Nam với 49 cứ điểm, huy động toàn bộ lính dù và 40% lực lượng cơ động tinh nhuệ nhất của Pháp ở Đông Dương; hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm mỗi ngày có thể vận chuyển khoảng 200 đến 300 tấn hàng và thả dù từ 100 đến 150 quân, đảm bảo nguồn tiếp viện trong quá trình tác chiến. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là tập đoàn cứ điểm phòng ngự mạnh nhất của Pháp ở Đông Dương lúc bấy giờ, như “một pháo đài không thể công phá”, là nơi thu hút để tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta và là quyết chiến điểm của Kế hoạch Nava.

Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị họp và nhận định, đánh Điện Biên Phủ là một trận công kiên lớn nhất của quân đội ta từ trước tới nay và có ý nghĩa quân sự, chính trị và ngoại giao rất quan trọng. Trên tinh thần đó, Bộ Chính trị đã quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, thông qua phương án tác chiến, thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch, Đảng uỷ mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng uỷ chiến dịch. Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Mọi công việc chuẩn bị cho chiến dịch được tiến hành khẩn trương với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, các đơn vị bộ đội chủ lực nhanh chóng tập kết, bạt rừng, xẻ núi mở đường kéo pháo, xây dựng trận địa, sẵn sàng tiến công địch; dân công, thanh niên xung phong bất chấp bom đạn bảo đảm hậu cần phục vụ chiến dịch.

Ngày 25/1/1954, các đơn vị bộ đội ta ở vị trí tập kết sẵn sàng nổ súng theo phương châm tác chiến “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Nhưng nhận thấy địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự vững chắc, Bộ Chỉ huy và Đảng uỷ chiến dịch đã đưa ra quyết định mới: giữ vững quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thay đổi phương châm tác chiến sang “đánh chắc, tiến chắc”. Thực hiện phương châm mới, trận quyết chiến Điện Biên Phủ đã diễn ra trong 3 đợt:

Từ ngày 13 đến 17/3/1954, quân ta đã dũng cảm tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam và đồi Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía bắc của tập đoàn cứ điểm, diệt và bắt sống trên 2000 tên địch, phá hủy 25 máy bay, xóa sổ 1 trung đoàn, uy hiếp sân bay Mường Thanh.

17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954, bộ đội Việt Nam chiếm sở chỉ huy trung tâm, tướng Đờ Caxtơri cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ kéo cờ trắng ra hàng (Ảnh tư liệu)

Từ ngày 30/3 đến ngày 30/4/1954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía đông phân khu trung tâm, thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục tiến công, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho tập đoàn cứ điểm. Đây là đợt tấn công dai dẳng, dài ngày nhất, quyết liệt nhất, gay go nhất, ta và địch giành giật nhau từng tấc đất, từng đoạn giao thông hào. Đặc biệt tại đồi C1 ta và địch giằng co nhau tới 20 ngày, đồi A1 giằng co tới 30 ngày. Sau đợt tấn công thứ 2 khu trung tâm Điện Biên Phủ đã nằm trong tầm bắn các loại pháo của ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động, mất tinh thần cao độ.

Từ ngày 1/5 đến ngày 7/5/1954, quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía đông và mở đợt tổng công kích. Đêm ngày 6/5, tại đồi A1 trận chiến đấu giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, quân ta xông lên tiêu diệt từng lô cốt, nổ phá từng hầm ngầm. Tên quan tư chỉ huy đồi A1 và khoảng 400 tên địch còn sống sót đã ra đầu hàng. 17 giờ 30 phút ngày 7/5, ta chiếm sở chỉ huy trung tâm, tướng Đờ Caxtơri cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ kéo cờ trắng ra hàng. Lá cờ “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch. Ngay trong đêm đó quân ta tiếp tục tiến công phân khu Nam, đánh địch tháo chạy về Thượng Lào, đến 24 giờ toàn bộ quân địch đã bị bắt làm tù binh.

Tướng Đờ Caxtơri cùng toàn bộ Bộ Tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (Ảnh Tư liệu)

Sau 55 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ô tô và toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng của địch. Ngày 7/5/1954 trở thành ngày kỷ niệm kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là chiến thắng vĩ đại nhất, giáng đòn quyết định, tạo bước ngoặt làm thay đổi cục diện chiến tranh trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương; bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng tháng Tám; giải phóng miền Bắc, tạo cơ sở vững chắc để tiến lên giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã củng cố niềm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Chiến thắng Điện Biên Phủ mang tầm vóc thời đại, góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hoà bình, tiến bộ của nhân loại, đây là là chiến thắng chung của các nước trên bán đảo Đông Dương, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới. Chứng minh một chân lý của thời đại: các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược nếu có ý chí kiên cường và đường lối đúng đắn, sáng tạo, biết đoàn kết đấu tranh vì độc lập tự do thì dân tộc đó nhất định giành thắng lợi./.

Ban Tư liệu – Văn kiện (tổng hợp)

Điện Biên Phủ 1954: Gần 100 pháo đài bay B-29 của Mỹ đã sẵn sàng giải vây

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://www.bbc.com/vietnamese/forum-52520626

  • Tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng
  • Gửi tới BBC News Tiếng Việt từ Virginia, Hoa Kỳ
Getty Images

Ngày 5/04/1954, Đại sứ Mỹ Douglas Dillon đánh điện từ Paris về Washington:

“Tướng Navarre báo cáo rằng tình hình tại chiến trường này đang ở trong tình trạng bất quân bình trầm trọng… Với lực lượng đang được tăng cường, Việt Minh sẽ có thể mở cuộc tấn công mới vào giữa hay cuối tuần này. Nếu không được tiếp viện – từ đây tới lúc đó – thì số phận của Điện Biên Phủ coi như đã xong rồi.”

Gần một trăm máy bay B-29 của Mỹ đã chuẩn bị sẵn sàng, nhưng không bay vào giải vây. Pháp bại trận sau 56 ngày cầm cự.

02/09/1945: Liên Xô đã không ủng hộ Hồ Chí Minh

Đánh giá Điện Biên Phủ ‘khách quan hơn’

Hóa ra có tới hai ‘Tháng Tư Đen’

Sau Triều Tiên, Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower lo ngại

Tổng thống Eisenhower vừa lên cầm quyền, rất lo ngại Cộng sản đang đồng thời nhắm vào Đông Dương và Mã Lai Á.

Ông muốn đối phó với những đe dọa tại Đông Dương nhưng ông bị kẹt bởi hai chữ ‘thuộc địa.’ Muốn cho có danh chính, ngôn thuận, điều cần thiết là Pháp phải giải quyết vấn đề độc lập cho Việt Nam.

Trong thư gửi cho Thủ tướng Pháp René Mayer, TT Eisenhower yêu cầu hai điều: thứ nhất, “Tuyên bố cho thật rõ ràng và dứt khoát rằng Pháp đang trả quyền tự trị cho Đông Dương, và ‘tự do chính trị thực sự’ sẽ là một điều hiển nhiên sau khi chiến thắng với Cộng sản,” và thứ hai, gửi sang Việt Nam một tướng tài giỏi và nhiều kinh nghiệm giống như Tướng de Lattre (qua đời 1/1952) để làm tư lệnh thay cho Tướng Raoul Salan không hữu hiệu.

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Tổng thống Mỹ Eisenhower muốn Pháp gửi Tướng Jean E. Valluy hoặc Tướng Augustin Guillaume sang làm tư lệnh tại Việt Nam thay cho Tướng Raoul Salan

Eisenhower đề nghị hai người, Tướng Jean E. Valluy hoặc Tướng Augustin Guillaume.

Valluy là tướng đã đánh chiếm Hải Phòng hồi cuối năm 1946, Guillaume là Tổng Thanh tra quân đội Pháp ở Bắc Phi.

Nội các Trần Trọng Kim: 5 thành tựu trong 4 tháng

Băn khoăn về màu cờ cho Việt Nam năm 1945

Cuộc chiến ít biết của quân Anh ở Việt Nam

Nhưng đề nghị đến tay Mayer quá chậm vì ông đã chọn Tướng Henri Navarre rồi (1898-1983). Navarre chưa bao giờ chiến đấu ở Đông Dương.

Kế Hoạch Navarre

Navarre sang Việt Nam nhận chức ngày 20/05/1953.

Ông tung ra Kế Hoạch Navarre bắt đầu vào tháng 7/1953 với nhiều cuộc hành quân tương đối là thành công như Hirondelle (Con Nhạn) nhảy dù xuống Lạng sơn, Carmargue đánh vào vùng duyên hải giữa Quảng Trị và Huế, rồi mở đầu cuộc hành quân Mouette (Hải Âu) đánh vào phía Tây Bắc Ninh Bình. Cuộc hành quân này tương đối cũng thành công.

Con đường tới Điện Biên Phủ

Ngay từ khi tới Việt Nam, Tướng Navarre đã nghĩ đến việc tái chiếm Điện Biên Phủ, nơi mà Pháp đã rút đi từ ngày 30/11/1952.

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Tướng Navarre đã triển khai một số kế hoạch quân sự khá thành công tại Việt Nam từ 7/1953

Điện Biên Phủ là một làng hẻo lánh gần biên giới Lào còn gọi là Mường Thanh, một nơi Pháp cho là chiến lược. Navarre muốn tái chiếm nơi này để ngăn chận lực lượng Việt Minh từ miền Tây Bắc sắp sửa tiến sang Lào.

Để bảo vệ vùng thượng Lào, ông lập một căn cứ không-lục quân ở miền Thượng du Bắc Việt.

Đầu tháng 11/1953, khi ông ra lệnh cho Tướng René Cogny (1904-1968) soạn thảo một kế hoạch không vận lấy mật hiệu là Opération Castor, Cogny đồng ý một cách rất miễn cưỡng, vì chính bộ chỉ huy của ông cũng phản đối.

Người ta đồn thổi nhiều về sự bất bình giữa cặp Navarre – Cogny đã từ lâu. Cogny coi thường, lại còn chế nhạo là Navarre chỉ ngồi trong phòng gắn máy lạnh ở Sài Gòn để điều khiển.

Cogny (to lớn, hoạt bát) có nhiều kinh nghiệm, được Navarre chỉ định làm Tư lệnh Quân đội Viễn Chinh tại Bắc Việt. Cogny cũng đã làm việc dưới quyền Tướng de Lattre nên rất quen thuộc với vùng này. Navarre (mảnh dẻ, trầm lặng) thì chưa có kinh nghiệm ở Việt Nam nhưng lại là sếp của Cogny.

Theo tác giả nổi tiếng (gốc Pháp) Bernard Fall (đồng nghiệp với chúng tôi ở Howard Unversity): có lần Cogny còn dám nói “Nếu ông không phải là đại tướng thì tôi đã cho ông một cái bợp tai rồi.” Nói xong ông đứng vào thế nghiêm chào sếp rồi ra về.

Ngày 17/11/1953, Navarre họp toàn bộ tư lệnh chiến trường để hỏi ý kiến.

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Tướng Navarre cùng Tướng Cogny và các sĩ quan khác đánh giá tình hình Điện Biên Phủ hôm 29/11/1953

Mọi người, trong đó có Cogny đều phát biểu dè dặt về Opération Castor. “Tôi chỉ muốn hỏi mấy ông là liệu ta có thể thực hiện được cuộc hành quân này hay không, thế thôi,” Navarre nói lại. Tất cả đều lưỡng lự nhưng lẩm bẩm trả lời là có thể. “Được rồi, cuộc hành quân sẽ bắt đầu sau ba ngày nếu như thời tiết cho phép.”

Về phía Hoa kỳ, Tướng Mỹ O’Daniel cũng không tin tưởng vào việc tái chiếm Điện Biên Phủ.

Ông cho rằng Tướng Navarre đã rập theo kinh nghiệm “nhử địch” của Mỹ tại Triều Tiên để thí nghiệm một chiến lược gọi là ‘những trận tiêu diệt địch’ (Killer Operations).

Theo mưu kế này, một đơn vị quân đội Mỹ được dàn trải ra ở một địa điểm để làm mồi nhử địch. Khi địch tới đúng tầm của đại pháo thì sẽ bị oanh kích ào ạt.

Bây giờ vừa nhận được khí giới mới của Mỹ, Navarre cho là cơ hội đã tới để có thể bắt chước như vậy.

Ông tin vào mưu lược của mình vì nó đã giúp ông thành công khi rút lui khỏi căn cứ Nà Sản (8/08/1953): Navarre dùng kế nghi binh, triệt thoái an toàn 5.000 quân đang bị bao vây tại Nà Sản.

Nhưng về Điện Biên Phủ thì ông đã tính lầm.

“Lạy Trời mưa xuống” chẳng phải để lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cầy, lấy đầy bát cơm, nhưng là “để tôi khỏi phải nhảy vào cái thung lũng bùn lầy này,” viên chỉ huy trưởng nhảy dù đã cầu mong. Vì lệnh trên là cuộc hành quân này sẽ bắt đầu ‘nếu thời tiết cho phép,’ cho nên ông cầu cho trời mưa để hủy bỏ cuôc hành quân.

Theo Mỹ thẩm định thì Navarre đã dựa vào hai giả thiết sai lầm:

  • Việt Minh khó có thể vận dụng được quá hai sư đoàn tới điện Biên Phủ; và
  • Việt Minh không có nhiều đại bác, và nếu có thì cũng khó có thể kéo lên địa điểm trên cao.

Ngoài ra, còn khuyết điểm khác là đã không để ý nhiều tới vấn đề thời tiết. Tới mùa mưa (kéo dài 5 tháng), những đám mây dày đặc bao trùm thung lũng, gây trở ngại cho các phi vụ thả dù và tiếp tế. Với lượng nước mưa đổ xuống lên tới 62 inches, Điện Biên Phủ trở thành một vũng lầy.

Ngày 20/11/1953 – đúng ba ngày sau buổi họp với bộ tư lệnh – 60 chiếc máy bay Dakota, phía trước có sơn màu xanh, vàng, và đỏ, theo nhau cất cánh từ Hà Nội, yểm trợ bằng những máy bay khu trục, vẽ lên bầu trời một giải dài tới 7 dặm.

Gần 3.000 lính dù, đơn vị tinh nhuệ nhất của đoàn quân Viễn chinh Pháp nhảy xuống Điện Biên Phủ.

Tướng Cogny chỉ định Đại tá Christian de Castries (1902-1991) chỉ huy mặt trận. Cogny nổi tiếng về kỵ binh, mà chiến trường Điện Biên Phủ lại đặt nặng vai trò của kỵ binh.

Tới chiến trường, de Castries cho xây ngay những căn cứ pháo binh làm tuyến bảo vệ doanh trại.

AFP
Chụp lại hình ảnh,Đại tá Christian de Castries (thứ hai, từ phải sang) được chỉ định chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ

De Castries là sĩ quan có tài, lại đẹp trai. Ông đặt tên cho ba pháo đài là Gabrielle (phía Bắc), Beatrice (phía Đông) và Isabelle (phía Nam). Lúc đó ít ai biết rằng đó là tên ba cô bồ của Đại tá de Castries.

Navarre tiên đoán sẽ thắng trận vào ngày Quốc khánh của Pháp 4/07/1954.

Tướng Mỹ O’Daniel không tin. Ngày 3/02, ông đích thân bay tới quan sát chiến trường và thấy ngay là Navarre đã tính lầm: “Quân đội Pháp đã không chiếm đóng miền đồi núi cao, và như vậy địch chỉ cần vài ba tiểu đoàn pháo là có thể uy hiếp, đặt căn cứ này vào tình trạng không thể giữ nổi.”

Hai giờ trước khi O’Daniel đáp, Việt Minh dùng đại bác 75 ly nã ngay 103 quả vào doanh trại Pháp.

Đêm ngày 13/03, ngày đầu trong 56 ngày tấn công, quân đội Việt Minh từ đồi núi tràn xuống, trong khi gần một trăm khẩu 105 ly và 75 ly từ trên cao, không cần phải câu vòng, cứ thế mà pháo thẳng xuống doanh trại Pháp. Chỉ một ngày đã chiếm được pháo đài Beatrice, và bốn ngày sau, Gabrielle.

Sau khi Pháp yêu cầu Mỹ gấp rút gửi thêm quân viện, Tổng thống Eisenhower họp khẩn để vận động một nghị quyết của Quốc hội cho phép ông ra lệnh oanh tạc.

Quốc hội đồng ý, nhưng việc Mỹ can thiệp phải kèm theo ba điều kiện:

  • Phải có sự tham gia của Anh;
  • Pháp trả ngay độc lập cho các quốc gia Đông Dương; và
  • Phải đồng ý tiếp tục chiến đấu sau Điện Biên Phủ.
Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Pháp đã đánh giá sai năng lực và tinh thần chiến đấu của lực lượng Việt Minh

Tháng Tư Đen của Pháp

Trong khi Washington còn đang bàn định xem làm sao để có được sự đồng ý của Anh thì Đại sứ Mỹ Douglas Dillon đã đánh điện về cho Ngoại Trưởng Dulles (độc giả lưu ý tới nhiều sự kiện dồn dập trong ngày 5/04/1954):

Ngày 5/04/1954 – Mật Điện 3710:

KHẨN. Lúc 11:00 đêm Chủ Nhật, tôi được mời tới Điện Matignon gấp để tham dự một cuộc họp nội các thu hẹp.

“Khi tôi tới nơi, Ngoại trưởng Bidault tiếp tôi tại văn phòng Tổng thống và sau mấy phút thì Tổng thống Auriol tới. Họ cho tôi hay rằng sự can thiệp bằng không lực Hoa Kỳ từ các mẫu hạm ngoài khơi vào Điện Biên Phủ là điều hết sức cần thiết trong lúc này để cứu vãn tình hình.

“Tướng Navarre báo cáo rằng tình hình tại chiến trường này đang ở trong tình trạng bất quân bình trầm trọng… Với lực lượng đang được tăng cường, Việt Minh sẽ có thể mở cuộc tấn công mới vào giữa hay cuối tuần này. Nếu không được tiếp viện – từ đây tới lúc đó – thì số phận của Điện Biên Phủ coi như đã xong rồi.”

“Ông Bidault đã kết luận rằng dù tốt hay xấu, giờ đây số phận của Đông Nam Á tùy thuộc vào Điện Biên Phủ. Thêm nữa, thành công hay thất bại tại Hội Nghị Geneva cũng đều tùy theo trận Điện Biên Phủ kết thúc ra sao. Vì vậy, đây là một yêu cầu khẩn thiết của Pháp để Hoa kỳ có một hành động hết sức quan trọng…”

Ngày 5/04/1954 – Ngoại trưởng Dulles trả lời:

“Hoa Kỳ đang làm mọi việc có thể như đã được thông báo trong công điện tôi gửi số 5175 – để chuẩn bị dư luận cũng như Quốc hội và căn bản hiến pháp nhằm đi tới một hành động thống nhất với Đồng minh. Hành động của Hoa Kỳ không thể có được trừ khi có sự tham gia chặt chẽ của Anh Quốc.

Ngày 5/04/1954 – TT Eisenhower thuyết phục Thủ tướng Churchill:

“Nếu tôi có thể nhắc lại lịch sử, chúng ta đã không ngăn chận Hirohito, Mussolini, Hitler vì đã không cùng hành động chung với nhau, và cho kịp thời,” ông than phiền rồi đi tới kết luận, “chính vì thế nên đã dẫn tới một thảm kịch bi đát và một sự nguy hiểm tuyệt vọng trong mấy năm sau. Và như vậy, chúng ta đã học được điều gì chưa trong kinh nghiệm ấy?”

Ngày 5/04/1954 – Ngoại trưởng Bidault tuyệt vọng:

“Thật là bất hạnh vì thời gian để sắp xếp một hành động thống nhất như vậy đã qua đi rồi, và số phận Điện Biên Phủ sẽ đi đến chỗ quyết định nội trong mười ngày tới.”

Gần 100 pháo đài bay B-29 của Mỹ chuẩn bị giải vây Điện Biên Phủ

Ngày 6/04/1954:

Ủy ban Đặc nhiệm của TT Eisenhower đề nghị một kế hoạch để can thiệp quân sự với mật hiệu là “Kế hoạch Kên Kên” (Vautour). Theo đó, Mỹ dùng B-29 từ Okinawa vào oanh tạc. Có ba bước:

  • Một: bốn sư đoàn lục quân Mỹ cùng với một sư đoàn dù được yểm trợ bằng không lực chiếm vùng Yên Bái, Thái Nguyên và Tuyên Quang để chận tuyến liên lạc và có thể tiêu diệt ba sư đoàn Việt Minh;
  • Hai: một sư đoàn đánh chiếm căn cứ Hòa Bình, đang khi một sư đoàn khác đổ bộ tại Thanh Hóa và tiến chiếm Hội Xuân;
  • Ba: thiết lập biên phòng ở ranh giới với Trung Quốc.

Hai hàng không mẫu hạm Boxer và Essex lừ lừ tiến về phía Vịnh Bắc Việt, và gần một trăm chiếc pháo đài bay B-29 ở Okinawa và Phi Luật Tân đuợc lệnh báo động, chuẩn bị bay tới Điện Biên Phủ để giải vây.

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Phi cơ B-29 từng được sử dụng để ném bom Yokohama của Nhật Bản trong Thế chiến II

Chuẩn tướng Joseph Caldara đã bay vào Sài Gòn trước để thẩm định tình hình. Ông còn tự lái chiếc máy bay thám thính B-17 tới Điện Biên Phủ để quan sát chiến trường.

Ngày 21/04/1954 – Pháp khẩn thiết

Thủ tướng Daniel yêu cầu, “Nếu có được một cuộc oanh tạc của Mỹ tại Điện Biên Phủ thì làm cho tinh thần quân đội ở đó lên ngay và sẽ thay đổi hẳn tình hình.”

Đồng thời, Ngoại Trưởng Bidault thúc giục Mỹ “khẩn trương xem xét việc can thiệp bằng quân sự để cứu vãn tình hình,” vì “nếu chúng tôi thất bại nơi đây, nhân dân Pháp sẽ đi tới kết luận rằng dù có cố gắng thêm nữa cũng sẽ không thành công, cho nên phải triệt thoái khỏi chiến trường.”

Thủ tướng Anh Churchill cực lực phản đối Mỹ can thiệp

Mặc dù Bidault khẩn khoản yêu cầu, Churchill vẫn tiếp tục phản đối.

Khi phải miễn cưỡng đi họp Hội Nghị Geneva, Dulles đã nhân cơ hội để vận động thêm.

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Thủ tướng Anh Winston Churchill không đồng ý với ý tưởng để Anh can thiệp vào Đông Dương

Ngày 25/04/1954 – Dulles báo cáo:

“Tôi gặp ông ta (Ngoại trưởng Anh Anthony) Eden chiều nay lúc 10:15 khi ông ta từ London. Ông ta đã lĩnh ý của Thủ tướng Churchill, nội các và các tướng lãnh. Eden nói rằng: Anh Quốc cực lực phản đối bất cứ sự can thiệp nào tại Điện Biên Phủ vì họ không nghĩ rằng nó sẽ có được một ảnh hưởng quyết định, và hành động này sẽ không được nhân dân Anh Quốc hay công luận thế giới thông cảm…

“Eden đã gặp Bidault tại phi trường Orly đêm nay trên đường ghé qua Paris và đã cho ông ta hay về lập trường của nước Anh…

“Với tình hình hiện tại của quân đội Pháp mà Eden đã quá rõ, tôi (Dulles) nói với ông ta rằng tôi không còn tin Pháp sẽ có đủ ý chí mà đương đầu với đối phương của họ tại Hội nghị Geneva đâu. Nhưng Eden lại nói rất rõ về việc Anh Quốc phản đối việc Hoa Kỳ can thiệp bằng không lực tại Điện Biên Phủ cũng như về việc họ không đồng ý trực tiếp tham gia vào chiến trường Đông Dương…

“Tôi nói với ông Eden rằng… ‘thật là một thảm trạng nếu ta không có những biện pháp để ngăn chận việc mất Đông Dương.”

Ngày 26/04 – Dulles cảnh báo: Anh đang xúi Pháp bỏ cuộc

Ngay ngày hôm sau (26/04), Dulles lại gửi công điện từ Geneva trình bày là ‘nước Anh đang xúi giục Pháp đi về chiều hướng đầu hàng’:

“Sau trưa, tôi có gặp Eden và Bidault khoảng một giờ tại biệt thự của Bidault… Tôi lưu ý họ rằng ngưng chiến lúc này tại Điện Biên Phủ tức là đầu hàng và còn có thể đưa tới nguy hiểm là người bản xứ nổi dậy sát hại người Pháp…

“Theo sự suy nghĩ của tôi, Eden đã nhận được chỉ thị là phải khuyến khích Pháp chấp nhận hầu như bất cứ giải pháp nào để đi tới chỗ chấm dứt chiến tranh. Sở dĩ như vậy là vì Chính phủ Anh sợ rằng nếu giao tranh cứ tiếp tục thì Mỹ sẽ bằng cách này hay cách khác nhảy vào can thiệp, đưa tới hậu quả là Trung Quốc sẽ tham chiến và dẫn tới một cuộc chiến rộng lớn hơn nữa…

“Sáng mai tôi sẽ gặp ông Eden một mình và sẽ cho ông ta biết thẳng thừng rằng tôi hết sức mất tinh thần về việc nước Anh đang xúi giục Pháp đi về hướng đầu hàng, một việc đi ngược lại quyền lợi không những (tôi xin lặp lại không những) của chúng ta mà của cả nước Anh nữa.”

Sau cùng, Tham Mưu Trưởng Ridgeway cố vấn TT Eisenhower không nên can thiệp

TT Eisenhower họp khẩn với Ngoại trưởng Dulles để bàn việc cứu vãn tình hình, và đi tới quyết định là sẽ yêu cầu Quốc hội đồng ý cho mang quân đội vào Việt Nam để can thiệp nếu Pháp đồng ý thỏa mãn đòi hỏi của Mỹ là để cho Việt Nam được độc lập thực sự và để cho Mỹ đào tạo quân đội bản xứ.

Nhưng tới đây thì TT Eisenhower lại gặp thêm một khó khăn nữa: Tướng Matthew Ridgeway, Tham mưu trưởng Lục quân lại không ủng hộ và khuyên ông không nên can thiệp.

Ridgeway là người đã thay thế Tướng MacArthur ở Triều Tiên. Ông có uy tín lớn đối với TT Eisenhower.

Ông ước tính rằng muốn chiến thắng, sẽ cần từ một nửa triệu tới một triệu quân, và phải động viên khoảng 100.000 người một tháng. Ngoài ra, còn phải xây cất cầu cống, phi trường, đường xá, hải cảng. Bết bát nhất là điều kiện về địa hình: rừng núi, lũ lụt ở Đông Dương lại còn khó khăn hơn cả ở Triều Tiên.

Vì Chính phủ Anh không chịu cộng tác và Tướng Ridgeway không ủng hộ, sau cùng TT Eisenhower đã bỏ ý định can thiệp bằng quân sự.

Ngày 7/05/1954, Điện Biên Phủ thất thủ – đúng một tuần sau ngày 30 tháng Tư.

Getty Images

Sau Điện Biên Phủ, Mỹ thôi thúc Pháp “cứ tiếp tục chiến đấu, hãy coi đây chỉ là một thất bại trong một trận chiến, chứ không phải là đã bại trận. Và Pháp cũng chỉ mất đi khoảng nửa sư đoàn. Khu vực chiến lược quan trọng là toàn bộ lãnh thổ nằm sau ‘Tuyến De Lattre’ (nối từ Vịnh Hạ Long tới Vĩnh Yên về phía Tây, và theo Sông Đáy bọc xuống Phát Diệm rồi ra biển về phía Nam) thì vẫn còn nguyên vẹn.

Nhưng dù Mỹ can ngăn, Pháp đã đi tới quyết định bỏ cuộc.

Bài học từ Điện Biên Phủ

Như vậy, xét cho cùng thì lý do thất bại không phải là quân sự mà là chính trị. Đó là vì nhân dân và lãnh đạo Pháp đã nản lòng, thối chí.

Biến cố này xác định một lần nữa bài học cho những nhà lãnh đạo, những người chỉ huy các cuộc chiến, rằng: “quân sự là chính trị theo một phương tiện khác – “war is politics by other means.”

Trong nhiều tình huống chỉ cần một chiến thắng – hay được dư luận coi như là một chiến thắng: đánh một trận vào đúng lúc, đúng chỗ, đúng mục tiêu là có thể kết thúc được cuộc chiến.

Lúc ấy, dư luận cho rằng Pháp đã thất trận ở Paris chứ không phải ở Điện Biên Phủ, cũng như sau này, biến cố Mậu Thân được coi là Điện Biên Phủ của Tổng thống Lyndon Johnson, và Mỹ đã thất bại ở Washington chứ không phải ở Sài Gòn.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của Tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng nguyên giáo sư kinh tế tại N.C. Wesleyan College, Trinity College, và Howard University, và là kinh tế gia của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (1966-1070). Ông là cựu Tổng Trưởng Kế Hoạch Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1973 đến 1975, và là phụ tá về Tái Thiết của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Hiện định cư tại Hoa Kỳ, ông đã xuất bản – ngoài những sách về kinh tế – các cuốn “The Palace File” (Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập) (1986), “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” (2005), “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” (2010) và “Khi Đồng Minh Nhảy Vào” (2016).

Một số hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cuộc bầu cử Quốc hội

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://www.bqllang.gov.vn/tin-tuc/tin-tong-hop/10337-mot-so-hinh-anh-chu-tich-ho-chi-minh-voi-cac-cuoc-bau-cu-quoc-hoi.html

Ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới-kỷ nguyên độc lập tự do cho nước nhà.

Một chính quyền vừa thành lập, với rất nhiều khó khăn, thách thức, phải đối mặt thù trong, giặc ngoài, vì vậy, ngày 03/9/1945, Người đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bao gồm: Khắc phục nạn đói; nạn dốt; giáo dục lại nhân dân với việc thực hiện cần, kiệm, liêm, chính; bỏ ba thứ thuế: Thuế thân, thuế chợ, thuế đò; thực hiện tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết và đặc biệt là phải tổ chức càng sớm càng tốt cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu.

Để triển khai thực hiện những nhiệm vụ này, Người đã ký các sắc lệnh, cũng như chỉ đạo trực tiếp đối với từng nhiệm vụ. Riêng với nhiệm vụ thực hiện Tổng tuyển cử trong cả nước, Người đặc biệt quan tâm, chú trọng để xây dựng được một nNhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Đồng thời, Người đã viết nhiều bài báo kêu gọi những người có tài có đức ra ứng cử, đóng góp sức lực cho đất nước.

Đặc biệt, đến sát ngày Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu (đăng Báo Cứu Quốc ngày 05/01/1946). Người khẳng định: “Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn” và kêu gọi “… mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.



Bac di bau cu

Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân đi bầu cử (Ảnh tư liệu)



bac bau cu ti ng tai duc

Bài viết “Tìm người tài đức” của Bác năm 1946 đăng trên Báo Cứu quốc số 411 ngày 20/11/1946.(Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu sac lenh bau cu

Sắc lệnh số 76-SL ngày 18/12/1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc ấn định lại ngày Tổng tuyển cử và hạn nộp đơn ứng cử. (Ảnh tư liệu)

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ lâm thời cũng như cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 06/01/1946, trong cả nước, có 89% tổng số cử tri đã đi bỏ phiếu, nhiều nơi đạt 95%. Cả nước đã bầu được 333 đại biểu Quốc hội, trong đó Hồ Chí Minh là ứng cử viên trúng cử với số phiếu cao nhất (98,4%).

Trong cuộc đời mình, Bác Hồ là ứng cử viên đồng thời cũng là cử tri đi bầu cử 3 nhiệm kỳ Quốc hội, gồm: Quốc hội khóa I (1946 – 1960), Quốc hội khóa II (1960 – 1964) và Quốc hội khóa III (1964 – 1971). Ở cương vị ứng cử viên hay cử tri, Bác đều để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng dân tộc về tinh thần, trách nhiệm của một người công dân đối với đất nước.

Quốc hội khóa II là Quốc hội đầu tiên hoạt động hoàn toàn trong thời kỳ đất nước bị chia cắt, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Lao động Việt Nam (Ðảng Cộng sản Việt Nam ngày nay), nhân dân Việt Nam thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc và tiến hành sự nghiệp xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa: miền Bắc bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội và cùng miền Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Quốc hội khóa III, được tổ chức theo Hiến pháp năm 1960, là Quốc hội của thời kỳ đất nước thực hiện cả hai chiến lược cách mạng, thời kỳ chống Mỹ cứu nước “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để thắng giặc Mỹ xâm lược”. Miền Bắc tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; Miền Nam đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng. Nhiệm kỳ của Quốc hội khóa III kéo dài từ tháng 6-1964 đến tháng 6-1971 là do hoàn cảnh có chiến tranh diễn ra trên phạm vi cả nước.

Quốc hội khóa IV đã tiếp tục động viên quân và dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: ở miền Nam tăng cường đấu tranh giải phóng dân tộc, ở miền Bắc kiên trì bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đánh thắng chiến tranh phá hoại của địch, động viên sức người, sức của cho tiền tuyến lớn đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai. Quốc hội khóa IV là Quốc hội chiến thắng giặc Mỹ xâm lược, kiên trì và tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, là Quốc hội khôi phục kinh tế, hàn gắn những vết thương chiến tranh, chuẩn bị đưa đất nước tiến vào thời kỳ mới.

Quốc hội khóa V là quốc hội ngắn nhất, từ 4-1975 đến 4-1976, vì đã rút ngắn nhiệm kỳ để tiến hành cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của đất nước thống nhất. Quốc hội khóa V thể hiện đầy đủ bản chất là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của khối đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên minh công nông. Quốc hội quyết định kế hoạch Nhà nước năm 1976, năm thứ nhất của kế hoạch 5 năm lần thứ hai, mở đầu thời kỳ xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa.

Quốc hội khóa VI là Quốc hội quyết định đổi tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội khóa VI đã có những đóng góp tích cực vào việc xây dựng hệ thống chính quyền mới ở miền Nam, xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất bảo vệ chính quyền trong điều kiện hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc. Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa VI đã thông qua Hiến pháp năm 1980.

Quốc hội khóa VII, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, là Quốc hội của thời kỳ bắt đầu công cuộc đổi mới, đã đẩy mạnh công tác lập pháp, tăng cường công tác giám sát và việc quyết định các vấn đề quan trọng khác để đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước. Xác định nguyên tắc, phương hướng xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Quốc hội khóa VIII được bầu ra và hoạt động trong giai đoạn bước ngoặt của đất nước, có trách nhiệm to lớn góp phần thực hiện công cuộc đổi mới. Hoạt động lập hiến của Quốc hội khóa VIII có nhiều thành tựu với 2 lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1980. Tại kỳ họp lần thứ 11, tháng 4 năm 1992, Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1992 – Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, phù hợp với thực tế của đất nước và xu thế tiến bộ của thời đại trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh, đặc điểm của Việt Nam, đánh dấu sự trưởng thành về trình độ lập hiến của nước ta.

Quốc hội khóa IX được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp năm 1992. Quốc hội khóa IX đã tiến hành đồng bộ và có hiệu quả các hoạt động nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ về lập pháp, về giám sát và về quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, bảo đảm cho công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu to lớn, đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới.

Quốc hội khóa X là Quốc hội của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Quốc hội khóa X có trọng trách tiếp tục thể chế hóacương lĩnh và chiến lược của Ðảng; cụ thể hóa đường lối, chính sách mà Ðại hội Ðảng lần thứ VIII và lần thứ IX đề ra.

Quốc hội khóa XI là Quốc hội của thời kỳ tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Quốc hội khóa XII được cử tri cả nước bầu ra ngày 20/5/2007 và hoạt động trong bối cảnh vừa có những thuận lợi cơ bản, vừa có những khó khăn thách thức. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo sau hơn 20 năm, gần nhất là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, 1 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, cũng là 6 năm đầu tiên của thế kỷ XXI, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử cả về lý luận và thực tiễn trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại, xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước, tăng cường đoàn kết toàn dân tộc.

Kể từ Quốc hội khóa đầu tiên đến nay, Quốc hội nước ta đã không ngừng lớn mạnh, thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Các thế hệ đại biểu Quốc hội luôn thể hiện và phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, phẩm chất, trí tuệ, xứng đáng là đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

Nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 – 06/01/2021), hãy cùng nhìn lại những hình ảnh quý giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cuộc bầu cử Quốc hội.


Bac di bau cu 1

Hồ Chủ tịch bỏ phiếu bầu cử các thành viên lãnh đạo Nhà nước và Quốc hội.
(Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu 2

Hồ Chủ tịch bỏ phiếu bầu cử Ban Thường trực Quốc hội.(Ảnh tư liệu)



Bac di bau cu 2 2

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các thành viên của Chính phủ tuyên thệ nhậm chức tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I (02/3/1946).(Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu ra mat DH

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Quốc hội đầu tiên của Hà Nội ra mắt cử tri tháng 02/1946. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu 3

Hồ Chủ tịch bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II tại Tiểu khu Trúc Bạch, khu phố Ba Đình, Hà Nội. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu nhan phieu

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận lá phiếu bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân khóa II ngày 08/5/1960. (Ảnh tư liệu)

 

Bac di bau cu hoi chuyen cu tri

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi chuyện một cử tri cao tuổi sau khi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội Khóa II. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu khai mac ky hop thi I

Hồ Chủ tịch trên Đoàn Chủ tịch kỳ họp thứ I, Quốc hội khóa II khai mạc ngày 07/7/1960. (Ảnh tư liệu)

 

Bac di bau cu cam on dong bao

Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ nhất đã bầu Hồ Chủ tịch giữ chức Chủ tịch nước. Hồ Chủ tịch đã phát biểu cảm ơn Quốc hội và thông qua Quốc hội cảm ơn đồng bào đã tin tưởng giao cho người trách nhiệm nặng nề, vẻ vang là lãnh đạo đất nước. (Ảnh tư liệu)

 

Bac di bau cu truong ban sua doi HP

Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa I đã quyết định sửa đội Hiến pháp, các đại biểu Quốc hội nhiệt liệt chào mừng
Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử làm Trưởng ban sửa đổi Hiến pháp. (Ảnh tư liệu)



Bac di bau cu Hien phap

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp sửa đổi năm 1960.(Ảnh tư liệu)

 

Bac di bau cu QH khoa 2 1963

Hồ Chủ tịch trên đoàn Chủ tịch kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa II, họp tại Hà Nội từ 29/4 đến 4/5/1963. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu tham khu bau cu ba dinh

Bác thăm khu vực bầu cử A.10, Khu Ba Đình, Hà Nội tháng 4 năm 1964. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu 1965

Bác Hồ tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội và khu phố Ba Đình ngày 25/4/1965. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu 1969

Bác Hồ tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội ngày 27/4/1969. (Ảnh tư liệu)

Tâm Trang (tổng hợp)

Archimedes Patti – nhân chứng lịch sử ngày 2-9-1945

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Ho-so/911472/archimedes-patti—nhan-ch…2-9-1945

THU HẰNG

Theo “Why Viet Nam?” của Archimedes Patti (HNMO) – Archimedes L.A.Patti (1913-1998) vinh dự là người nước ngoài đầu tiên được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời đến nghe bản dự thảo Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước ngày lễ Độc lập tại Hà Nội.

Archimedes L.A.Patti (1913-1998).

Ngày 22-8-1945, Thiếu tá Archimedes L.A Patti – Trưởng ban Đông Dương của OSS (Cơ quan Phục vụ Chiến lược Mỹ, tiền thân của CIA), Trưởng phái bộ tiền trạm của quân đội Mỹ có mặt tại Hà Nội để thực hiện nhiệm vụ giải cứu tù binh và chuẩn bị cho việc giải giáp quân Nhật tại Bắc Đông Dương.

Trong thời gian ở Hà Nội, Patti đã có những hành động thiết thực để thể hiện cảm tình của mình: Nhận chuyển giúp một số thư, điện của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Mỹ, đứng ra làm trung gian cho các cuộc tiếp xúc Việt – Pháp đầu tiên vào tháng 9-1945 và viết những bản báo cáo trung thực, khách quan về tình hình Việt Nam gửi lên cấp trên của mình.

Chính vì vậy, Patti đã giành được sự thân thiện và tình cảm đặc biệt của những nhà cách mạng Việt Nam, nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mặc dù vô cùng bận rộn, nhưng Người đã dành nhiều thời gian để trao đổi, tâm sự với Patti và thực sự coi ông như một người bạn.

Ngày lễ Độc lập Việt Nam trong mắt một người Mỹ

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một sự kiện trọng đại có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Trong biển người tham dự và chứng kiến buổi lễ lịch sử này, có Archimedes L.A Patti cùng các đồng nghiệp của ông. Trong cuốn hồi ký “Why Viet Nam?” (Tại sao Việt Nam – 1980), Patti đã miêu tả tỉ mỉ, sống động về thời khắc trọng đại đó:

“Từ sớm tinh mơ, dân chúng Hà Nội như các bầy ong, từng đoàn lúc lớn lúc nhỏ, lũ lượt dần dần kéo đến cạnh Quảng trường Ba Đình.

Ở nhiều chỗ là một khối dân chúng các làng ngoại ô. Đi theo trong biển người đó, có cả những tốp người miền núi với y phục địa phương của họ và nông dân trong những bộ khăn áo cổ truyền.

Giữa các khối khác nhau, người ta dễ dàng nhận ra các tổ chức của công nhân, sơ mi trắng, quần dài hoặc quần soóc trắng hoặc xanh. Phụ nữ mặc áo dài trắng hay mầu sáng, tay khoác nón…

…Mặt trời đã lên cao. Không khí oi bức, nhưng đôi lúc cũng có cơn gió nhẹ thổi làm phấp phới cả cái biển cờ trên quảng trường. Cao trên cột trước lễ đài, lá cờ đỏ với ngôi sao vàng lớn phấp phới bay.

Bất chợt có tiếng còi và các hiệu lệnh quân sự phát ra từ các đội hình. Đội danh dự và các đơn vị bộ đội đứng thẳng và chăm chú theo dõi khi có người đã bắt đầu xuất hiện trên lễ đài. Mấy phút sau, nổi lên tiếng hô: “Bồng súng chào!”.

Quần chúng bỗng im lặng trong khi các vị chức quyền tìm chỗ đứng vào đường sau cái bao lơn được trang trí bằng mầu trắng và đỏ. Trên lễ đài, mọi người đều bận đồ trắng, thắt cavát và để đầu trần, trừ một người nhỏ nhắn mặc áo kaki mầu sẫm và có cái gì như cái khăn trùm đầu – Đó là Hồ Chí Minh.

Bìa cuốn “Why Vietnam?: Prelude to America’s Albatross” của Archimedes Patti

…Một tiếng trong loa phóng thanh nổi lên phá vỡ sự im lặng, giới thiệu ông Hồ “là người giải phóng, vị cứu tinh của dân tộc”. Quần chúng được sự hướng dẫn của các đảng viên, lên tiếng hát và trong mấy phút liền hô vang “Độc lập”. Ông Hồ đứng yên mỉm cười, nhỏ nhắn trong vóc dáng, nhưng vĩ đại trong sự hoan hô của nhân dân ông. Ông giơ tay ra hiệu im lặng và bắt đầu đọc bản Tuyên ngôn, nay trở thành nổi tiếng của ông với những lời: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho chúng ta những quyền bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Ông Hồ dừng lại đột ngột và hỏi người nghe: “Đồng bào có nghe rõ tôi nói không?”. Quần chúng hô vang đáp lại: “Rõ!”. Thực là một nghệ thuật diễn thuyết bậc thầy! Từ lúc đó, quần chúng lắng nghe lấy từng lời. Cứ nghe giọng nói của ông Hồ, bình tĩnh và rõ ràng, ấm cúng và thân mật, và nghe thấy được quần chúng trả lời thì chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa là những lời của ông đã thấu tới quần chúng.

Sau đó, quay về bản Tuyên ngôn của Cách mạng Pháp 1791, nói về quyền con người và quyền công dân, ông Hồ nói Bản Tuyên ngôn đã công bố: “Mọi người sinh ra phải được tự do và có quyền bình đẳng. Đó là những chân lý không thể chối cãi được”…

Ấn tượng tốt đẹp về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Theo A.Patti, lần đầu tiên cái tên Hồ Chí Minh được nhắc đến trong một bức điện ngày 31-12-1942 của Đại sứ Mỹ thông báo việc bắt và giam Hồ Chí Minh ở Liễu Châu, Quảng Tây. Từ công việc, giữa người cách mạng Hồ Chí Minh và viên thiếu tá người Mỹ này đã dần dần thiết lập một mối quan hệ bạn bè đặc biệt. Trong thiên hồi ký “Why Viet Nam?”, Archimedes Patti đã dành những tình cảm xúc động khi viết về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhóm Con Nai năm 1945

Ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên với Hồ Chí Minh trong một ngôi làng nhỏ ở Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc ngày 27-4-1945 để bàn về việc phối hợp hoạt động chống Nhật giữa Mặt trận Việt Minh và OSS, Patti đã có ấn tượng sâu sắc và cảm tình đặc biệt trước trí tuệ uyên bác và phong cách ngoại giao giản dị mà đầy sức thuyết phục của Hồ Chí Minh.

Ông kể lại: “Mặc dù tôi đã tỏ ra khách quan và thận trọng một cách cố ý, không để mình dính vào những khía cạnh chính trị của vấn đề Đông Dương, nhưng sự chân thành, thái độ thực dụng và sự hùng biện của ông Hồ đã gây cho tôi một ấn tượng khó phai mờ được. Ông Hồ không hiện lên đối với tôi như một nhà cách mạng không thực tế hay một người cấp tiến cuồng nhiệt, theo đuổi những lời nói rập khuôn, hét to đường lối của đảng, hay thiên về phá hoại mà không có kế hoạch xây dựng lại. Đó là một con người thông minh, thấu hiểu những vấn đề của đất nước mình, một con người biết điều và tinh tế”… Và chính ấn tượng tốt đẹp này đã dẫn đến những sự hợp tác hết sức nhiệt thành và hiệu quả trong các hoạt động phối hợp chống phát xít Nhật giữa Mặt trận Việt Minh và tổ chức OSS.

Sau khi viết xong bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Archimedes Patti vinh dự được làm người đầu tiên nghe toàn văn văn kiện đặc biệt này trước khi Người công bố với quốc dân và thế giới.

Trong cuốn “Why Viet Nam?”, A.Patti đã viết: “Hồ Chí Minh nói rằng “đã phải làm quá nhiều việc trong một thời gian rất ngắn. Đã có một ủy ban để soạn thảo lời tuyên thệ nhận chức của ông và các bộ trưởng, nhưng bản thảo bản Tuyên ngôn Độc lập còn cần phải được làm xong gấp”. Theo ông, chính đó là một trong những lý do ông muốn gặp tôi. Ông gọi một người ở buồng bên mang bản thảo tới và đưa cho tôi với một dáng thỏa mãn. Rõ ràng trong việc khởi thảo bản này đã có bàn tay già dặn của ông. Bản tài liệu đánh máy bằng tiếng Việt Nam, có nhiều chữ bị xóa và được viết đè lên bằng bút mực, với nhiều ghi chú bên lề. Tôi ngây ra và ông Hồ thấy ngay là tôi không thể đọc được. Ông Hồ cho gọi một người trẻ tuổi vào để dịch và tôi chăm chú nghe. Trong mấy câu đầu, người phiên dịch đã nói lên một số danh từ rất đỗi quen thuộc và giống lạ lùng như bản Tuyên ngôn của chúng ta. Câu tiếp sau là “Lời tuyên bố bất hủ này đã được nêu lên trong Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776”. Tôi chặn người phiên dịch lại và kinh ngạc quay sang hỏi ông Hồ có thực ông có ý định sử dụng câu đó trong bản tuyên ngôn của ông không… Ông Hồ dựa vào ghế, hai tay úp vào nhau, ngón tay sát vào môi một cách nhẹ nhàng và đang như suy tưởng. Với một nụ cười nhã nhặn, ông hỏi lại tôi một cách dịu dàng: “Tôi không thể dùng câu ấy được à?”. Tôi cảm thấy ngượng ngập và lúng túng. “Tất nhiên”, tôi trả lời, “tại sao lại không?”. Bình tĩnh lại, tôi nói người phiên dịch đọc lại đoạn đó từ đầu một lần nữa. Anh ta đọc: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng…, họ đã được tạo hóa trao cho những quyền không thể nhượng lại được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Cố sức nhớ lại, tôi mới thấy các danh từ đã được chuyển vị và nhận xét là trật tự các chữ “tự do” và “quyền sống” đã bị thay đổi. Ông Hồ nắm ngay lấy và nói “đúng”, không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do”…

Đầu tháng 10-1945, OSS giải thể, Archimedes Patti bị triệu hồi về Mỹ. Trước khi Patti lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả một buổi tối để trò chuyện và tâm sự với ông. Buổi chia tay đã để lại trong hồi ức của Patti những ấn tượng không thể phai mờ. Tình cảm tốt đẹp và lòng khâm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người mà hình ảnh từ buổi đầu gặp mặt tới lúc chia tay lần cuối vẫn là “một dáng người mảnh mai nhưng bất khuất”, đã đi suốt cuộc đời Patti và được ông thể hiện trong những trang viết của cuốn hồi ký, trong tham luận tại Hội thảo Quốc tế về “Hồ Chí Minh – Anh hùng Giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới” do UNESCO tổ chức tại Hà Nội năm 1990 và trong những lần đến Việt Nam để gặp lại một ngưòi bạn mà ông rất kính trọng là Đại tướng Võ Nguyên Giáp…

Archimedes Patti sinh tại New York. Ông gia nhập quân đội Hoa Kỳ năm 1941 và trở thành một sĩ quan bộ binh trên chiến trường châu Âu trong Thế chiến II. Cuối năm 1944, ông chuyển sang công tác tại OSS. Sau khi Thế chiến II kết thúc, ông được thăng hàm thiếu tá và được cử làm Trưởng phái bộ tiền trạm của quân đội Hoa Kỳ, thực hiện nhiệm vụ giải cứu tù binh và chuẩn bị cho việc giải giáp quân Nhật tại Bắc Đông Dương.

Về Mỹ cuối năm 1945, ông được thăng hàm trung tá và tiếp tục công tác trong quân đội cho đến khi giải ngũ vào năm 1957. Ông làm việc ở Văn phòng tư pháp của Tổng thống Mỹ đến 1971 thì nghỉ hưu, sống tại Florida.

Do những cống hiến xuất sắc, ông được chính phủ Hoa Kỳ trao tặng huân chương Ngôi sao Đồng với Nhành sồi và khi qua đời ông được an táng tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington.

Sự thật về những lời xuyên tạc tình báo Archimedes Patti sửa bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

http://www.shoppbs.pbs.org/wgbh/amex/vietnam/series/pt_01.html

Trong số đó có Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh những năm đầu rất khó để theo dõi. Ông luôn tỏ ra bí ẩn về bản thân, ít trả lời phỏng vấn và sau này thích thể hiện mình là “Bác Hồ” nhân từ. Hồ sinh khoảng năm 1890 với tên gọi là Nguyễn Tất Thành, con trai của một quan chức đã từ chức thay vì phục vụ dưới thời Pháp. Khi còn trẻ, Hồ rời đất nước, làm thợ đóng tàu và nấu ăn ở Mỹ, Anh và Pháp.

Năm 1917, Hồ chuyển đến Paris. Ông lấy bút danh là Nguyễn Ái Quốc, “Nguyễn ái quốc,” và bắt đầu vận động đòi độc lập cho Việt Nam. Ông đã cố gắng bào chữa cho lý do của mình tại Hội nghị Versailles sau Thế chiến thứ nhất, nhưng không được chấp nhận. Nỗ lực của ông đã khiến ông trở nên nổi tiếng trong giới người Việt tại Pháp.

Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc trở thành Đảng viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, người Cộng sản Việt Nam đầu tiên. Ông vẫn ở Pháp để biên tập một tờ báo chống thực dân có tên là Le Paria (The Outcast), và hỗ trợ mình với tư cách là trợ lý nhiếp ảnh gia. Các bức vẽ của ông, được đăng trên báo, cho thấy ông vẫn quan tâm đến Việt Nam, điều mà ông đã không gặp trong mười năm.

Những người Cộng sản đã gửi ông đến Moscow để đào tạo vào năm 1923.

Ông đi khắp nơi, tổ chức những người Việt Nam xa xứ thành một đảng cách mạng. Các báo cáo trong 17 năm tiếp theo đã theo dõi ông ở Đức, Trung Quốc, Thái Lan, Pháp, Nga.

FRENCH NEWSREEL:

Tạp chí Pathe trình bày đánh giá về những thành tích đã đạt được đấu tranh sự bảo vệ của lá cờ của chúng tôi.

Ở những vùng thù địch và khốn khó, các nhà văn minh Pháp đã mang lại hòa bình, công việc, thịnh vượng và niềm vui.

Khu vực hải ngoại của Pháp là một phần thiết yếu của nền kinh tế thế giới, một động lực tích cực của nền văn minh và là minh chứng vẻ vang cho sự hùng vĩ của nước Pháp.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Chiến tranh thế giới thứ hai đã kết thúc “sự hùng vĩ của nước Pháp.” Nhật Bản, theo đuổi cuộc chinh phục Trung Quốc, muốn chặn đường vận chuyển vật liệu chiến tranh qua Việt Nam. Tháng 6 năm 1940, ba ngày sau khi Pháp rơi vào tay Đức Quốc xã, Nhật Bản đòi quyền đổ bộ lực lượng vào Đông Dương.

Sự xuất hiện của Nhật Bản đã gây ấn tượng sâu sắc đối với người Việt Nam. Những người châu Á giống như họ đã lật đổ các thực dân châu Âu – vì rõ ràng ai là người nắm quyền.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Người Nhật ủng hộ một số nhóm dân tộc chủ nghĩa Việt Nam. Nhưng các nhóm khác đều chống Pháp và chống Nhật. Quan trọng nhất là tổ chức Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc thành lập năm 1941. Ông đã trở lại Việt Nam sau 30 năm, với một cái tên mới: Hồ Chí Minh, có nghĩa là “Người khai sáng”.

HOÀNG QUỐC VIỆT: Sau hội nghị thành lập Việt Nam, Bác Hồ đã gửi thư kêu gọi toàn dân ủng hộ. Và chính điều này đã làm dậy sóng cả nước xung quanh phong trào này. Và khi mọi người nhận ra Hồ Chí Minh đích thực là Nguyễn Ái Quốc, thì lòng tin của họ đối với phong trào càng được củng cố. Đó là vì cái tên Nguyễn Ái Quốc đã được cả nước biết đến rộng rãi. Mọi người biết rằng ông là một người yêu nước vĩ đại.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việt Nam đã tổ chức các căn cứ du kích, huấn luyện cán bộ, quấy rối Pháp, Nhật và tuyên truyền cổ động, kêu gọi nông dân kháng chiến.

PHỎNG VẤN: Tại sao Việt Nam lại chiến đấu với quân Nhật trong khi những người theo chủ nghĩa dân tộc châu Á khác hợp tác?

THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG: (Cười) Tôi xin lỗi, nhưng đây là một câu hỏi rất buồn cười. Lúc đó, quân Nhật đã lật đổ Pháp và bắt đầu thống trị đất nước chúng tôi, nên tất nhiên chúng tôi phải đánh quân Nhật.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Đầu năm 1945, Việt Nam đang trải qua một nạn đói khủng khiếp. Người ta đổ lỗi cho người Pháp và người Nhật, những người đang tích trữ gạo, cung cấp cho quân đội Nhật Bản, và thậm chí xuất khẩu sang Nhật Bản – trong khi ước tính khoảng hai triệu người Việt Nam trong số tám triệu người ở các khu vực phía bắc đã chết.

DR. TRẦN DUY HƯNG: Vào thời điểm đó, theo ước tính của chúng tôi, có ít nhất 40.000 nông dân nghèo đói đến Hà Nội xin ăn và chờ cấp phát, bố thí. Người Pháp không tổ chức cứu đói. Và người Nhật đặc biệt cấm chúng tôi thực hiện bất kỳ nỗ lực cứu đói nào của riêng mình. Mọi người đào bới các bãi rác để tìm bất kỳ thứ gì có thể ăn được. Họ cũng ăn thịt chuột. Nhưng điều này không đủ để giữ cho họ sống sót.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việtminh đã tổ chức cho nông dân cướp kho thóc, gây được uy tín to lớn. Sự ủng hộ của nông dân này đã mang lại cho họ một lợi thế chính trị mà họ không bao giờ đánh mất.

TỔNG THỐNG FRANKLIN D. ROOSEVELT, ngày 1 tháng 3 năm 1945:

Đó là một con đường dài khó khăn để đến Tokyo. Đến Tokyo thì lâu hơn là đến Berlin, theo mọi nghĩa của từ này. Thất bại của Đức sẽ không có nghĩa là kết thúc cuộc chiến chống Nhật Bản …

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Khi chiến tranh ở châu Âu kết thúc, sự chú ý của Đồng minh chuyển sang châu Á và cuộc chiến chống Nhật Bản. Một trong những nhu cầu cấp thiết là trí thông minh. Việt Nam tin rằng các tuyên bố của Đồng minh ủng hộ quyền của các dân tộc bị áp bức. Họ đã cung cấp cho Đồng minh thông tin về chuyển quân của Nhật Bản, vì vậy người Mỹ đã chuyển sang Việt Nam và lãnh tụ của nó, Hồ Chí Minh.

ARCHIMEDES PATTI (Sĩ quan O.S.S.): Tôi gặp Hồ lần đầu tiên ở biên giới Trung Quốc giữa Trung Quốc và Đông Dương vào những ngày cuối tháng 4 năm 1945

ABBOT LOW MOFFAT: Chúng tôi biết ông ấy là một người Cộng sản, nhưng chúng tôi cũng cảm thấy, như họ đã làm, và theo cách mà bất kỳ ai từng biết, gặp Hồ Chí Minh, người mà tôi đã từng nói chuyện, đều có chung cảm giác: ông ấy lần đầu tiên là một theo chủ nghĩa dân tộc, và thứ hai là một người Cộng sản. Đó là, ông quan tâm đến việc giành độc lập cho người dân của mình và khi đó ông nghĩ điều tốt nhất cho họ là kiểu chính phủ Cộng sản. Nhưng trước hết ông là một người theo chủ nghĩa dân tộc.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Viet Minh đã đồng ý giúp Đồng minh. Thiếu tá Patti đã cử một nhóm huấn luyện, Deer Mission (Chiến dịch Nai Vàng), vào vùng núi phía bắc.

ARCHIMEDES PATTI: Chiến dịch Deer đã tham gia và họ tổ chức. Với sự giúp đỡ của Tướng Giáp, trong số khoảng 500 người Việt Nam, chúng tôi đã chọn ra 200 người. Chúng tôi đã dành bốn tuần tiếp theo để huấn luyện những thanh niên này về kỹ thuật sử dụng vũ khí tự động, thiết bị phá hủy, xâm nhập và đột nhập vào các khu vực nguy hiểm khác nhau. Ở đó, lần đầu tiên chúng tôi được thấy Việt Minh là loại quân đội gì. Họ là một thanh niên theo chủ nghĩa dân tộc rất sẵn sàng, tốt đẹp, thực sự là những gì chúng ta thường nói kiểu “gung ho” (Nhiệt huyết). Họ sẵn sàng liều mình vì chính nghĩa, sự nghiệp giành độc lập chống Pháp.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Trước khi người của Hồ có thể chứng tỏ sự sẵn sàng của họ, Thế chiến II đã kết thúc.

Sự sụp đổ bất ngờ của Nhật Bản đã khiến nhiều người ở Đông Dương thuộc Pháp bất ngờ, nhưng Việt Nam đã sẵn sàng cho cái mà họ gọi là “Cách mạng Tháng Tám”. Tuyên bố Việt Nam độc lập, họ tiến quân để chiếm Hà Nội một cách hòa bình. Hồ Chí Minh thành lập chính phủ ở Hà Nội, cẩn thận trà trộn thành viên của các nhóm dân tộc chủ nghĩa khác. Nhưng ở miền Nam, tránh xa ảnh hưởng vừa phải của Hồ, những người theo ông bắt đầu thanh trừng những người theo chủ nghĩa dân tộc đối thủ. Vẫn với Việt Nam, và có lẽ củng cố thêm ý tưởng về sự hỗ trợ của Mỹ, là OSS.

ARCHIMEDES PATTI: Hai hoặc ba ngày sau khi tôi gặp Hồ, ông ấy yêu cầu tôi vào nhà và dừng lại gặp ông ấy lúc đó ông ấy muốn cho tôi xem một thứ gì đó, và thứ ông ấy muốn cho tôi xem là bản thảo Tuyên ngôn Độc lập mà ông ấy sẽ tuyên bố vài ngày sau đó. Tất nhiên, nó là tiếng Việt và tôi không thể đọc được và khi nó được thông dịch viên giải thích cho tôi, tôi đã khá sửng sốt khi nghe những từ của Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ. Những từ về tự do, cuộc sống và theo đuổi hạnh phúc, vân vân. Tôi không thể tin vào tai mình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên tàu U.S.S. Missouri ở Vịnh Tokyo, Nhật Bản chính thức đầu hàng. Cùng ngày trên khắp đất nước Việt Nam, người Việt Nam kỷ niệm Ngày Độc lập tự xưng và sự hình thành một quốc gia mới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tại Hà Nội, Hồ Chí Minh đã đọc một bài diễn văn mở đầu, “Tất cả mọi người đều bình đẳng với nhau. Họ được tạo hóa ban tặng cho một số quyền bất khả xâm phạm …”

DR. TRẦN DUY HƯNG: Có thể nói, khoảnh khắc xúc động nhất là khi Chủ tịch Hồ Chí Minh leo lên bậc thềm và hát Quốc ca. Đây là lần đầu tiên Quốc ca Việt Nam được hát trong một buổi lễ chính thức. Sau đó, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập, đó là một văn kiện ngắn. Khi đang đọc, Bác dừng lại và hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” Câu hỏi đơn giản này đã đi vào trái tim của tất cả mọi người ở đó. Sau một giây phút im lặng, tất cả đều hô to: “Vâng, chúng tôi nghe!” Và tôi có thể nói rằng chúng tôi không chỉ hét bằng miệng mà bằng cả trái tim, trái tim của hơn 400.000 người đứng ở quảng trường khi đó. Sau khi Bác Hồ đọc xong Tuyên ngôn Độc lập, một chiếc máy bay, một chiếc máy bay nhỏ bay vòng qua chúng tôi. Chúng tôi không biết đó là máy bay của ai. Chúng tôi nghĩ rằng đó là một chiếc máy bay của Việt Nam. Nhưng khi nó sà xuống chúng tôi, chúng tôi đã nhận ra lá cờ Mỹ. Đám đông cổ vũ nhiệt tình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Hồ đã kêu gọi Tổng thống Harry Truman nhưng có lẽ ông ấy sẽ chấp nhận sự ủng hộ của bất kỳ ai. Truman không trả lời thư của Hồ. Ông chỉ mới nhậm chức được 4 tháng vào tháng 8 năm 1945 và chưa kịp hoạch định chính sách về Đông Dương.

ABBOT LOW MOFFAT: Có sự chia rẽ khá lớn trong Bộ Ngoại giao đối với Đông Dương. Cả văn phòng Viễn Đông và văn phòng châu Âu đều hoàn toàn đồng ý rằng chúng tôi muốn một nước Pháp mạnh mẽ phục hồi ở châu Âu sau chấn thương của Vichy và thất bại trong chiến tranh, nhưng bộ phận châu Âu cảm thấy rằng để giúp người Pháp đứng vững trở lại, chúng tôi thực tế nên đi cùng với bất cứ điều gì mà người Pháp muốn.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Đồng minh đã vạch ra một kế hoạch thỏa hiệp để giải giáp quân Nhật. Trên vĩ tuyến 16, quân Trung Quốc sẽ đầu hàng quân Nhật. Người Anh cũng sẽ làm như vậy ở miền Nam. Họ đến Sài Gòn vào đầu tháng Chín.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Chỉ huy người Anh, Tướng Douglas Gracey, là một sĩ quan thuộc địa dày dạn kinh nghiệm chính trị hạn chế. Lệnh của ông là giải giới quân Nhật, duy trì luật pháp và trật tự.

Thiếu Tá PHILIP MALINS: Ông ấy hoàn toàn không có quyền bắt đầu nói về việc bàn giao Đông Dương thuộc Pháp cho bất kỳ ai khác ngoài người Pháp. Ông ấy có những chỉ dẫn thẳng thắn, nghiêm khắc của mình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việt Nam đã chiến đấu trở lại, nhưng họ có ít vũ khí để sử dụng chống lại quân Pháp, và các chiến thuật tàn bạo của Việt Nam đã làm cho những người dân tộc miền Nam khác xa lánh.

Người Pháp giành lại quyền kiểm soát. Ở phía Bắc, Việt Minh của Hồ được sự ủng hộ rộng rãi, nhưng họ cũng phải đối mặt với một vấn đề: 150.000 quân Trung Hoa Quốc dân Đảng. Người Trung Quốc đến tước vũ khí của người Nhật. Họ ở lại để cướp phá và phá rối và họ đe dọa sẽ ở lại vô thời hạn.

Với mong muốn trục xuất quân đội Trung Hoa, Hồ Chí Minh đã thương lượng với người Pháp. Vào tháng 3 năm 1946, họ đã đạt được một thỏa thuận. Chính quyền thực dân Pháp phô trương quyền lực của mình khi Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến xác nhận thỏa thuận cho phép quân đội Pháp quay trở lại trong một thời hạn. Đổi lại, Pháp công nhận nhà nước Việt Nam mới, và quân đội Trung Quốc ra đi. Hồ Chí Minh đã đánh cược rằng người Pháp sẽ không cố gắng nắm chính quyền, và rằng một thỏa thuận tầm xa cuối cùng có thể được đàm phán.

Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP: Một hiệp định đình chiến đã được ký kết. Đã có những cuộc đàm phán trong tương lai để giải quyết các vấn đề giữa chúng tôi và Pháp. Trong điều kiện đó, ta cho phép một số lượng quân Pháp thế chỗ cho gần 200.000 quân của Tưởng Giới Thạch phải di tản ra khỏi nước ta càng sớm càng tốt. Vì vậy, chúng tôi đã có một thời gian thở để củng cố lực lượng của mình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Người Pháp ở Hà Nội chào đón những đoàn quân đến như những anh hùng chinh phạt. Người Việt Nam ở lại Việt Nam. Hồ Chí Minh sang Pháp để tiếp tục đàm phán. Nhưng nội các Pháp đã sụp đổ. Không có ai để thương lượng. Ông ấy phải đóng vai khách du lịch cho đến khi một liên minh mới được thành lập. Trong khi ông chờ đợi, chính quyền Pháp ở Sài Gòn, tự mình hành động, tuyên bố miền Nam Việt Nam tách khỏi miền Bắc. Đó là một sự vi phạm thỏa thuận tháng Ba và Hồ tự hỏi liệu có điểm nào để đàm phán thêm hay không. “Tôi có nên trở về nhà không?” ông ấy tự hỏi. Ông được cho biết chính phủ mới sẽ thẳng tay giải quyết vấn đề này ở Paris. Năm 1946, Hồ đã nổi tiếng là một người yêu nước trong một phần tư thế kỷ, và những người Việt Nam ở Paris đã quay ra chào đón vị chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Người Pháp chào hỏi một cách chính thức những người cộng sản kỳ cựu, với tư cách là một quốc trưởng. Vào thời điểm này ở Pháp, những người Cộng sản là một phần của chính phủ. Về mặt công khai, quan hệ thân mật, nhưng trên thực tế, các nhà đàm phán Pháp và Việt Nam rất xa nhau.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Các cuộc đàm phán, được tổ chức tại lâu đài lịch sử Fontainebleau, đã diễn ra tồi tệ. Người Việt khẳng định rằng miền nam Việt Nam là một phần của đất nước họ. Người Pháp bảo là không .

Thủ Tướng PHẠM VĂN ĐỒNG: Khi cuộc họp bắt đầu, trưởng phái đoàn Pháp, Max Andre, nói với tôi: “Chúng tôi chỉ cần một cuộc hành quân bình thường của cảnh sát trong tám ngày để quét sạch tất cả các người.” Không cần phải thương lượng.

Tướng JEAN-JULIEN FONDE: Giải pháp phải đến từ Fontainebleau. Sau đó các cuộc đàm phán tại Fontainebleau thất bại. Từ đó, các mối quan hệ xấu dần đi. Không khí đầy ảm đạm.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Thỏa thuận tháng Ba coi như đã chết. Với lực lượng của Pháp và Việt Minh ở cự ly gần, cuộc giao tranh ngày càng leo thang. Cả hai bên đều có những hành động khiêu khích. Tháng 11 năm 1946, Pháp pháo kích vào Hải Phòng. Nhiều sĩ quan Pháp tin rằng chỉ có vũ lực mới có thể ngăn chặn được Việt Minh.

HENRI MARTIN: Khi chúng tôi đến thăm Hải Phòng sau đó, tất cả các khu dân cư Việt Nam đã bị xóa sổ hoàn toàn. Có người chết bị chôn vùi dưới đống đổ nát … rất khó để biết con số chính xác. Nhưng phần lớn hơn của thành phố, đối với chúng tôi từ những gì chúng tôi nhìn thấy, gần như toàn bộ phần Việt Nam của thành phố đã bị phá hủy.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Tướng Fonde đã cố gắng tranh luận phản bác với Tướng Giáp.

Tướng JEAN-JULIEN FONDE: “Nghe này,” tôi nói, “Tôi biết chiến tranh: giết người, chết chóc, tàn phá, cầu bị nổ tung, nhà cháy. Đây là điều không thể tưởng tượng được. Chúng ta phải ngăn chặn điều này.” Anh ta nói với tôi, “Bạn nghe này. Chính trị đi trước kinh tế. Sự tàn phá không quan trọng. Cái chết – một triệu người Việt Nam chết – không quan trọng. Người Pháp cũng sẽ chết. Chúng tôi sẵn sàng. Nó sẽ kéo dài hai năm, năm năm nếu cần thiết. Chúng tôi sẽ không nhượng bộ nữa. “

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Cuối năm 1946, chính phủ của Hồ Chí Minh buộc phải rời khỏi Hà Nội, ra khỏi các thành phố. Cuộc chiến tranh Việt Nam đầu tiên đã bắt đầu. Người Pháp tự tin rằng họ có thể nhanh chóng quét sạch đội quân rởm của tướng Giáp. Họ là một đội quân hiện đại với vũ khí hiện đại, một số được mua bằng viện trợ của Hoa Kỳ. Việt Minh được sự ủng hộ rộng rãi của nông dân.

DƯƠNG VĂN KHÁNH: Tôi được nghe kể về Bác Hồ, người đã đấu tranh cho quyền lợi của nông dân và công nhân. Vì vậy, là một nông dân đã phải chịu đựng rất nhiều, tôi nhận ra rằng điều đúng đắn duy nhất đối với tôi là đi theo con đường tương tự.

NGUYỄN THỊ ĐỊNH: Lúc đầu chúng tôi không có vũ khí gì ngoài giáo tre. Nhưng ở miền Bắc nước ta, họ đang sản xuất vũ khí. Tôi được chỉ định vào đó để báo cáo tình hình miền Nam. Bác Hồ nói với tôi rằng Bác đã cưu mang miền Nam trong sâu thẳm trái tim, và tôi nên nói với Bác những gì chúng tôi cần để trung ương cung cấp cho chúng tôi để đánh Pháp và đuổi chúng ra khỏi đất nước. Tôi trả lời rằng chúng tôi cần súng. Bác Hồ nói rằng Trung ương chỉ có thể cấp cho chúng ta bao nhiêu khẩu súng vì họ không có nhiều. Điều chính, ông nói, là để bắt các khẩu súng của kẻ thù và sử dụng những khẩu súng này để chống lại chúng.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Người Pháp sa lầy trong một cuộc chiến cát lún. Họ tuyên bố một lần nữa rằng một khu vực “đã được bình định,” chỉ để thấy nó bị trượt trở lại quyền kiểm soát của Việt Nam. Du kích dường như có mặt ở khắp mọi nơi và không ở đâu cả. Trong một nỗ lực nhằm lấy sự ủng hộ của dân chúng khỏi Việt Nam, người Pháp đã tạo ra một chính phủ đối thủ của Việt Nam, Nhà nước Việt Nam. Với tư cách là người cai trị, người Pháp đã chọn cựu hoàng của Việt Nam, Bảo Đại. Nhưng họ đã đặt ra quá nhiều giới hạn đối với chế độ của ông ta đến nỗi đối với nhiều người Việt Nam, chế độ này dường như không hề độc lập.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: 1950 đã mang lại một nguồn trợ giúp mới cho Việt Nam. Lực lượng của Mao Trạch Đông đã đến biên giới Việt Nam, chiếm toàn bộ Trung Quốc. Họ mở rộng sự công nhận về mặt ngoại giao cho chính phủ của ông Hồ, quốc gia đầu tiên làm như vậy. Liên Xô nhanh chóng theo sau. Và một tuần sau, Hoa Kỳ công nhận quốc gia đối địch của Bảo Đại. Các đường dây đã được vẽ trong một cuộc Chiến tranh Lạnh tiếp tục.

DOUGLAS MACARTHUR II (cố vấn Bộ Ngoại giao): Vào đầu những năm 1950, Hoa Kỳ có khái niệm về chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa cộng sản quốc tế như một khối nguyên khối cứng của Trung Quốc và Nga, không có kẽ hở nào trong đó đang tìm cách mở rộng và giành vị trí thống trị trong thế giới. Ở châu Âu, họ đã đánh chiếm Đông Âu, đẩy sang Tiệp Khắc; và ở Đông Nam Á, một khu vực mà chúng tôi có mối quan tâm, họ dường như đang cố gắng làm điều tương tự.

Tổng thống HARRY TRUMAN, 1950: Chính nghĩa tự do đang bị thách thức trên khắp thế giới ngày nay bởi các lực lượng của chủ nghĩa cộng sản đế quốc …

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào tháng 5 năm 1950, lần đầu tiên Tổng thống Truman cho phép Hoa Kỳ viện trợ trực tiếp cho cuộc chiến của Pháp ở Đông Dương – 10 triệu đô la – khởi đầu cho cam kết của Hoa Kỳ.

Tổng Thống HARRY TRUMAN: … Họ đã chứng minh hết lần này đến lần khác rằng cuộc nói chuyện về hòa bình của họ chỉ là tấm áo choàng cho chủ nghĩa đế quốc.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Cam kết của Hoa Kỳ sâu sắc hơn sau khi quân đội Bắc Triều Tiên xâm lược Hàn Quốc vào cuối tháng 6 năm 1950.

DEAN RUSK: Vào cuối tuần xảy ra cuộc tấn công của Triều Tiên, chúng tôi đã quyết định tăng cường viện trợ rất đáng kể cho Pháp và Đông Nam Á. Bởi vì vào thời điểm đó, chúng tôi không biết liệu người Trung Quốc có thể cố gắng tiến vào khu vực đó như một phần của cuộc tổng tấn công ở châu Á hay không.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào cuối năm 1950, Hoa Kỳ đã viện trợ 150 triệu đô la cho lực lượng Pháp, bao gồm máy bay, xe tăng, nhiên liệu, đạn dược và bom napalm. Khi các chiến lược gia Hoa Kỳ nhìn vào châu Á, họ thấy một mối đe dọa từ Cộng sản đang lan rộng. Cuộc chiến ở Triều Tiên đã trở thành một cuộc chiến tranh quốc tế. Và tại Việt Nam, Việt Cộng đã liên kết với Trung Quốc Cộng sản. Năng lực chiến tranh của Việt Nam được cải thiện đáng kể.

Đại tá BÙI TÍN: Chúng tôi đã sử dụng vũ khí mới để tấn công quân Pháp. Chúng tôi đã có thể quét sạch hai đơn vị lớn của Pháp và thu giữ tất cả vũ khí của họ. Đã dọn đường cho liên lạc giữa Việt Nam và thế giới bên ngoài. Sau đó chúng tôi nhận được viện trợ quân sự từ Trung Quốc, đặc biệt là trang thiết bị.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Thất bại ở biên giới phía Bắc là một thảm họa đối với người Pháp. Chiến tranh Đông Dương không còn chỉ là một cuộc xung đột thuộc địa. Nó vẫn còn nhỏ, nhưng nó đã trở nên quốc tế, được các cường quốc lớn ủng hộ cả hai bên. Vào cuối năm 1953, Mỹ đã chi trả 80% chiến tranh, hơn một tỷ đô la mỗi năm. “Le jaunissement” – Việt Nam hóa chiến tranh của Pháp – và các chiến lược khác để giành được sự ủng hộ của Việt Nam đã thất bại. Người Pháp kiểm soát các thành phố, nhưng Việt Nam kiểm soát các vùng nông thôn. Người Pháp kiểm soát ban ngày; the Việt Minh, the night. Tướng Henri de Navarre trở thành chỉ huy thứ năm của Pháp trong vòng 5 năm.

Đại Úy JEAN POUGET: Khi Tướng Navarre đến, ông ấy đã mở ngay một tệp và trên tệp đó tôi viết “Mục tiêu Chiến tranh”. Chúng tôi tìm kiếm những gì để nói với quân đội. Chà, cho đến cuối tập tin này thực tế vẫn trống. Chúng tôi không bao giờ có thể thể hiện một cách cụ thể mục tiêu chiến tranh của mình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Tướng Navarre đã thử một chiến lược mới khác. Các đơn vị của Pháp được thiết lập ở những vùng xa xôi, được cung cấp bằng đường hàng không. Nhiệm vụ của họ là truy lùng và tiêu diệt Việt gian.

Người Pháp đã lên kế hoạch thí nghiệm chiến lược mới trong một vùng thung lũng ở đối núi miền Tây để dụ Việt Minh vào bẫy, cách xa Hà Nội 170 dặm (272 cây số): Điện Biên Phủ  

Việt Nam đã đi qua thung lũng trong một cuộc tấn công lớn vào Lào. Người Pháp mong đợi một cuộc tấn công khác và cho rằng Điện Biên Phủ   sẽ là nơi giao tranh với họ. Vào tháng 11 năm 1953, 12.000 quân Pháp bắt đầu thả xuống thung lũng, dưới sự chỉ huy của Đại tá Christian de Castries. Bộ chỉ huy cao nhất của Pháp ở Sài Gòn chắc chắn rằng Tướng Giáp sẽ không bao giờ có thể tập trung đủ số lượng quân xung quanh Điện Biên Phủ , không bao giờ cho pháo hạng nặng lên đồi, không bao giờ mở các đường tiếp tế. Ban chỉ huy tại Điện Biên Phủ cũng tự tin không kém. Sĩ quan pháo binh khẳng định rằng không một khẩu súng Việt Nam nào bắn được quá ba viên đạn.

CAPTAIN JEAN POUGET: Tôi đã thấy tất cả các loại chính quyền dân sự và quân sự đi qua Dienbienphu. Trừ khi trí nhớ của tôi hoàn toàn bị bóp méo, tôi không nhớ một ai, tuyệt đối không một ai trong số những nhà chức trách này không phát hiện ra rằng Dienbienphu là một căn cứ đáng gờm. Đó là vùng đất và căn cứ không quân tuyệt vời, nó “không thể nhầm lẫn.”

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việt Minh coi Điện Biên Phủ là một cơ hội lớn, nhưng cũng là một canh bạc lớn. Lực lượng của Hồ Chí Minh đã thất bại nặng nề trong các cuộc tấn công vào các cứ điểm khác của quân Pháp. Nhưng họ quyết định mạo hiểm.

Đại Úy CAO XUÂN NGHĨA: Từ Thái Nguyên, chúng tôi mất khoảng 45 ngày. Chúng tôi hành quân vào ban đêm và nghỉ ngơi vào ban ngày. Đôi khi chúng tôi chỉ ngủ ở ven đường nếu không có nơi trú ẩn xung quanh.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Bộ chỉ huy Pháp đã mời một trận chiến vì họ nghĩ rằng Việt Nam sẽ không bao giờ có đủ quân và súng đến Điện Biên Phủ. Nhưng họ đã làm. Năm mươi mốt ngàn lính Việt Nam – quân số gấp bốn lần quân Pháp – vượt núi, vác đồ tiếp tế trên lưng, xe đạp thồ, vác súng.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Cả hai bên đều có lý do đặc biệt khi muốn giành chiến thắng tại Đện Biên Phủ. Cùng lúc này, tháng Giêng năm 1954, các cường quốc đang họp tại Berlin. Họ ấn định ngày và địa điểm – ngày 26 tháng 4 tại Geneva – để gặp gỡ và thảo luận về các vấn đề châu Á, trong đó có cuộc khủng hoảng Đông Dương. Ngày 13 tháng 3, Giáp mở cuộc tấn công vào Điện Biên Phủ. Trận chiến bắt đầu với các cuộc tấn công “biển người” lớn. Các khẩu pháo của Việt Minh đã che chắn pháo binh Pháp từ các vị trí được đào và ngụy trang rất kỹ nên máy bay Pháp không thể bắn trúng được. Bài học đầu tiên đã bị rớt trong vòng tám giờ. Đến ngày hôm sau, ngày 14 tháng 3, trận pháo kích của Việt Minh đã phá hủy phi đạo chính. Bộ tham mưu Pháp bị sốc. Đại tá de Castries trở nên thu mình, thiếu thông thạo. Vào đêm thứ hai, người chỉ huy pháo binh Trung tá Charles Piroth đã tự sát nói rằng, “Tôi hoàn toàn bị ô nhục.” Bốn ngày sau trận chiến, Việt Minh đã kiểm soát toàn bộ chu vi. Cái giá phải trả là rất cao: hàng ngàn người chết và bị thương trong số những người Việt Nam. Giáp quyết định thay đổi chiến lược.

Tướng GIÁP: Quyết định ở mặt trận Dienbienphu đối với tôi là một trong những quyết định lớn nhất và khó khăn nhất trong cuộc đời chiến đấu của tôi.

Đại tá BÙI TÍN: Với tư cách chỉ huy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định chấm dứt cuộc tấn công này theo chiến thuật sóng người. Toàn bộ kế hoạch đã được thay đổi. Cuộc tấn công bị dừng lại và toàn bộ số pháo hạng nặng được kéo lùi về một phía xa. Sau đó, các chiến hào, địa đạo được đào và xây dựng lại tinh thần của bộ đội dựa trên khẩu hiệu: “Tiến công kiên cố, chiến đấu kiên cố.” Xẻng trở thành vũ khí vô cùng quan trọng. Tất cả các cán bộ, chiến sĩ đều dồn hết thời gian, sức lực vào việc đào hào, hầm. Chúng tôi từ từ bao vây Dienbienphu bằng các chiến hào, khoét vào phi đạo để nó không thể sử dụng được nữa, từ từ thắt thòng lọng quanh cổ quân Pháp.

LƯU Ý: Khi phi đạo ra ngoài, quân Pháp đồn trú phụ thuộc vào việc thả dù, nhưng hỏa lực phòng không Việt Nam buộc các phi công phải bay quá cao. Vật tư bắt đầu rơi vào tay kẻ thù. Sự thay đổi chiến lược của Tướng Giáp đã phát huy tác dụng, và ông đã giải quyết được một cuộc vây hãm lâu dài. Đối với người Pháp, Dienbienphu trở thành cơn ác mộng. Mùa mưa bắt đầu sớm với những cơn mưa như trút nước. Các hầm trú ẩn và hầm trú ẩn của quân Pháp bị sụp đổ. Nước sạch trở nên không thể tìm thấy. Vật tư y tế đã hết. Không máy bay nào có thể hạ cánh để sơ tán những người bị thương. Những người đàn ông bị thương trong chiến hào chìm dưới lớp bùn cao bằng thước để chết.

JEAN POUGET: Tôi đến vào đêm ngày 2 tháng 5 và Dienbienphu rơi vào ngày 7 tháng 5. Kỉ niệm tôi lưu giữ về nó là một khối thời gian. Không có ngày hay đêm. Tôi không bao giờ nằm. Tôi chưa bao giờ ngủ. Tôi không nhớ đã ăn. Bốn giờ sáng tạm lắng. 35 người chúng tôi ở lại đồn của tôi, với một khẩu súng máy, một trái lựu đạn. Vì vậy, tôi hỏi trên đài phát thanh, tôi nói, “Vì anh không thể gửi quân tiếp viện …” Anh ta nói, “Anh muốn tôi lấy chúng ở đâu? Anh biết là không còn gì cả.” “Vậy thì cho tôi ủy quyền đi ra ngoài.” Anh ta trả lời rất đơn giản, “Không thể nào. Anh là lính dù, anh phải ở đó để chết.” Chúng tôi dựng một rào chắn bằng xác chết ở lối vào vì chúng tôi không có bao cát, và chúng tôi chờ đợi. Và chúng tôi nhìn thấy những bóng đen lần lượt đến, Việt Minh. Tôi quyết định ném lựu đạn và chúng tôi ngay lập tức bị bắn trả. Một trong những ấn tượng cuối cùng của tôi là cảm thấy bức tường xác chết rùng mình dưới ngọn lửa bùng lên. Sau đó, một quả lựu đạn chắc chắn đã trúng vào mũ bảo hiểm của tôi vì lưới bị cháy và mũ bảo hiểm bị móp. Mũ bảo hiểm của Mỹ rất chắc chắn. Tôi bất tỉnh và khi tôi đến, phía trên tôi, rất gần, một chiếc mặt nạ của một bác sĩ phẫu thuật, từ đó vang lên một giọng nói: “Anh là tù binh của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Mặc dù các quay phim chiến đấu của Việt Nam có mặt tại Dienbienphu, nhưng các cảnh quay về trận chiến kéo dài 55 ngày đã được đạo diễn Liên Xô dựng lại sau trận Pháp bại trận. Một số phân cảnh phim là chân thực, một số tái hiện. Điện Biên Phủ khiến quân Pháp 1.500 người chết, 4.000 người bị thương, 10.000 người bị bắt làm tù binh. Nhiều người trong số các tù nhân đã chết trong các trại Việt Nam. Chiến thắng của Việt Nam tại Điện Biên Phủ còn khiến họ thiệt hại nhiều hơn: 8.000 người chết, 15.000 người bị thương.

JOHN FOSTER DULLES, tháng 6 năm 1954:

Tất cả các bạn đều biết rằng Pháp và đồng minh Việt Nam của họ đã phải hứng chịu những pha đảo ngược, đáng chú ý là sự thất thủ của Điện Biên Phủ sau một pha phòng ngự tuyệt vời. Tình hình hiện tại là nghiêm trọng, nhưng không có nghĩa là vô vọng. Trong hội nghị hiện nay tại Geneva, chúng tôi và các quốc gia tự do khác đang tìm kiếm một công thức để cuộc chiến có thể kết thúc và nhân dân Đông Dương đảm bảo độc lập thực sự. Cho đến nay, thái độ của Cộng sản tại Geneva là không đáng khích lệ.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Hội nghị Geneva gần như sa lầy ngay lập tức. Phái đoàn Hoa Kỳ được lệnh phải theo dõi và không được nói chuyện.

U. ALEXIS JOHNSON: Hướng dẫn của tôi là đi họp. Không tham gia vào họ và không đồng ý bất cứ điều gì ngoài việc ở đó và ngồi vào bàn. Và tôi thấy rằng một công việc rất khó khăn, ngồi vào bàn mà mọi người đang thảo luận và đưa ra một số kết luận mà không đồng ý với họ; trong những tình huống mà bản thân sự im lặng có xu hướng đồng ý. Tôi có thể nói với bạn rằng tôi đã rất rất rất không hạnh phúc và đổ mồ hôi rất rất rất tự do.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Hoàng đế Bảo Đại, người đứng đầu Nhà nước Việt Nam, cũng đã cử một phái đoàn đến Geneva.

BẢO ĐAI: Tôi đã được nói rằng tôi nên chấp nhận những người Cộng sản tại bàn hội nghị. Tôi nói: “Không, chỉ có một nhà nước Việt Nam. Đó là Cộng sản là những kẻ nổi loạn.” Với lập trường kiên quyết của tôi, họ đã biến hội nghị chính trị thành hội nghị quân sự.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào tháng 6, nội các Pháp sụp đổ, và một thủ tướng mới lên nắm quyền, một người chỉ trích cuộc chiến, Pierre Mendes-France. Mendes-France đã thực hiện lời hứa với Quốc hội Pháp. Nếu không giải quyết được vấn đề Đông Dương tại Geneva trong vòng 30 ngày, ông sẽ từ chức. Hoa Kỳ lo sợ điều này có nghĩa là Pháp có thể từ bỏ Đông Dương cho Cộng sản.

U. ALEXIS JOHNSON: Washington hoàn toàn không rõ ràng về loại thỏa thuận mà Mendes-France đang đề xuất thực hiện hoặc thỏa thuận nào mà ông ấy sẽ thực hiện – và nếu thỏa thuận sẽ là thứ mà chúng ta có thể sống hoặc chấp nhận , hoặc liệu chúng ta có phải tố cáo nó hay không và thực tế là phải bước ra khỏi hội nghị.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Sau nhiều cuộc điều động bí mật, một tuần trước thời hạn của mình, Mendes-France đã đưa tất cả những người tham gia vào vị trí tại Geneva. Vào ngày 20 tháng 7, một ngày trước thời hạn, hai vấn đề vẫn chưa được giải quyết.

PHẠM VĂN ĐỒNG: Tại hội nghị có hai vấn đề được thảo luận: Một là đường phân giới tạm thời giữa hai miền. Và ngày kia là ngày tổng tuyển cử thống nhất đất nước Việt Nam. Hai vấn đề này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Điều đó đã rất rõ ràng.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việt Nam, trước chiến thắng tại Điện Biên Phủ, đã cứng rắn trong cả hai vấn đề, nhưng vào ngày cuối cùng, Liên Xô và Trung Quốc đã buộc họ phải thỏa hiệp. Việt Nam, người kiểm soát phần lớn đất nước, sẽ nhận được ít hơn một nửa. Các cuộc bầu cử để thống nhất Việt Nam sẽ diễn ra; Không phải sớm, khi chắc chắn Việt Nam sẽ vô địch, mà là hai năm nữa. Họ đã bị cắt giảm bởi các đồng minh của họ. Người Liên Xô và người Trung Quốc có một số động cơ, trong số đó, là sự sợ hãi; nếu Mendes-France thất bại, Pháp có thể tiếp tục chiến đấu và Mỹ có thể can thiệp.

PREMIER PIERRE MENDES-PHÁP, ngày 21 tháng 7 năm 1954:

Lý trí và hòa bình đã chiến thắng. Sau những ngày đêm đàm phán cam go, đầy lo lắng và hy vọng, lệnh ngừng bắn đã được ký kết. Trong tâm hồn và lương tâm của tôi, tôi chắc chắn rằng đây là những điều kiện tốt nhất mà chúng tôi có thể hy vọng trong tình trạng hiện tại của mọi thứ.

U. ALEXIS JOHNSON: Cảm giác của riêng tôi khi kết thúc hội nghị là chúng tôi có lẽ đã thu được gần như tất cả những gì có thể thu được trong bối cảnh tình hình thực tế. Tôi không, tôi không nghĩ chúng ta có thể kiếm được nhiều hơn thế. Nhưng tôi phải nói rằng thành thật mà nói, tôi không mấy lạc quan rằng miền Nam Việt Nam sẽ có thể tồn tại.

Đại tá BÙI TÍN: Chúng tôi nghĩ rằng sau khi ký các hiệp định, người Pháp bây giờ sẽ bị dư luận thế giới buộc phải thực hiện các hiệp định Genève. Và chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng sẽ có một cuộc tổng tuyển cử được tổ chức sau hai năm nữa, và khi đó Cách mạng chắc chắn sẽ thắng lợi. Vì vậy, chúng tôi chào nhau, “Trong hai năm!” Chúng tôi dự kiến sẽ có một cuộc tổng tuyển cử và thống nhất trong hai năm.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào mùa thu năm 1954, Việt Nam đã hành quân vào Hà Nội, lấy lại từ tay người Pháp những gì họ đã mất tám năm trước đó. Đối với Mỹ và thế giới, có vẻ như Việt Nam cũng sẽ sớm tiến quân vào Sài Gòn, khi người Pháp rút quân, lấy đi mọi thứ: nhà cửa, xe tải, nhà máy, thậm chí cả xác chết của họ.

Among them was Ho Chi Minh.

Ho Chi Minh’s early years are difficult to trace. He was always mysterious about himself, giving few interviews, and preferring in later life to present himself as the benevolent “Uncle Ho.” Ho was born about 1890 as Nguyen Tat Thanh, the son of an official who resigned rather than serve under the French. As a young man, Ho left his country, working as a shiphand and cook in America, Britain and France.

In 1917, Ho moved to Paris. He took the pseudonym Nguyen Ai Quoc, “Nguyen the Patriot,” and began to agitate for Vietnam’s independence. He tried to plead his cause at the Versailles Conference following World War I, but was not admitted. His effort made him famous among the Vietnamese in France.

In 1920, Nguyen Ai Quoc became a founding member of the French Communist Party, the first Vietnamese Communist. He remained in France editing an anti-colonial paper called Le Paria (The Outcast), and supporting himself as a photographer’s assistant. His drawings, published in the newspaper, showed he was still concerned with Vietnam, which he had not seen for ten years.

The Communists sent him to Moscow for training in 1923.

He travelled widely, organizing expatriate Vietnamese into a revolutionary party. Reports during the next 17 years placed him in Germany, China, Thailand, France, Russia.

FRENCH NEWSREEL:
Pathe Journal presents a review of achievements accomplished under the protection of our flag.

In regions of hostility and misery French civilizers have brought peace, work, prosperity and joy.

The French overseas domain is an essential part of the world’s economy, an active force of civilization and a glorious testimony to the grandeur of France.

NARRATOR: World War II brought the end of this “grandeur of France.” Japan, pursuing its conquest of China, wanted to block the transport of war material through Vietnam. In June 1940, three days after France fell to Nazi Germany, Japan demanded the right to land forces in Indochina.

Japan’s arrival deeply impressed the Vietnamese. Asians like themselves had overthrown the European colonials — for it was clear who was in charge.

NARRATOR: The Japanese supported several Vietnamese nationalist groups. But other groups were both anti-French and anti-Japanese. The most important was the Vietminh, founded in 1941 by Nguyen Ai Quoc. He had returned to Vietnam after 30 years, with a new name: Ho Chi Minh, meaning, “He Who Enlightens.”

HOANG QUOC VIET: After the conference to establish the Vietminh, Uncle Ho sent out a letter calling for the support of the population. And it was this that rallied the entire country around the movement. And when people realized that Ho Chi Minh was actually Nguyen Ai Quoc, their trust in the movement was further established. This was because the name Nguyen Ai Quoc had been widely known in the country. People knew that he was a great patriot.

NARRATOR: The Vietminh organized guerrilla bases, trained cadres, harassed the French and Japanese and spread propaganda, urging the peasants to resist.

INTERVIEWER: Why did the Vietminh fight the Japanese while other Asian nationalists collaborated?

PREMIER PHAM VAN DONG: (Laugh) I apologize, but this is a very funny question. At that time, the Japanese had already overthrown the French and began to dominate our country, so of course we had to fight the Japanese.

NARRATOR: By early 1945, Vietnam was suffering a terrible famine. People blamed the French and Japanese, who were hoarding rice, feeding it to Japanese troops, and even exporting it to Japan — while an estimated two million Vietnamese out of eight million in the northern areas died.

DR. TRAN DUY HUNG: At that time, in our estimate, at least 40,000 starving, poor peasants arrived in Hanoi to beg for food and to wait for handouts, for alms. The French did not organize any hunger relief. And the Japanese specifically forbade us to carry out any hunger relief effort of our own. People dug into the garbage dumps in order to find any edible thing at all. They also ate rats. But this was not enough to keep them alive.

NARRATOR: The Vietminh organized the peasants to seize rice stocks, and gained tremendous prestige. This peasant support gave them a political edge they never lost.

PRESIDENT FRANKLIN D. ROOSEVELT, March 1, 1945:
It’s a long tough road to Tokyo. It is longer to go to Tokyo than it is to Berlin, in every sense of the word. The defeat of Germany will not mean the end of the war against Japan…

NARRATOR: As the war in Europe drew to a close, Allied attention turned to Asia and the war against Japan. One of the pressing needs was intelligence. The Vietminh believed Allied statements supporting the rights of oppressed peoples. They had given the Allies information about Japanese troop movements, so the Americans turned to the Vietminh and its leader, Ho Chi Minh.

ARCHIMEDES PATTI (O.S.S. Officer): I first met Ho on the China border between China and Indochina in the last days of April of 1945. He was an interesting individual. Very sensitive, very gentle, rather a frail type. We spoke quite at length about the general situation, not only in Indochina, but the world at large.

ABBOT LOW MOFFAT: We knew he was a Communist, but we also felt, as they did, and the way anybody who has known, met Ho Chi Minh, who I’ve ever talked with, had the same feeling: he was first a nationalist, and second a Communist. That is, he was interested in getting the independence of his people and then he thought probably the best thing for them was the Communist type of government. But he was a nationalist first and foremost.

NARRATOR: The Vietminh agreed to help the Allies. Major Patti sent a training group, the Deer Mission, into the northern mountains.

ARCHIMEDES PATTI: The Deer team went in and they organized. Out of about 500 Vietnamese, we selected, with the help of General Giap, selected 200. We spent the next four weeks training these young men into the art of using automatic weapons, demolition equipment, infiltrating and exfiltrating into various dangerous areas. There, for the first time, we saw what kind of troops the Vietminh were. They were a very willing, fine young nationalist, really what we used to say “gung ho” type. They were willing to risk their lives for their cause, the cause of independence against the French.

NARRATOR: Before Ho’s men could prove their willingness, World War II was over.

The sudden Japanese collapse took many in French Indochina by surprise, but the Vietminh were ready for what they called the “August Revolution.” Declaring Vietnam independent, they marched in to take Hanoi peacefully. Ho Chi Minh formed a government in Hanoi, carefully mixing in members of other nationalist groups. But in the South, away from Ho’s moderating influence, his followers started purging rival nationalists. Still with the Vietminh, and perhaps reinforcing the idea of American support, was the OSS.

ARCHIMEDES PATTI: Two or three days after I met Ho, he asked me to come in and stop and see him at which time he wanted to show me something, and what he wanted to show me was a draft of the Declaration of Independence that he was going to declare several days later. Of course, it was in Vietnamese and I couldn’t read it and when it was interpreted to me, I was quite taken aback to hear the words of the American Declaration of Independence. Words about liberty, life and the pursuit of happiness, etcetera. I just couldn’t believe my own ears.

NARRATOR: On September 2, 1945, on board the U.S.S. Missouri in Tokyo Bay, Japan formally surrendered. On the same day throughout Vietnam, the Vietnamese celebrated their self-proclaimed Independence Day and the formation of a new country, the Democratic Republic of Vietnam. In Hanoi, Ho Chi Minh read a speech that began, “All men are created equal. They are endowed by their creator with certain inalienable rights…”

DR. TRAN DUY HUNG: I can say that the most moving moment was when President Ho Chi Minh climbed the steps and the national anthem was sung. It was the first time that the national anthem of Vietnam was sung in an official ceremony. Uncle Ho then read the Declaration of Independence, which was a short document. As he was reading, Uncle Ho stopped and asked, “Compatriots, can you hear me?” This simple question went into the hearts of everyone there. After a moment of silence, they all shouted, “Yes, we hear you!” And I can say that we did not just shout with our mouths but with all our hearts, the hearts of over 400,000 people standing in the square then. After Uncle Ho finished reading the Declaration of Independence, an airplane, a small plane, circled over us. We did not know whose plane it was. We thought that it was a Vietnamese plane. But when it swooped down over us, we recognized the American flag. The crowd cheered enthusiastically.

NARRATOR: Ho appealed to President Harry Truman but he would probably have accepted anyone’s support. Truman did not respond to Ho’s letters. He had been in office only four months in August 1945 and had not had time to formulate a policy on Indochina.

ABBOT LOW MOFFAT: There was quite a division in the State Department over Indochina. Both the Far Eastern office and the European office were in complete agreement that we wanted a strong France recovered in Europe from the trauma of Vichy and the defeat in the war, but the European division felt that to help get the French back on their feet we should go along with practically anything that the French wanted.

NARRATOR: The Allies had worked out a compromise plan to disarm the Japanese. Above the 16th parallel, the Chinese would take the surrender of Japanese troops. The British would do the same in the South. They arrived in Saigon in early September.

NARRATOR: The British commander, General Douglas Gracey, was a seasoned colonial officer with limited political experience. His orders were to disarm the Japanese, and maintain law and order.

MAJ. PHILIP MALINS: He had absolutely no mandate whatever to start talking about handing over French Indochina to anyone other than the French. He had his straight, strict instructions.

NARRATOR: The Vietminh fought back, but they had few weapons to use against the French troops, and the Vietminh’s brutal tactics alienated other southern nationalists.

The French regained control. In the North, Ho’s Vietminh had widespread support, but they also faced a problem: 150,000 Nationalist Chinese troops. The Chinese came to disarm the Japanese. They stayed to loot and disrupt and they threatened to remain indefinitely.

Desperate to expel the Chinese, Ho Chi Minh negotiated with the French. In March 1946, they reached an agreement. The French colonial authorities displayed their power as Ho Chi Minh, President of the Democratic Republic of Vietnam, came to confirm the agreement permitting French troops back for a limited period. In return, France recognized the new Vietnamese state, and the Chinese army left. Ho Chi Minh was gambling that the French would not try to seize power, and that a long-range agreement could eventually be negotiated.

GENERAL VO NGUYEN GIAP: A truce was concluded. There were to be future negotiations to settle the problems between us and France. Under these conditions, we allowed a certain number of French troops to take the place of the nearly 200,000 troops of Chiang Kai-shek, which were to evacuate our country as soon as possible. So we had some breathing time to consolidate our forces.

NARRATOR: The French in Hanoi greeted the arriving troops as conquering heroes. The Vietnamese stayed home. Ho Chi Minh travelled to France to continue the negotiations. But the French cabinet had collapsed. There was no one to negotiate with. He had to play tourist until a new coalition was formed. While he waited, the French administration in Saigon, acting on its own, declared the southern part of Vietnam separate from the North. It was a violation of the March agreement and Ho wondered if there was any point to further negotiations. “Should I go back home?” he asked. He was told the new government would straighten it out in Paris. In 1946, Ho had been famous as a patriot for a quarter of a century, and the Vietnamese in Paris turned out to welcome this first president of an independent Vietnam. The French greeted the veteran Communist formally, as a chief of state. At the time in France, Communists were part of the government. In public, relations were cordial, but in fact the French and Vietnamese negotiators were far apart.

NARRATOR: The negotiations, held at the historic Fontainebleau chateau, went badly. The Vietnamese insisted that southern Vietnam was part of their country. The French would not budge.

PREMIER PHAM VAN DONG: When the meeting began, the chief of the French delegation, Max Andre, said to me: “We only need an ordinary police operation for eight days to clean all of you out.” There was no need for negotiations.

GENERAL JEAN-JULIEN FONDE: The solution had to come from Fontainebleau. Then the negotiations at Fontainebleau failed. From then on, relationships deteriorated. The climate deteriorated.

NARRATOR: The March agreement was dead. With French and Vietminh forces at close range, the fighting escalated. There were provocations on both sides. In November 1946, the French shelled Haiphong. Many French officers believed only force would stop the Vietminh.

HENRI MARTIN: When we visited Haiphong afterwards, all the Vietnamese neighborhoods were completely wiped out. There were dead buried under debris… it is difficult to know the exact figure. But the larger part of the city, it seemed to us from what we saw, almost the entire Vietnamese part of the city had been destroyed.

NARRATOR: General Fonde tried to reason with General Giap.

GENERAL JEAN-JULIEN FONDE: “Listen,” I said, “I know war: murders, deaths, destruction, bridges blown up, burning houses. This is unthinkable. We have to prevent this.” He said to me, “You listen. Politics come before economics. The destruction is not important. The deaths — one million Vietnamese deaths — not important. The French will die too. We are ready. It will last two years, five years if necessary. We will no longer give in.”

NARRATOR: By late 1946, Ho Chi Minh’s government was forced out of Hanoi, out of the cities. The first Vietnam war had started. The French were confident that they could wipe out Giap’s ragtag army quickly. They were a modern army with modern weapons, some bought with U.S. aid. The Vietminh had widespread support from the peasants.

DUONG VAN KHANH: I heard about Uncle Ho who fought for the rights of the peasants and the workers. So as a peasant who has suffered a lot, I realized that the only correct thing for me to do was to follow the same path.

NGUYEN THI DINH: At first we did not have any weapons except for bamboo spears. But in the northern part of our country, they were producing arms. I was appointed to go there to report on the situation in the South. Uncle Ho told me that he carried the South in the depth of his heart, and I should tell him what we needed so that the central government could supply us to fight the French and drive them out of the country. I replied that we needed guns. Uncle Ho said that the central government could only give us so many guns because they did not have many. The main thing, he said, was to capture the enemy’s guns and use these guns against them.

NARRATOR: The French bogged down in a quicksand war. Again and again they declared an area “pacified,” only to find it slipping back into Vietminh control. The guerrillas seemed to be everywhere and nowhere. In an attempt to take popular support away from the Vietminh, the French created a rival Vietnamese government, the State of Vietnam. As its ruler, the French picked Vietnam’s former emperor, Bao Dai. But they placed so many limitations on his regime that to many Vietnamese it did not seem at all independent.

NARRATOR: Nineteen-fifty brought a new source of help to the Vietminh. Mao Zedong’s forces arrived at Vietnam’s borders, having taken all of China. They extended diplomatic recognition to Ho’s government, the first country to do so. The Soviet Union followed quickly. And a week later, the United States recognized Bao Dai’s rival state. Lines were being drawn in a continuing Cold War.

DOUGLAS MACARTHUR II (State Department counselor): In the early 1950s, the United States had a concept of communism, international communism as a hard monolithic block of China and Russia with no crevices in it that were seeking to expand and gain a dominant position in the world. In Europe, they had taken over Eastern Europe, pushed into Czechoslovakia; and in Southeast Asia, an area in which we had interests, they seemed to be trying to do the same thing.

PRESIDENT HARRY TRUMAN, 1950:
The cause of freedom is being challenged throughout the world today by the forces of imperialistic communism…

NARRATOR: In May 1950, for the first time, President Truman authorized direct U.S. aid for the French war in Indochina — $10 million — the beginning of an American commitment.

PRESIDENT HARRY TRUMAN:
…They have proved time after time that their talk about peace is only a cloak for imperialism.

NARRATOR: The U.S. commitment deepened after North Korean troops invaded South Korea at the end of June, 1950.

DEAN RUSK: It was decided on the very weekend of the North Korean attack that we would step up our aid very significantly to the French and to Southeast Asia. Because we did not know at that point whether or not the Chinese might attempt to move into that area as part of a general offensive in Asia.

NARRATOR: By the end of 1950, the United States had given $150 million in aid to the French forces, including planes, tanks, fuel, ammunition and napalm. As U.S. strategists looked at Asia, they saw a spreading Communist menace. The fight in Korea had become an international war. And in Vietnam, the Vietminh had linked up with Communist China. Vietminh war capacities improved dramatically.

COLONEL BUI TIN: We used the new weapons to mount offensives against the French. We were able to wipe out two large French units and capture all their weapons. The way was cleared for communications between Vietnam and the outside world. Then we received military aid from China, especially equipment.

NARRATOR: The defeats on the northern border were a disaster for the French. The Indochina war was no longer just a colonial conflict. It was still small, but it had become international, supported on both sides by major powers. By the end of 1953, America was paying 80 percent of the war, over a billion dollars a year. “Le jaunissement” — France’s Vietnamizing of the war — and other strategies to gain Vietnamese support had failed. The French controlled the cities, but the Vietminh controlled the countryside. The French controlled the day; the Vietminh, the night. General Henri de Navarre came in as the fifth French commander in five years.

CAPTAIN JEAN POUGET: When General Navarre arrived, he opened a file right away and on that file I wrote “War Goals.” We looked for what to tell the troops. Well, until the end this file remained practically empty. We never could express concretely our war goals.

NARRATOR: General Navarre tried yet another new strategy. French units were set up in remote areas, supplied by air. Their mission was to search out and destroy the Vietminh.

The French planned to test their new strategy in a valley set among the western mountains, 170 miles from Hanoi: Dienbienphu. The Vietminh had passed through the valley during a major attack on Laos. The French expected another attack and thought Dienbienphu would be the place to engage them. In November 1953, 12,000 French troops began dropping into the valley, under the command of Colonel Christian de Castries. The top French command in Saigon was sure that Giap would never be able to mass enough troops around Dienbienphu, never get heavy artillery up the hills, never keep supply lines open. The command at Dienbienphu was equally confident. The artillery officer insisted that no Vietminh gun would be able to fire more than three rounds.

CAPTAIN JEAN POUGET: I saw all sorts of civilian and military authorities go through Dienbienphu. Unless my memory is completely twisted, I don’t remember a single one, absolutely not a single one of these authorities who didn’t find that Dienbienphu was a formidable base. It was the great land and air base, it was “untakeable.”

NARRATOR: The Vietminh saw Dienbienphu as a great opportunity, but a great gamble, too. Ho Chi Minh’s forces had lost heavily in attacks on other French strong points. But they decided to take the risk.

CAPTAIN CAO XUAN NGHIA: From Tahinguyen it took us about 45 days. We marched at night and rested during the day. Sometimes we just slept on the roadsides if there were no shelters around.

NARRATOR: The French command was inviting a battle because they thought the Vietminh would never be able to get enough troops and guns to Dienbienphu. But they did. Fifty-one thousand Vietminh soldiers — four times the number of French troops — crossed the mountains, carrying supplies on their backs and bicycles, and hauling guns.

NARRATOR: Both sides had a special reason for wanting to win at Dienbienphu. At this same time, January 1954, the great powers were meeting in Berlin. They set a date and place — April 26 in Geneva — to meet and discuss Asian issues, including the Indochina crisis. On March 13, Giap launched his attack on Dienbienphu. The battle began with massive “human wave” assaults. The Vietminh guns blanketed French artillery from positions so well dug in and camouflaged that the French planes could not get at them. The first post fell within eight hours. By the next day, March 14, the Vietminh shelling had destroyed the main airstrip. The French command staff was shocked. Colonel de Castries became withdrawn, uncommunicative. On the second night the artillery commander committed suicide saying, “I am completely dishonored.” Four days into the battle, the Vietminh controlled the entire perimeter. The cost was high: thousands were dead and wounded among the Vietminh. Giap decided to change strategy.

GENERAL GIAP: This decision on the Dienbienphu front constitutes for me one of the biggest and the most difficult decisions in my fighting life.

COL. BUI TIN: As commander, General Vo Nguyen Giap decided to end this attack based on the human-wave tactic. The entire plan was changed. The attack was stopped and all the heavy artillery pieces were pulled back to a distance. Then trenches and tunnels were dug and the morale of the troops was rebuilt based on the slogan: “Advance solidly, Fight solidly.” Shovels became extremely important weapons. All the cadres and soldiers put most of their time and energy into digging trenches and tunnels. We slowly surrounded Dienbienphu with trenches, cutting into the airstrip so it could not be used again, slowly tightening the noose around the necks of the French.

NARRATOR: With the airstrip out, the French garrison was dependent on parachute drops, but Vietminh anti-aircraft fire forced pilots to fly too high. Supplies began falling into enemy hands. General Giap’s change in strategy was working, and he settled in for a long siege. For the French, Dienbienphu became a nightmare. The rainy season started early with drenching downpours. French dugouts and shelters collapsed. Clean water became impossible to find. Medical supplies ran out. No planes could land to evacuate the wounded. Men who were wounded in the trenches sunk under the yard-high mud to die.

JEAN POUGET: I arrived during the night of May 2, and Dienbienphu fell on May 7. The memory I keep of it is one block of time. There was no day or night. I never lay down. I never slept. I don’t remember eating. At four o’clock in the morning there was a lull. We were 35 left at my post, with one machine gun, one grenade left. So I asked on the radio, I said, “Since you cannot send reinforcements…” He said, “Where do you want me to get them? You know there is nothing left.” “Then give me the authorization to get out.” He answered very simply, “No way. You’re paratroopers, you’re there to die.” We built a barricade with corpses at the entrance since we had no sandbags, and we waited. And we saw the shadows coming one by one, the Vietminh. I decided to throw my grenade and we immediately got return fire. One of my last impressions was to feel the wall of corpses shivering under the burst of fire. Then a grenade must have hit my helmet because the net was burned and the helmet dented. American helmets are very solid. I lost consciousness and when I came to, there was above me, very close, a surgeon’s mask from which a voice came: “You are a prisoner of the army of the Democratic Republic of Vietnam.

NARRATOR: Though Vietminh combat cameramen were present at Dienbienphu, scenes of the 55-day battle were restaged by a Soviet director after the French defeat. Some of the film sequences are authentic, some re-enacted. Dienbienphu cost the French 1,500 dead, 4,000 wounded, 10,000 taken prisoner. Many of the prisoners died in Vietminh camps. The Vietminh victory at Dienbienphu cost them even more: 8,000 dead, 15,000 wounded.

JOHN FOSTER DULLES, June 1954:
You are all aware that the French and their Vietnam ally have suffered reverses, notably the fall of Dienbienphu after a superb defense. The present situation is grave, but by no means hopeless. In the present conference at Geneva, we and other free nations are seeking a formula by which the fighting can be ended and the people of Indochina assured true independence. So far the Communist attitude at Geneva is not encouraging.

NARRATOR: The Geneva Conference bogged down almost immediately. The United States delegation was ordered to watch and not to talk.

U. ALEXIS JOHNSON: My instructions were to go to the meetings. To not participate in them and not to agree to anything but to be there and sit at the table. And I found that a very difficult job, to sit at a table at which people were making discussions and some conclusions were being arrived at, without agreeing to them; in situations in which silence itself tends to give assent. I can tell you that I was very, very unhappy and perspired very, very freely.

NARRATOR: Emperor Bao Dai, head of the State of Vietnam, also sent a delegation to Geneva.

BAO DAI: I was told I should accept the Communists at the conference table. I said, “No, there is only one Vietnamese state. It is I. The Communists are rebels.” Given my uncompromising position they turned the political conference into a military conference.

NARRATOR: In June, the French cabinet fell, and a new prime minister took over, a critic of the war, Pierre Mendes-France. Mendes-France made a promise to the French National Assembly. If he could not resolve the Indochina question at Geneva within 30 days, he would resign. The United States feared this meant France might abandon Indochina to the Communists.

U. ALEXIS JOHNSON: Washington was not at all clear as to what kind of an agreement Mendes-France was proposing to make or what agreement he would make — and if the agreement was going to be something with which we could possibly live or acquiesce, or whether or not we were going to have to denounce it and, in effect, walk out of the conference.

NARRATOR: After much secret maneuvering, one week before his deadline, Mendes-France got all the participants in place in Geneva. On July 20, the day before the deadline, two issues were still unresolved.

PREMIER PHAM VAN DONG: At the conference there were two issues under discussion: One was the temporary demarcation line between the two regions. And the other was the date of the general elections for the reunification of Vietnam. These two issues were closely connected. That was very clear.

NARRATOR: The Vietminh, flush with their victory at Dienbienphu, took a hard line on both issues, but on the last day, the Soviets and the Chinese forced them to compromise. The Vietminh, who controlled most of the country, would get less than half. The elections to reunify Vietnam would take place; not soon, when the Vietminh would surely win, but in two years. They had been undercut by their own allies. The Soviets and Chinese had several motives, among them, fear; if Mendes-France failed, France might keep fighting and America might intervene.

PREMIER PIERRE MENDES-FRANCE, July 21, 1954:
Reason and peace have won out. After days and nights of hard negotiations, filled with anxiety and hope, the cease-fire has been signed. In my soul and my conscience, I am sure these are the best conditions we could have hoped for in the present state of things.

U. ALEXIS JOHNSON: My own feeling at the end of the conference was that we had probably obtained just about all that could be obtained in the light of the situation on the ground. I don’t, I don’t think we could have obtained much more. But I must say that very honestly I did not have much optimism that South Vietnam was going to be able to survive.

COL. BUI TIN: We thought that having signed the agreements, the French would now be forced by world opinion to carry out the Geneva accords. And we strongly believed that there would be a general election held in two years, and then the Revolution would certainly win. So we greeted each other, “In two years!” We expected to have a general election and reunification in two years.

NARRATOR: In the fall of 1954, the Vietminh marched into Hanoi, taking back from the French what they had lost eight years before. To America and the world, it looked like the Vietminh would soon be marching into Saigon, too, as the French pulled out, taking everything: houses, trucks, factories, even their dead.

Nam bộ kháng chiến – miền Nam đi trước về sau…

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://baocantho.com.vn/-mien-nam-di-truoc-ve-sau–a125598.html

Năm 1858, thực dân Pháp và Iphanho (Tây Ban Nha) nổ súng bắn vào cửa biển Đà Nẵng xâm lược Việt Nam. Năm 1859, người Pháp vào Gia Định và sau đó bằng rất nhiều hiệp ước, nước Việt Nam mất dần vào tay thực dân Pháp.

Nhân dân Nam bộ nhất tề đứng lên dũng cảm chiến đấu với kẻ thù. Ảnh: Internet
Nhân dân Nam bộ nhất tề đứng lên dũng cảm chiến đấu với kẻ thù. Ảnh: Internet

Hơn 80 năm nô lệ, ngày 2-9-1945, cùng với nhân dân cả nước, người dân Sài Gòn nô nức chào đón ngày ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Chỉ 21 ngày sau, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam lần thứ 2. Vậy là, người dân Sài Gòn, người dân Nam bộ chỉ được hưởng không khí độc lập đúng 21 ngày.

* Lời thề Ngày Độc lập

Ngày 2-9-1945, Nam bộ tổ chức mít tinh chào mừng Ngày Độc lập. Hơn 1 triệu đồng bào từ các tỉnh, thành phố đã nô nức tề tựu về Sài Gòn để được chào mừng Ngày Độc lập và nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. Những lời tuyên bố lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh – vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau – đã không trực tiếp đến với đồng bào Nam bộ. Xứ ủy và Ủy ban hành chánh Nam bộ đã đề nghị nhà cách mạng Trần Văn Giàu, Chủ tịch Lâm ủy hành chánh Nam bộ đứng ra phát biểu ý kiến.

Chủ tịch Lâm ủy hành chánh Nam bộ Trần Văn Giàu đã nhanh chóng phác thảo ý kiến phát biểu chính. Bài phát biểu khẳng định niềm vui, niềm tự hào của người dân Nam bộ trước sự đổi đời từ một nước thuộc địa thành một nước dân chủ cộng hòa. Bài phát biểu cũng kêu gọi nhân dân đoàn kết chung quanh Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, sẵn sàng đặt lại quan hệ với nước Pháp trên cơ sở tôn trọng nền độc lập của Việt Nam với lời kêu gọi khi kết thúc: “Quốc dân hãy sẵn sàng chiến đấu!… Đứng lên! Ngày độc lập bắt đầu từ nay! Tiến tới, vì độc lập, vì tự do, tiến tới mãi! Không một thành lũy nào ngăn nổi chí của muôn dân trên đường giải phóng!”.

Đáp lời Chủ tịch Lâm ủy hành chánh Nam bộ, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch thay mặt Lâm ủy hành chánh Nam bộ long trọng đọc lời tuyên thệ trước đồng bào sẽ cương quyết lãnh đạo đồng bào giữ gìn đất nước, sẽ cùng đồng bào vượt qua khó khăn, nguy hiểm xây đắp nền độc lập hoàn toàn cho Việt Nam. Thay mặt nhân dân, Tổng thư ký Công đoàn Nam bộ Nguyễn Lưu đọc lời thề: “Chúng tôi, toàn thể nhân dân Việt Nam xin kiên quyết một lòng ủng hộ Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nếu người Pháp đến xâm lược Việt Nam một lần nữa thì chúng tôi cương quyết: không đi lính cho Pháp; không làm việc cho Pháp; không bán lương thực cho Pháp; không dẫn đường cho Pháp”. Hàng trăm ngàn người phía dưới hô to: “Xin thề! Xin thề! Xin thề”.

* Thực dân Pháp gây hấn ngay trong Ngày Độc lập

Trong khi hàng triệu người dân Nam bộ đang vui mừng chào đón Ngày Độc lập của dân tộc thì quân Pháp núp bóng quân Anh với danh nghĩa đồng minh đã bắn súng vào đoàn biểu tình trong lễ tuần hành mừng độc lập. Những ngày sau đó, dưới sự bảo trợ của quân Anh, quân Pháp ngày càng có nhiều hành vi khiêu khích trắng trợn.

Ngày 4-9-1945, tướng Anh Gracey ra lệnh phía chính quyền cách mạng “giải tán lực lượng vũ trang”, ngăn cản quần chúng xuống đường biểu tình. Cả Sài Gòn và Nam bộ sống trong một không khí ngộp thở, khẩn trương khi chuẩn bị tinh thần cho một cuộc chiến đấu mới. Từ thủ đô Hà Nội phát đi lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nhân dân Việt Nam hoan nghênh quân đồng minh kéo vào Việt Nam để tước khí giới quân Nhật, nhưng cương quyết phản đối quân Pháp kéo vào Việt Nam, vì mục đích của họ chỉ là hãm dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ một lần nữa”. Trước sự gây hấn của quân thù, ngày 9-9-1945, tại Sài Gòn, Tổng bộ Việt Minh đã ra lời kêu gọi đồng bào chuẩn bị tinh thần và lực lượng để chống trả quân thù “đang sửa soạn súng đạn để một lần nữa giày xéo đất nước ta, tiêu diệt nòi giống ta”.

* “Mùa thu rồi ngày hăm ba”

Ngày 25-8-1945, Ủy ban Hành chính lâm thời Nam bộ được thành lập do ông Trần Văn Giàu làm chủ tịch. Ủy ban Hành chính lâm thời Nam bộ tuyên bố mình là bộ phận phía Nam của Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Sau gần 80 năm đô hộ nước ta, thực dân Pháp, mặc dù trước đó đã thất bại và thúc thủ trước phát xít Nhật nhưng vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược lại nước ta một lần nữa.

Đêm 22-8-1945, Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam kỳ (thuộc Chính phủ De Gaulle) là Jean Cédile nhảy dù xuống gần Biên Hòa và bị nông dân bắt giữ giao cho quân đội Nhật và sau đó được thả ra. Ngày 27-8-1945, Cédile gặp ông Trần Văn Giàu đề nghị tương lai chính trị của Việt Nam. Trong cuộc họp này, ông Trần Văn Giàu yêu cầu điều kiện tiên quyết là Pháp trước hết phải công nhận nền độc lập của Việt Nam rồi mới bàn tới quan hệ giữa Việt Nam và Pháp. Trong đêm
22-9, ở bất cứ nơi nào quân Pháp đánh chiếm đều bị quân dân ta nhất loạt đứng lên chống trả quyết liệt.

Sáng 23-9-1945, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam bộ Trần Văn Giàu phát lời kêu gọi đồng bào:

“Đồng bào Nam bộ, nhân dân thành phố Sài Gòn,

Anh em công nhân, thanh niên, tự vệ, dân quân, binh sĩ!

Đêm qua, thực dân Pháp đánh chiếm trụ sở chính quyền ta ở trung tâm Sài Gòn. Như vậy là Pháp bắt đầu xâm chiếm nước ta một lần nữa.

Ngày 2-9, đồng bào đã thề quyết hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ độc lập của Tổ quốc.

Độc lập hay là chết!

Hôm nay, Ủy ban Kháng chiến kêu gọi: Tất cả đồng bào, già, trẻ, trai, gái hãy cầm võ khí xông lên đánh đuổi quân xâm lược. Ai không có phận sự do Ủy ban Kháng chiến giao phó, thì hãy lập tức ra khỏi thành phố. Những người còn ở lại thì:

– Không làm việc, không đi lính cho Pháp.

– Không đưa đường, không báo tin, không bán lương thực cho Pháp.

Hãy tìm thực dân Pháp mà diệt. Hãy đốt sạch, phá sạch các cơ sở, xe cộ, tàu bè, kho tàng, nhà máy của Pháp.

Sài Gòn bị Pháp chiếm phải trở thành một Sài Gòn không điện, không nước, không chợ búa, không cửa tiệm.

Hỡi đồng bào!

Từ giờ phút này, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt giặc Pháp, tiêu diệt tay sai của chúng.

Hỡi anh em binh sĩ, dân quân, tự vệ! Hãy nắm chặt vũ khí trong tay xông lên đánh đuổi thực dân Pháp, cứu nước. Cuộc kháng chiến bắt đầu!

Sáng ngày 23-9-1945

Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam bộ”.

Ngay chiều 23-9-1945, thực hiện lời kêu gọi của Ủy ban Kháng chiến, cả Sài Gòn đình công, bất hợp tác với Pháp. Các công sở, hãng buôn đóng cửa, chợ không họp, các ụ chiến đấu hình thành khắp nơi trong thành phố. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Nam bộ nhất tề đứng dậy, tiếng súng kháng chiến ở Sài Gòn rung động cả nước.

Ngày 24-9-1945, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời hiệu triệu nhân dân cả nước dốc sức ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Nam bộ. Ngày 26-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam bộ khẳng định quyết tâm kháng chiến của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta; đồng thời chỉ rõ mục tiêu chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc. Chỉ bằng mã tấu, gậy tầm vông và tấm lòng quả cảm, những người dân Nam bộ thành đồng đã nhất tề đứng lên dũng cảm chiến đấu với kẻ thù. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp những ngày đầu ở Nam bộ đã đánh đòn đầu tiên và mạnh mẽ vào âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, tiêu hao sinh lực địch, kìm chân địch trong thành phố và các thị xã trong một thời gian, góp phần giữ vững chính quyền non trẻ của nhân dân.

TS Vũ Trung Kiên

(Học viện Chính trị khu vực 2)

Hiệp định sơ bộ Pháp–Việt (1946)

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C4%91%E1%BB%8Bnh_s%C6%A1_b%E1%BB%99_Ph%C3%A1p%E2%80%93Vi%E1%BB%87t_(1946)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Chiến tranh Đông Dương
Hiệp định Sơ bộ 6/3 và Tạm ước 14/9/1946 thể hiện bản lĩnh, trí tuệ sáng  tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt là một hiệp định được ký ngày 6 tháng 3 năm 1946 giữa Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Hiệp định này được xem là một nước cờ chính trị của cả hai bên nhằm mưu đồ lợi ích riêng. Trong đó, các nhà sử học phương Tây và Việt Nam đều cho rằng Hồ Chí Minh đã đặt cược uy tín của mình để đẩy lùi nguy cơ chiến tranh giữa hai dân tộc Pháp – Việt.

Nguyên nhân

Sau cuộc đảo chính của Nhật ngày 9 tháng 3 năm 1945, thực dân Pháp mất quyền cai trị Liên bang Đông Dương. Tuy nhiên, sau khi Nhật đầu hàng khối Đồng MinhViệt Minh chớp thời cơ giành chính quyền từ tay Đế quốc Việt Nam được Đế quốc Nhật Bản bảo hộ, nhanh chóng kiểm soát đất nước, và thành lập chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Theo thỏa thuận của ba cường quốc Đồng Minh là Trung Quốc, Anh, Hoa Kỳ thì 20 vạn quân của quân đội Trung Hoa Dân Quốc sẽ tiến vào miền Bắc Việt Nam để làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Đế quốc Nhật Bản. Ở miền Nam Việt Nam, quân Anh tiến vào với nhiệm vụ tương tự. Tuy người Việt Nam đã tự thành lập chính quyền và tuyên bố độc lập, chính phủ Pháp vẫn quyết tâm tái lập quyền cai trị Đông Dương. Tưởng Giới Thạch nhanh chóng nhận thức được rằng với vị thế cường quốc của Trung Quốc sẽ giúp ông ép Pháp phải chấp nhận các điều kiện do ông đưa ra để giải quyết những xung đột lợi ích giữa Trung Quốc và Pháp nếu Pháp muốn quay lại thuộc địa cũ của mình.

Rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945, người Pháp, dưới sự giúp đỡ của quân đội Anh, đã dùng vũ lực buộc Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ phải giải tán, giao lại chính quyền cho người Pháp. Tuy nhiên, chính quyền người Việt đã thực hiện cuộc chiến tranh du kích để chống lại.

“Miền Nam đi trước về sau” 

“Từ ngày “Nam Bộ kháng chiến” (23-9-1945) đến ngày “Toàn quốc kháng chiến” (19-12-1946), nhân dân Nam Bộ đã tiến hành cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp trước cả nước 15 tháng. Thế nên, nói “miền Nam đi trước về sau” hay “ba mươi năm đi trước về sau” là nói đến sự kiện đặc biệt của 15 tháng “đi trước” ấy”.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, chính phủ của Hồ Chí Minh tổ chức Tổng tuyển cử trên cả nước. Mặc dù việc Hồ Chí Minh thắng cử là không thể nghi ngờ nhưng cuộc Tổng tuyển cử diễn ra không dễ dàng do sự chống phá của quân đội Pháp và những người thân Pháp cũng như thân Trung Hoa Dân quốc. Sau đó, chính phủ hợp hiến được thành lập bao gồm chủ yếu là những người dân tộc chủ nghĩa và Đảng Cộng sản, phần thiểu số thuộc về những đảng phái thân Pháp và thân Trung Hoa Dân quốc. Hồ Chí Minh chấp nhận sự có mặt của những người thân Pháp và thân Trung Hoa Dân quốc nhằm hai mục đích. Thứ nhất, lấy đó làm cơ sở để kêu gọi Mỹ công nhận nền độc lập và viện trợ cho Việt Nam. Thứ hai, nhằm tránh phải đụng độ vũ trang với Pháp và Trung Hoa Dân quốc.

Đầu 1946, với khoảng 40 ngàn quân, Pháp mới chỉ kiểm soát được một ít đất đai ngoài các thành phố, và các đường quốc lộ ở Nam Bộ. Tới tháng 3/1946, tướng Leclerc cũng chỉ mới có 50 ngàn quân. Khác với hầu hết những người Pháp, Leclerc nhận thức được khó khăn của cuộc chiến tranh du kích và có thiên hướng lựa chọn đàm phán để có được một giải pháp chính trị, chứ không chủ trương giải quyết vấn đề bằng quân sự. Điều này có nghĩa là Pháp phải từ bỏ toan tính tách rời xứ Nam Kỳ khỏi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thống nhất. Tướng Leclerc tin chắc rằng Việt Minh là một phong trào dân tộc chủ nghĩa mà Pháp không thể khuất phục bằng quân sự nên ông ép đại diện của Pháp ở miền Bắc, Jean Sainteny, ký bằng được một thỏa ước với Hồ Chí Minh, người đứng đầu chính phủ đang kiểm soát Hà Nội và Hải Phòng. Trong một báo cáo mật gửi về Paris hôm 27/3, Leclerc nói sẽ không một giải pháp nào bằng bạo lực là khả thi ở Đông Dương.

Ở miền Bắc, quân đội Trung Hoa Dân Quốc vẫn công nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho mưu đồ chính trị của họ. Tuy nhiên, người Pháp cũng đã thương lượng với chính phủ Trung Hoa Dân Quốc để đưa quân đội xâm nhập Bắc Việt Nam theo lệnh của phe Đồng Minh.

Ngày 28 tháng 2 năm 1946Hiệp ước Hoa – Pháp được ký kết, với các điều khoản chính như sau:

  • Pháp trả lại cho Tưởng các tô giới của Pháp trên đất Trung Hoa là: Hán KhẩuThiên TânThượng Hải, Quảng Đông, Quảng Châu Loan, Sa Diện và nhượng lại quyền khai thác lợi tức kinh tế cũng như quyền sở hữu tại toàn bộ tuyến đường sắt Hải Phòng – Côn Minh cho Trung Quốc.
  • Pháp từ bỏ một số quyền lợi kinh tế trên đất Trung Quốc và nhượng lại những quyền lợi đó cho Trung Quốc.
  • Pháp cũng từ bỏ quyền lãnh sự tài phán đối với công dân Pháp sống tại Trung Quốc (quyền lãnh sự tài phán là một đặc quyền bất bình đẳng, theo đó công dân Pháp sống tại Trung Quốc nếu phạm tội thì sẽ đưa về lãnh sự quán Pháp để xét xử chứ không xử bằng luật pháp nước sở tại)
  • Đồng thời, Trung Quốc cũng sẽ được một số quyền lợi ở miền Bắc Việt Nam như: Được quyền khai thác kinh tế tại một đặc khu của cảng Hải Phòng và Hải Phòng sẽ là một hải cảng tự do để Trung Quốc có thể ra vào buôn bán, hàng hoá của Trung Quốc nhập qua Miền Bắc Việt Nam sẽ không cần phải đóng thuế.
  • Ngược lại, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đồng ý cho Pháp thay thế quân Trung Hoa giải giáp quân Nhật tại miền Bắc Việt Nam, việc thay quân sẽ diễn ra từ ngày mùng 1 đến ngày 15 tháng 3 năm 1946, kỳ hạn chậm nhất sẽ là ngày 31 tháng 3 năm 1946 (Tuy nhiên, trên thực tế, Quân Trung Hoa Dân Quốc vẫn còn đồn trú tại miền Bắc Việt Nam cho đến ngày 15/6/1946 thì người lính cuối cùng của Trung Quốc mới rời khỏi Bắc Việt, trong thời gian Quân Trung Quốc còn ở Việt Nam đồn trú, ngày 18/3/1946, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã cử một phái đoàn sang Trùng Khánh để giữ quan hệ hoà hảo với Trung Quốc).

Về cơ bản, hiệp ước này cho phép quân đội Pháp trở lại miền Bắc Việt Nam thay thế cho quân Trung Hoa Dân Quốc để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Đổi lại, Pháp cũng đã trả lại các tô giới của mình trên đất Trung Quốc cho chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch và nhượng cho Trung Quốc một số đặc quyền về kinh tế và chính trị.

Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt

Trong thời gian đầu, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm nhiều thành phần kiên quyết chống lại việc Pháp tái lập chủ quyền ở Đông Dương. Nhưng sau đó những thành viên Chính phủ là đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương thay đổi ý kiến muốn ký kết Hiệp định với Pháp. Theo quan điểm của Ban Thường vụ TW 3 Đảng cộng sản Đông Dương (đã lui vào hoạt động bí mật), tháng 3 năm 1946, nếu Pháp cho Đông Dương tự trị theo tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 thì kiên quyết đánh, nhưng nếu cho Đông Dương tự chủ thì hòa để phá tan âm mưu của “bọn Tàu trắng, bọn phản động Việt Nam và bọn phát xít Nhật còn lại”.

Sáng ngày 6-3-1946, một cuộc họp đặc biệt của Hội đồng Chính phủ đã họp với sự có mặt của Hồ Chí Minh – Chủ tịch Chính phủ; các Bộ trưởng: Huỳnh Thúc KhángPhan AnhChu Bá PhượngĐặng Thai MaiTrương Đình TriVũ Đình HòeTrần Đăng Khoa; Cố vấn tối cao Vĩnh ThụyNguyễn Văn Tố – Trưởng ban Thường trực Quốc Hội; Võ Nguyên Giáp – Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến; Vũ Hồng Khanh – Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến; Hoàng Minh Giám – Thư ký Hội đồng Chính phủ. Sau khi nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo, Hội đồng bàn bạc và nhất trí quyết định sẽ ký Hiệp định sơ bộ với Pháp theo các điều kiện đã được thỏa thuận. Vì Nguyễn Tường Tam vắng mặt nên Hội đồng Chính phủ cử Vũ Hồng Khanh thay mặt để cùng với Hồ Chí Minh ký bản Hiệp định sơ bộ với Pháp. Ngày 6 tháng 3 năm 1946Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt được ký kết giữa Jean Sainteny, đại diện chính phủ Cộng hòa Pháp, và Hồ Chí Minh cùng Vũ Hồng Khanh, đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nội dung của Hiệp định bao gồm các điểm chính sau đây:

Về phía người Pháp Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt giúp họ đưa quân đội ra miền Bắc Việt Nam mà không gặp sự kháng cự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như ở Nam Kỳ, đồng thời Hiệp ước Hoa-Pháp giúp họ tránh khỏi sự cản trở của các tướng lĩnh Trung Hoa Dân quốc.

Về phía Việt Minh, quân Trung Hoa được xác định là nguy cơ lớn nhất. Để loại trừ nguy cơ của 20 vạn quân Trung Hoa chiếm đóng, tránh được tình thế bất lợi “phải cô lập chiến đấu cùng một lúc với nhiều lực lượng phản động (thực dân Pháp, Tàu trắng, bọn phản cách mạng trong nước)”, tập trung đối phó với người Pháp và “các đảng phái phản động”. Đồng thời, tranh thủ được thời gian hòa hoãn quý báu để “Bảo toàn thực lực giành lấy giây phút nghỉ ngơi và củng cố vị trí mới đã chiếm được, chấn chỉnh đội ngũ cách mạng, bổ sung cán bộ, bồi dưỡng và củng cố phong trào”. 

Một số thành viên trong Chính phủ Liên hiệp thuộc lực lượng Việt QuốcViệt Cách không tán thành việc này lên tiếng phản đối gây ra bất đồng sâu sắc, dân chúng cũng có người băn khoăn, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bình tĩnh giải thích và động viên đồng bào để đồng bào hiểu rõ “cần phải biết chịu đựng hy sinh để mưu sự nghiệp lớn”. 

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Pháp Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946) cho phép Pháp đưa quân vào miền Bắc đổi lại Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là trong Liên bang Đông Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp vì nếu không có hiệp ước nào thì quân đội Pháp cũng sẽ vào miền Bắc Việt Nam theo lệnh của phe Đồng Minh trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại chưa được nước nào công nhận nên chưa có vị trí quốc tế nào. Mặc dù Hiệp định có chữ ký của Vũ Hồng Khanh nhưng đa số lãnh đạo Việt Quốc rút sự ủng hộ của họ cho chính phủ Hồ Chí Minh để phản đối, chống lại những gì họ gọi là “thân Pháp” trong chính sách của Việt Minh. Bảo Đại rời khỏi đất nước vào ngày 18 tháng 3, ngày quân Pháp vào Hà Nội để theo phái đoàn ngoại giao đến Trùng Khánh nhằm tái khẳng định tình hữu nghị Việt – Trung và để thăm dò việc Tưởng Giới Thạch muốn hai nước sẽ có quan hệ thế nào sau khi ký Hiệp ước Hoa-Pháp. Một hội nghị liên tịch được tổ chức để khai thông các bất đồng dẫn đến việc thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam.

Do Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt chỉ mang tính chất là khung pháp lý chứ chưa phải văn bản pháp lý chính thức nên Bộ Ngoại giao Pháp chưa phê chuẩn cho đến khi có Hiệp ước chính thức giữa hai bên Việt-Pháp. Sau khi ký Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt, hai bên Việt-Pháp tiếp tục xúc tiến hội đàm tại Hội nghị Đà Lạt và Hội nghị Fontainebleau để đàm phán về nền độc lập của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp và việc thống nhất Việt Nam. Thực ra, Pháp cũng chẳng thực tâm muốn đàm phán hòa bình mà họ chỉ câu giờ để có thời gian chuẩn bị đủ lực lượng tái chiếm Đông DươngLeclerc, tổng chỉ huy Pháp ở Đông Dương khi đề nghị đàm phán đã bị chuẩn tướng Charles de Gaulle trách móc: “Nếu tôi mà đồng ý mấy thứ nhảm nhí này thì đế quốc Pháp đã tiêu vong lâu rồi. Hãy đọc thật kỹ câu chữ trong tuyên bố tháng 3 của Pháp về Đông dương”.

Tuy nhiên, hiệp định đã bị Cao ủy Đông DươngGeorges Thierry d’Argenlieu, làm mất giá trị khi ông tuyên bố chấp nhận sự thành lập Nam Kỳ quốc tại Sài Gòn vào ngày 1 tháng 6 cùng năm trong lúc Hội nghị Fontainebleau đang diễn ra.

Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến tan rã

Sau khi ký Hiệp định, Hồ Chí Minh lập tức đã đưa Việt Minh hòa vào một mặt trận rộng lớn hơn, chủ trương đoàn kết một số đảng phái của Việt Nam, nhờ đó mà giảm sức ép chính trị. Ngày 27/5/1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam được thành lập với mục tiêu giữ vững quyền tự chủ để đi đến hoàn toàn độc lập.

Ngày 15/6/1946, người lính cuối cùng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc rời khỏi Việt Nam. Các thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng minh hội đã lần lượt rút khỏi chính phủ Liên hiệp. Lãnh tụ đảng Việt Cách là Nguyễn Hải Thần và các thành viên Việt Quốc – Việt Cách khác trong chính phủ như Nguyễn Tường TamVũ Hồng Khanh và cánh thân Tưởng do Vũ Hồng Khanh lãnh đạo lưu vong sang Trung Quốc. Các đảng viên Đại Việt phần lớn vẫn ở lại Việt Nam chờ thời cơ. Nguyễn Tường Tam với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao dẫn đầu phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia Hội nghị trù bị tại Đà Lạt, nhưng do bất đồng đã không tham gia hầu hết các phiên họp, sau đó cũng không tham gia Hội nghị Fontainebleau, cuối cùng rời bỏ chính phủ. Tài liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định Nguyễn Tường Tam thiếu bản lĩnh chính trị, lập trường bấp bênh, biển thủ công quỹ rồi đào nhiệm sang nước ngoài Việc các thành viên chủ chốt của Việt Quốc, Việt Cách như Nguyễn Hải ThầnNguyễn Tường TamVũ Hồng Khanh rời bỏ chính phủ và đi sang Trung Quốc đã đánh dấu chấm hết cho thời kỳ hợp tác giữa Việt Minh và các đảng phái thân Trung Hoa tại miền Bắc, trong công cuộc “kháng chiến kiến quốc” mà Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến là biểu tượng.

Trong lúc đó, Võ Nguyên Giáp từng bước tìm cách loại bỏ dần các đảng phái thân Trung Hoa như Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt, những người Trotskist ủng hộ Pháp, lực lượng chính trị Công giáo thân Pháp,… Ngày 19/6/1946, Báo Cứu Quốc của Tổng bộ Việt Minh đăng xã luận kịch liệt chỉ trích “bọn phản động phá hoại Hiệp định sơ bộ Pháp Việt mùng 6 tháng 3“. Một trong những sự kiện nổi tiếng nhất trong chiến dịch truy quét các đảng phái đối lập là vụ án phố Ôn Như Hầu. Tướng Võ Nguyên Giáp bắt đầu chiến dịch truy quét các đảng phái đối lập bằng lực lượng công an và quân đội do Việt Minh kiểm soát với sự giúp đỡ của nhà cầm quyền Pháp. Ông Giáp cũng sử dụng các sĩ quan Nhật Bản trốn tại Việt Nam và một số vũ khí do Pháp cung cấp cho chiến dịch này.

Để thương thảo nhằm thực hiện tạm ước 6/3, Hồ Chí Minh dẫn một đoàn đại biểu sang Pháp nhưng khi đoàn tới nơi, chính phủ Pháp vừa đổ và phải mất hàng tuần cho một chính phủ mới ra đời. Cùng thời gian đó, hôm 1/6, sau khi Hồ Chí Minh lên đường sang Paris, cao ủy Pháp d’Argenlieu đã phá tan những gì Sainteny vừa đạt được. d’Argenlieu ra tuyên bố tại Sài Gòn về một Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ ly khai khỏi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Với một chính thể phụ thuộc vào Pháp như vậy, đã không còn chỗ cho một cuộc bỏ phiếu trưng cầu ý dân ở Nam Bộ. Hồ Chí Minh tức giận nói với Salan, người tháp tùng ông sang Pháp: “Các người vừa ngụy tạo ra một “Alsace – Lorraine” và chúng ta đã bị đẩy vào “Cuộc chiến tranh trăm năm”

Đánh giá của các bên có liên quan

Sau khi ký Hiệp định sơ bộ, trong cuộc mitting ngày 7/3/1946, Hồ Chí Minh giải thích về việc ký kết hiệp định “Chúng ta trên thực tế đã độc lập từ tháng 8/1945, nhưng cho đến nay chưa có cường quốc nào công nhận độc lập của chúng ta. Bản hiệp định ký với nước Pháp này mở đường cho sự công nhận của quốc tế. Bản hiệp định sẽ dẫn chúng ta đến một vị trí quốc tế ngày càng vững vàng và đó là một thắng lợi chính trị lớn lao. Quân đội Pháp sẽ đến theo lệnh của các nước Đồng Minh. Họ chỉ có 15000 người và chỉ ở lại trong 5 năm nữa, sau đó họ sẽ rút khỏi nước ta. Chọn thương lượng thay vì đánh nhau chính là bằng chứng hiểu biết về chính trị. Thực vậy, vì sao lại đi hy sinh 50 hoặc 100 ngàn người trong khi chúng ta có khả năng bằng con đường thương lượng mà đi đến độc lập có thể trong 5 năm“. Còn Võ Nguyên Giáp phân tích “Những người không thỏa mãn chỉ hiểu độc lập hoàn toàn như một khẩu hiệu, một nhật lệnh, trên giấy tờ hoặc ngoài cửa miệng. Họ không thấy rằng độc lập của đất nước là kết quả của những điều kiện khách quan và trong cuộc chiến đấu giành độc lập của chúng ta, phải biết cương nhu tùy lúc… Chúng ta đã chọn con đường thương lượng nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho công cuộc đấu tranh giành độc lập hoàn toàn, nhằm có thể đợi chờ cơ hội đi đến một nền độc lập nguyên vẹn“. Ngày 12/3/1946, bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Tường Tam tuyên bố “Trung Quốc và Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ cho hòa bình ở Viễn Đông… Trong lúc chờ đợi nước Pháp và nước Việt Nam lập lại được một nền hòa bình vững chắc, nước Mỹ phải giúp đỡ chúng ta về mọi phương diện hoàn toàn như Trung Quốc

Võ Nguyên Giáp cho rằng Hiệp định sơ bộ cũng giống Hòa ước Brest-Litovsk (năm 1918) giữa Đế quốc Đức và nước Nga Xô viết. Ông cho hay thỏa ước ngừng bắn này với Đức đã dừng được cuộc xâm lấn của Đức vào Nga, nhờ đó mà những người Xô viết đã củng cố lực lượng quân đội và chính quyền của mình. Theo Võ Nguyên Giáp, Hiệp định Sơ bộ là nhằm bảo vệ và củng cố được vị thế về chính trị, quân sự và kinh tế của Việt Nam và để chuẩn bị lực lượng kháng chiến, do Việt Nam chưa sẵn sàng về binh lực cho cho một cuộc kháng chiến lâu dài với Pháp. Đối với những ý kiến phê phán bản Hiệp định sơ bộ không chứa đựng từ “độc lập”, ông Giáp cho rằng những người phản đối không nhận thấy rằng độc lập của một quốc gia là kết quả của các điều kiện khách quan, và trong cuộc đấu tranh để giành độc lập toàn vẹn, phong trào giành độc lập phải biết ứng biến theo tình hình, sẽ có những thời điểm phải cứng rắn và những thời điểm thì lại phải mềm dẻo.

Về phần Hồ Chí Minh, ông đã chỉ ra một thực tế rằng dù Việt Nam giành được độc lập từ tháng 8/1945, nhưng chưa có nước nào xác lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Hiệp định Sơ bộ sẽ mở đường cho sự công nhận quốc tế, đồng thời hạn chế lực lượng của Pháp ở Việt Nam ở mức 15 ngàn quân, với thời hạn là 5 năm. Như vậy Việt Nam có thể giành độc lập từng bước không cần đổ máu. Đồng thời ông cũng tuyên bố: “Tôi, Hồ Chí Minh, đã cùng với đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước”.

Về phía Cao ủy Pháp, Đô đốc d’Argenlieu và những người theo chủ trương của Thống chế de Gaulle – phe chủ chiến, Hiệp định này được coi như “Hiệp ước Munich của Pháp”. Họ không thực tâm muốn hòa bình mà chỉ coi bản Hiệp ước là một bước lấn tới (điều quân Pháp ra miền Bắc), rồi sau đó sẽ sử dụng sức mạnh vũ trang để tái chiếm Việt Nam làm thuộc địa.