Chiến dịch Hồ Chí Minh và ngày 8 tháng tư năm 1975

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Không có mô tả ảnh.

Ngày 8 tháng 4 năm 1975, tại Lộc Ninh, Bộ Chỉ huy Chiến dịch Giải phóng Sài Gòn – Gia Định được thành lập với thành phần: Tư lệnh: Đại tướng Văn Tiến Dũng, Chính ủy: Phạm Hùng, các Phó Tư lệnh: Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Lê Đức Anh, Trung tướng Đinh Đức Thiện, Quyền Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền, sau đó bổ sung Trung tướng Lê Trọng Tấn làm Phó Tư lệnh và Trung tướng Lê Quang Hòa làm Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị. Có hai nhân vật lãnh đạo không phải là quân nhân tham gia là các ông Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt.


Ngày 14 tháng 4, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam gửi Bức điện số 37/TK cho Bộ Chỉ huy Chiến dịch Giải phóng Sài Gòn – Gia Định: “Đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh”.

Sau khi đã hoàn thành công tác chuẩn bị và tập trung một khối lượng rất lớn lực lượng và phương tiện trong thời gian ngắn nhất ở vùng kế cận Sài Gòn, chiều 26/4, chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn. Từ năm hướng các quân đoàn đồng loạt tiến công Sài Gòn.

Từ 26 đến 28/4, quân ta đã chọc thủng tuyến phòng ngự vòng ngoài, đập tan sự kháng cự của các sư đoàn địch, tiếp cận Sài Gòn. Địch bị rối loạn hoàn toàn về chiến lược. Từ chiều 28/4, các cánh quân ngụy không còn nhận được lệnh từ Tổng hành dinh và các tướng chỉ huy nữa vì đã tháo chạy ra nước ngoài.

Chiều 28/4/1975, Trần Văn Hương từ chức Tổng thống VNCH, tướng Dương Văn Minh lên thay. Tối 28/4/1975, Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh ra lệnh tổng công kích trên toàn bộ mặt trận.

Vào sáng ngày 29/4, các cánh quân của ta cùng tiến vào trung tâm Sài Gòn.

5 giờ sáng ngày 29/4/1975, các cánh quân của ta từ nhiều hướng đồng loạt đánh vào Sài Gòn. Với ưu thế áp đảo, quân ta ào ạt tiến công vừa bao vây tiêu diệt và làm tan rã bọn địch còn lại ở vòng ngoài, vừa nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm 5 mục tiêu đã định ở bên trong.

Sáng 30/4, Quân đoàn 1 đã chiếm được trung tâm hành quân Bộ Tổng tham mưu và khu Bộ Tư lệnh các binh chủng VNCH. Quân đoàn 3 chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và nhà làm việc của Bộ Tổng tham mưu VNCH. Quân đoàn 4 chiếm Bộ Quốc phòng VNCH và Cảng Bạch Đằng, Đài Phát thanh. Đoàn 232 chiếm Biệt khu Thủ đô và Tổng nha Cảnh sát VNCH.
Quân đoàn 2 chiếm Dinh Độc Lập, bắt gọn toàn bộ nội các mới của VNCH, kể cả Tổng thống Dương Văn Minh (vừa nhậm chức ngày 28/4).


Trên sóng phát thanh, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Đúng 11 giờ 30 ngày 30/4/1975, cờ Cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc lập, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch. Từ đây, đất nước thống nhất, non sông liền một dải sau 30 năm chia cắt.

Đằng sau những bức ảnh

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://phanba.wordpress.com/2019/01/01/dang-sau-nhung-buc-anh/

LTS – Vì tôn trọng sự thật nên THS2018 đăng bài viết này để trả lời một số tin tức sai sự thật đang đăng trên mạng nhân ngày 30 tháng tư sắp đến.

Tuyên truyền của chế độ cộng sản độc tài làm cho nhiều người mất cả khả năng tư duy độc lập, làm cho con người không còn cảm thấy thiếu những thông tin không bị kiểm duyệt hay thông tin trái chiều nữa. Một ví dụ điển hình là tấm ảnh của Larry Burrow mà tạp chí LIFE đăng trong số ra ngày 13 tháng 1 năm 1967, chụp ảnh một người lính Mỹ dường như đang đứng xem một người mẹ trẻ cho con bú.

Larry Burrow, LIFE số ra ngày 13 tháng 1 năm 1967

Tuyên truyền cộng sản mang tấm hình đó gắn kết vào câu chuyện của một người du kích Nguyễn Thị Tư được cho là chết năm 1972. Tấm hình trên được cho là chụp “trước khi đem Nguyễn Thị Tư ra xử bắn”. Vậy mà vẫn có không biết là bao nhiêu người tin. Tại sao bạn không tự hỏi, ông phóng viên người Mỹ ấy có mặt lúc “đem Nguyễn Thị Tư ra xử bắn” mà lại chỉ chụp có mỗi tấm hình ấy thôi? Sau lúc mang đi bắn và sau khi bắn lại không chụp một tấm nào? Mà quân đội làm gì được phép bắn chết thường dân? Vì như thế là tội phạm chiến tranh! Giả sử mà Nguyễn Thị Tư bị bắn chết thật và có mặt một phóng viên Mỹ ở đó, thì sự việc sẽ rùm beng cả thế giới. Thế nhưng thế giới… có biết gì đâu.

Larry Burrows (1926-1971) was born in London to a hardworking railway employee, and as Larry’s Britishness never waned, neither did his industry. Early on as he was learning his craft, he thought nothing of repeating an entire day’s work to get the job done right. Time spent in the museums of Europe served him well, honing his own artist’s eye—and a masterly appreciation for color—for his life’s work: the battlefield. From Suez to Lebanon, Cyprus to the Congo, he became versed in the cruelties of war. Then, in 1962, he began nine years of documenting a beautiful land seized by war: Vietnam. His images are nothing short of timeless. “One Ride with Yankee Papa 13” has been called perhaps “the greatest photo-essay ever made.” After Burrows’s death, LIFE Managing Editor Ralph Graves stated, “I do not think it is demeaning to any other photographer in the world for me to say that Larry Burrows was the single bravest and most dedicated war photographer I know of.”

Sự thật, như trong bài phóng sự đã viết, đây là con gái của một người thu thuế cho Việt Cộng (“cán bộ kinh tài”), thường hay đi theo cha để tống tiền người dân thường trong làng. Cô ta bị lính canh chừng và rồi bị giữ lại để tra hỏi. Sự việc hoàn toàn không dính líu gì tới một cô Nguyễn Thị Tư năm 1972 cả.

Một tấm hình khác nổi tiếng hơn rất nhiều là tấm hình của Nick Út chụp Kim Phúc, bức ảnh “em bé napalm”. Đây là một vụ ném bom nhầm lẫn hết sức tai hại. Nhưng ít người nào nghĩ thêm một ít. Tại sao Việt Cộng lại chiến đấu ở sát cạnh làng dân thường như vậy. Nếu thật sự thương yêu đồng bào vô tội, tại sao lại không “đánh Mỹ” ở một nơi cách xa làng dân? Hay việc núp trong làng bắn ra khiêu khích quân đội Mỹ là một chiến lược của Việt Cộng? Khiêu khích, vì biết chắc rằng người Mỹ sẽ phản ứng bằng bom máy bay và đạn đại bác tàn phá ngôi làng ấy và rồi việc đó sẽ làm cho người dân thêm “căm thù Mỹ Ngụy”? Có phải là Việt Cộng thí mạng người dân vô tội để thực hiện chiến lược, chiến thuật của mình hay không?

Trong giây phút hoảng loạn gần kề cái chết đó, tại sao em Kim Phúc tuân theo bản năng chạy về phía Quốc Gia? Tại sao không chạy về phía Cộng sản? Có phải vì bản năng biết rằng chạy về phía Quốc gia sẽ được cứu giúp hay không?

Và nói chung, suốt thời gian mấy chục năm chiến tranh, cho tới giờ phút cuối cùng, Việt Nam Cộng Hòa co cụm về tới đâu thì người dân chạy theo về tới đó. Sau “Mùa Hè đỏ lửa” 1972, sau Hiệp định Paris 1973 là đã có những “vùng giải phóng” khá rộng lớn. Tại sao người dân thường không đi tìm sự che chở ở đó vậy? Có bao nhiêu người đi vào những “vùng giải phóng” so với hàng triệu con người chạy theo bên Quốc Gia?

Hãy tự đặt ra câu hỏi cho mình! Hãy hoài nghi những thông tin được tung ra từ một phía! Khi bạn bắt đầu tự hỏi rằng việc này hay việc kia có đúng như thế không tức là bạn đã thoát khỏi cơn ảo mộng rồi đó!

Phan Ba

Đọc thêm về vụ bức ảnh “Em bé Napalm”: Toàn bộ câu chuyện của em bé napalm

Chiến lược khủng bố của Việt Cộng: https://phanba.wordpress.com/2018/12/09/khung-bo-la-mot-chien-luoc-cua-viet-cong/

NPH2020_656: Để đánh bại pháo đài bay B-52 miền Bắc chuẩn bị 10 năm và chiến thắng trong 12 ngày đêm

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

Chiến tranh Việt Nam nhiều điều bí ẩn nhưng đã có đáp số. KBCHN sẽ lần lượt giả mật những bí ẩn để vinh danh những anh hùng liệt nữ đã hi sinh hơn 20 năm để đem lại chiến thắng thống nhất đất nước. Video ngày 16/9/2020

Vui lòng bấm “Đăng Ký” (màu đỏ góc phải bên dưới) để nhận thông báo video mới nhất của kênh
https://www.youtube.com/KBCHNTV/
https://youtube.com/thacmac52
https://facebook.com/bac.ha.9655
Email: bacha52@gmail.com
ĐT: (+00) 1-714-469-3202
VN (+84) 0327941647

Để chiến thắng trận ‘Điện Biên Phủ trên không” 1972, Việt Nam đã chuẩn bị 10 năm

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

Việt Nam là nước duy nhất bắn hạ được pháo đài bay B52 của Mỹ, không những thế, Việt Nam đã làm được nhiều lần. Nhưng để chiến thắng trận ‘Điện Biên Phủ trên không” 1972, Việt Nam đã phải chuẩn bị tới 10 năm.

1. Lời tiên đoán của chủ tịch Hồ Chí Minh

Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, khi đó là Phó chính ủy Quân chủng PK-KQ nhớ lại: Ngay từ năm 1962, Bác Hồ đã gặp đồng chí Phùng Thế Tài lúc đó vừa nhận chức Tư lệnh Phòng không và Bác hỏi:

“Chú đã biết gì về máy bay B-52 chưa”? Bác lại nói tiếp: “Có biết lúc này cũng chưa làm gì được, nhưng phải chuẩn bị từ bây giờ để sẵn sàng đối phó với nó…”

Đến ngày 18/6/1965, lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh, đế quốc Mỹ đã sử dụng máy bay chiến lược B-52 ném bom rải thảm khu vực Bến Cát (Tây Bắc Sài Gòn). Ngay sau đó một tháng, ngày 19/7/1965, Hồ Chủ Tịch đến thăm Đoàn pháo Cao xạ “xung kích” và Đại đội 1 Đoàn Pháo cao xạ “Tam Đảo”. Tại đây, Bác đã nói:

“Dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B-57, B-52 hay bê gì đi nữa ta cũng đánh, từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đánh là nhất định thắng”.

Ngày 12/4/1966, B-52 ném bom khu vực Đèo Mụ Giạ, Quảng Bình. Bác Hồ đã chỉ thị cho đồng chí Đặng Tính, Chính ủy Quân chủng PK-KQ: “B-52 đã ném bom miền Bắc, phải tìm cách đánh cho được B-52. Trách nhiệm này Bác giao cho các chú PK-KQ”.

Tiếp đó, ngày 29/12/1967, trong buổi làm việc với đồng chí Phùng Thế Tài, Tư lệnh PK-KQ, Bác đã nói lời tiên tri: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ chuẩn bị… ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Ngày 5/4/1972, khi tình hình chiến sự ở miền Nam đang diễn ra sôi sục, Quân uỷ Trung ương đã chỉ thị cho Quân chủng PK-KQ và các Quân khu: “Phải sẵn sàng đối phó với khả năng Mỹ cho không quân, kể cả không quân chiến lược đánh phá trở lại miền Bắc”. Và đến cuối tháng 11/1972 Quân uỷ Trung ương lại nhấn mạnh “Đế quốc Mỹ có thể liều lĩnh dùng B-52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng”.

Ngày 24/11/1972, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng cùng các Tham mưu phó: Trần Quý Hai, Vương Thừa Vũ, Cao Văn Khánh, Phùng Thế Tài đã thông qua và phê chuẩn kế hoạch đánh B-52 bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng của Quân chủng PK-KQ. Đây là một kế hoạch mang tầm vóc chiến dịch, một chiến dịch phòng không được tiến hành chủ yếu bằng lực lượng phòng không ba thứ quân trên miền Bắc, lấy Quân chủng PK-KQ làm nòng cốt.

Sau khi ký duyệt, Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp ra lệnh “Phải hoàn thành nhiệm vụ công tác chuẩn bị trước ngày 3/12/1972” và dặn thêm: “Trước ngày Nixon nhậm chức, Mỹ có thể mở đợt tập kích bằng không quân chiến lược ra Hà Nội, Hải Phòng các đồng chí phải nắm địch thật chắc. Tuyệt đối không để bị bất ngờ… phải tập trung mọi khả năng nhằm đúng đối tượng B-52 mà tiêu diệt”.

Đầu tháng 12/1972, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã xuống Sở chỉ huy Quân chủng PK-KQ, trực tiếp nghe Tư lệnh Lê Văn Tri trình bày về kế hoạch đánh B-52 của Quân chủng. Đồng chí đã nhấn mạnh: “Để gây sức ép với ta, trước sau Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ném bom Hà Nội; quân dân ta, mà nòng cốt là Quân chủng PK-KQ phải kiên quyết làm thất bại âm mưu này của chúng”. Như vậy có thể nói về mặt chiến lược, chúng ta không hề bị bất ngờ trước mưu thâm, kế độc của Mỹ.

2. Nghiên cứu cách đánh B-52 từ những trận “mưa bom”

Để chiến thắng trận 'Điện Biên Phủ trên không" 1972, Việt Nam đã nghiên cứu rất kỹ cách đánh của B52
Để chiến thắng trận ‘Điện Biên Phủ trên không” 1972, Việt Nam đã nghiên cứu rất kỹ cách đánh của B52

Để có cơ sở xây dựng quyết tâm và kế hoạch đánh B-52, ngay từ tháng 5/1966, Quân chủng PK-KQ đã tổ chức cho Trung đoàn tên lửa 238 (Sư đoàn 363) cơ động chiến đấu, trực tiếp nghiên cứu cách đánh tại chiến trường Vĩnh Linh. Trải qua gần một năm vừa hành quân vừa chiến đấu, hai phân đội 81 và 83 thực hiện nhiệm vụ phục kích đánh B-52. Trung đoàn đã tổ chức nghiên cứu tìm hiểu B-52 từ những trận mưa bom để quan sát trực tiếp từ những vệt khói, từ các bài bom nổ để phân tích đội hình bay và chiến thuật hoạt động của B-52.

Ngày 15/3/1967, B-52 xuất hiện, Trung đoàn đã tổ chức trận đánh tập trung nhưng không thành. Phát hiện có tên lửa ở Vĩnh Linh, không quân Mỹ đã lồng lộn săn lùng để tiêu diệt mục tiêu.

Đến tháng 1/1972, Quân chủng PK-KQ tiếp tục đưa thêm 4 trung đoàn tên lửa vào Khu 4 cùng một số máy bay Mig-21 để chi viện cho Chiến dịch Trị Thiên. Đến giữa năm 1972 Quân chủng PK-KQ đã đưa 04 đợt tên lửa, ra đa và nhiều chiếc máy bay Mig-21 vào chiến trường, trực tiếp nghiên cứu cách đánh B-52. Tuy đã bắn rơi được B-52, nhưng chưa có lần nào B-52 rơi tại chỗ và bắt sống giặc lái. Nhưng từ những nghiên cứu thực tế thu được đã có cơ sở để tháng 9/1972, Quân chủng PK-KQ đã xây dựng được “Phương án đánh máy bay B-52”.

3. Nỗi đau của pháo đài bay B52

Để thực hiện kế hoạch Linebacker II, một chiến dịch tập kích đường không với quy mô lớn nhất nhằm vào miền Bắc mà mục tiêu chủ yếu là Hà Nội và Hải Phòng trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, không quân Mỹ đã sử dụng 193 máy bay B52, là lần huy động B52 lớn nhất trong lịch sử, (chiếm 48% số lượng B52 và 75% số phi công B52 của nước Mỹ). Xuất kích 633 lần từ Guam và Utapao, tập trung 444 lần đánh vào Hà Nội.

Cùng các máy bay chiến thuật khác, không lực Hoa Kỳ ném gần 100.000 tấn bom xuống 140 mục tiêu, trong đó B52 đánh 64 điểm. Số lượng bom tương đương với sức công phá của 5 quả bom nguyên tử ném xuống Hirosima.

Lầu Năm Góc cho rằng, “những nơi B52 oanh tạc chỉ còn là gạch vụn, sẽ làm tê liệt đời sống hàng ngày, phá huỷ mọi khả năng chi viện từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam, đưa Việt Nam trở lại bàn đàm phán Paris trong thế thượng phong của Mỹ”. Nhưng họ đã nhầm.

Ngay từ đêm đầu tiên (18/12/1972), 3 pháo đài bay bị bắn hạ và danh sách đó dài thêm trong những ngày tiếp theo. Cao điểm đêm 26/12, 8 chiếc B52 bị bắn rơi. 12 ngày đêm đánh trả, chúng ta đã bắn rơi 34 chiếc B52 (bằng 1/2 số bị bắn rơi trong 8 năm Mỹ đưa B52 tác chiến ở Việt Nam), 47 máy bay chiến thuật, (trong đó có 5 chiếc F111, là loại máy bay chiến thuật hiện đại nhất), bắt nhiều giặc lái Mỹ.

Phi công Mỹ đã sụp đổ niềm tin vào khả năng “bất khả xâm phạm” của “pháo đài bay” và các nhà cầm quân Mỹ coi đó là “cuộc tàn sát B52” và ngao ngán thở dài: “Cứ đà mất máy bay và người lái như thế này thì chả mấy chốc mà hết nhẵn lực lượng không quân chiến lược” còn “chiến dịch Linebacker II không thể vắt ra được quyết định nhượng bộ nào từ Bắc Việt Nam”.

Chiến công của MiG 21 trong chiến thắng trận Điện Biên Phủ trên không 1972

Chiến công của MiG 21 trong chiến thắng trận Điện Biên Phủ trên không 1972
Chiến công của MiG 21 trong chiến thắng trận Điện Biên Phủ trên không 1972

Sau nhiều lần xuất kích không thành công, nhiều ý kiến cho rằng MiG 21 khó có thể tiếp cận và không thể bắn rơi B52. Ngày 25/12/1972, Bộ tư lệnh quân chủng Phòng không – Không quân triệu tập hội nghị cán bộ, khẩn cấp rút kinh nghiệm.

Sau khi xem xét quy luật tác chiến của địch, Bộ tư lệnh quyết định sử dụng sân bay Yên Bái, một sân bay bị đánh phá liên tục trong những ngày trước, nhưng đã được sửa chữa, nếu địch đánh tiếp, ta cũng khắc phục kịp thời, đảm bảo cho MiG 21 cất hạ cánh.

Chiều 27/12, biên đội của phi công Phạm Tuân được lệnh bí mật cơ động từ Nội Bài lên sân bay Yên Bái, chờ đợi phút xuất kích.

Ông Phạm Tuân kể: “22h20, nhận lệnh từ sở chỉ huy và được sự hỗ trợ của đồng đội, tôi nhanh chóng cho máy bay cất cánh. Khi đến bầu trời Sơn La, nhận được thông báo B52 cách 200, 150, 100km rồi 70km… Khi cách tốp B52 khoảng 3.000m, được lệnh phóng tên lửa. Tôi trả lời xin chờ một chút. Khẩu lệnh bắn lần thứ hai được thông báo, đến lần thứ ba nhắc bắn tôi mới quyết định. Chớp thời cơ có lợi, đưa mục tiêu vào vòng ngắm.

Tới cự ly hiệu quả, tôi nhanh chóng ấn nút phóng liền hai quả tên lửa vào một chiếc B52, tên lửa nổ sáng rực bầu trời trước mắt, tôi nhanh chóng vòng trái xuống độ cao 2.000m, bay trong mây, hạ cánh xuống sân bay Yên Bái, nơi tôi cất cánh 20 phút trước đó.
Thấy pháo đài bay bốc cháy, biên đội yểm trợ điên cuồng lùng sục, nhưng đã quá muộn. Những chiếc còn lại trút bom bừa bãi rồi quay về căn cứ”.

Tiếp sau chiến công của Phạm Tuân, đêm 28/12, từ sân bay Cẩm Thuỷ, phi công Vũ Xuân Thiều xuất kích, được Sở chỉ huy dẫn vòng phía sau đội hình B52, khi đến bầu trời Sơn La, anh phát hiện mục tiêu, dù ở cự ly gần, nhưng anh vẫn quyết tâm công kích, tiêu diệt địch. Máy bay địch trúng tên lửa bốc cháy, Vũ Xuân Thiều không kịp thoát. Anh đã anh dũng hy sinh.

Pháo đài bay bị MiG 21 bắn hạ, điều quá bất ngờ đối với không lực Hoa Kỳ. Chiến công đó là kết quả của trí thông minh và lòng dũng cảm, góp phần vào chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”.

Tác giả Hữu Hoàng.

Cuộc hành Quân Lam Sơn 719: Nguyên nhân và sai lầm dẫn đến thất bại

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

Chiến tranh Việt Nam có nhiều trận đánh khốc liệt; khốc liệt trong ý nghĩa về cường độ của hoả lực, cấp số quân tham dự, và số thương vong đôi bên. Những trận đánh thường được nhắc đến trong quân sử như trận tử thủ An Lộc, tháng 6-1972; trận tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, tháng 9-1972; hai cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt, Toàn Thắng 42 và Toàn Thắng 1/71, tháng 5-1970 và tháng 1-1971; trận Ðồi 1062 ở Thường Ðức, Quảng Nam… Nhưng nổi bật hơn hết là cuộc hành quân tấn công vào những căn cứ hậu cần của quân đội Cộng sản Việt Nam (CSVN) ở Hạ Lào vào tháng 2 năm 1971. So với các trận đánh vừa được kể tên, hành quân Lam Sơn 719 (HQLS719) lớn và khốc liệt hơn về mọi mặt.

Ngoài sự thương vong cao của đôi bên, Cuộc hành Quân Lam Sơn 719 còn được nói đến như một cuộc hành quân có nhiều khuyết điểm — khuyết điểm từ lúc soạn thảo cho đến khi thực hiện. Cuộc hành Quân Lam Sơn 719 còn được nhắc lại trong sự nghi ngờ đó là kế hoạch hành quân đã bị bại lộ từ lúc soạn thảo, nhưng cuộc hành quân vẫn được tiếp tục để đưa đạo quân Việt Nam Cộng hoà (VNCH) đi vào tử lộ. Bài viết này sơ lược lại nguồn gốc và khiếm khuyết của cuộc hành quân, dựa vào một số tài liệu được giải mật trong thời gian gần đây.

Lưu ý : Bài viết không đại diện cho quan điểm của Ban biên tập Việt Sử Giai Thoại. Chúng tôi mong muốn mang lại cho bạn đọc nhiều thông tin đa chiều, bao gồm các quan điểm đối lập nhau khi nhìn về lịch sử.

Cuộc hành Quân Lam Sơn 719: Diễn biến khốc liệt và sai lầm thất bại
Cuộc hành Quân Lam Sơn 719: Diễn biến khốc liệt và sai lầm thất bại

Tình hình tổng quát của VNCH vào cuối năm 1970

Trước khi nói về quyết định đưa đến Cuộc hành Quân Lam Sơn 719, chúng ta nhìn sơ qua tình hình chính trị và quân sự của VNCH trong năm 1970, và tình hình tổng quát của lực lượng CSVN ở Hạ Lào.

Năm 1970 là năm thành công nhất của VNCH từ sau khi chiến tranh bùng nổ mạnh vào cuối năm 1964. Chương trình Việt Nam hoá — Hoa Kỳ trao cuộc chiến lại cho Quân lực VNCH (QLVNCH) — đã tiến hành được hơn một năm, và sự thành công của QLVNCH trên mọi chiến trường được chứng tỏ khi CSVN cho lưu hành Quyết nghị 9 vào tháng 6-1969. [1] Quyết nghị 9 chỉ thị các bộ tư lệnh CSVN ở chiến trường B (chiến trường trong lãnh thổ VNCH, để phân biệt với chiến trường ở Lào và Cam Bốt), tránh đụng trận nếu có thể được; trở về chiến thuật du kích chiến để bảo vệ quân số; và chỉ nên đương đầu với VNCH trên mặt trận chính trị hơn là ngoài chiến trường.

Song song với thành công về quân sự, những chương trình bình định nông thôn đã phá hủy hạ tầng cơ sở của CSVN, đem lại sự an ninh cho xã ấp ở miền Nam. Sự trù phú và số lúa gạo sản xuất trong năm 1969 và 1970 cho thấy sự thành công của chính phủ VNCH về mặt an ninh nội an và trong kế hoạch bình định, xây dựng nông thôn. [2]

Trung tuần tháng 3-1970, với sự hợp tác của tân chính phủ Lon Nol, QLVNCH và Hoa Kỳ tấn công và các căn cứ hậu cần CSVN ở bên trong lãnh thổ Cam Bốt. Cuộc hành quân Toàn Thắng 42 do các đơn vị ở quân đoàn III và IV, hai sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến và Nhảy dù VNCH, và một số đơn vị Thiết kỵ và Không kỵ Hoa Kỳ thực hiện. Hành quân Toàn Thắng 42 đem lại kết quả ngoài sức tưởng tượng của Bộ Tổng Tham mưu VNCH và Bộ Tư lệnh MACV: số vũ khí và quân nhu dụng tịch thu được từ căn cứ hậu cần cộng sản đủ để trang bị cho 54 tiểu đoàn chánh qui; gạo tịch thu được đủ nuôi 50 ngàn quân của B-2 từ bốn đến sáu tháng (7.000 tấn gạo). Thiệt hại nhân sự của QLVNCH là 638 chết; 3009 bị thương. Phía Hoa Kỳ, 338 chết; 1525 bị thương. Thiệt hại CSVN là hơn 11.300 tử thương; 2.300 tù binh. [3] Thiệt hại của phía đồng minh tương đối nhỏ so với kết quả thu được.

Chiến thắng dể dàng [4] ở Cam Bốt đưa đến sự hăm hở cho Bộ Tổng Tham mưu VNCH, Bộ Tư lệnh MACV và Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương (trên nguyên tắc đây là bộ tư lệnh nằm trên đầu MACV). Sau khi hành quân Toàn Thắng 42 kết thúc vào tháng 8-1970, [5] dự kiến của đồng minh là, nếu số dự trữ của CSVN ở Cam Bốt nhiều như vậy thì các căn cứ tiếp liệu hậu cần nằm trên đường xâm nhập Hồ Chí Minh ở Hạ Lào phải chứa nhiều hơn. Ðầu tháng 11-1970 đô đốc John McCain của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương yêu cầu đại tướng Creighton Abrams của Bộ Tư lệnh MACV điều nghiên một kế hoạch hành quân qua Hạ Lào để cắt đứt đường xâm nhập Hồ Chí Minh. Không giống như cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt, đô đốc McCain thông báo, kế hoạch đánh qua Lào có một giới hạn: Hoa Kỳ chỉ yểm trợ về không vận và không lực. QLVNCH là lực lượng đánh vào mục tiêu; cố vấn Mỹ của các đơn vị VNCH không được tháp tùng với đơn vị qua bên kia biên giới với bất cứ lý do gì. [6] Ðầu tháng 12-1970, Bộ Tư lệnh MACV loan báo và thăm dò ý kiến Bộ Tổng Tham mưu VNCH về một kế hoạch đánh qua Hạ Lào.

Lào và đường xâm nhập Hồ Chí Minh

Vương Quốc Lào. Ðầu năm 1971, khi VNCH chuẩn bị tấn công vào những căn cứ hậu cần trên lãnh thổ Lào, thì Hoa Kỳ đã tham dự và điều khiển một chiến tranh “bí mật” ở vương quốc đó hơn bảy năm. Ở Thượng Lào, nhân viên CIA Mỹ điều khiển một đạo quân hơn 20 ngàn người của tướng Vang Pao, giao chiến thường xuyên với hai sư đoàn quân CSVN và Pathet Lào. Ở Hạ Lào, Lực lượng Ðặc biệt VNCH và Hoa Kỳ, từ năm 1964, đã xâm nhập vào nhiều địa điểm từ Ðèo Mụ Già xuống đến bình nguyên Bolovens để đánh dấu toạ độ cho những chiến dịch dội bom chiến lược bằng B-52. Gọi là “chiến tranh bí mật” vì Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ không thông báo cho Quốc hội biết về những ngân khoản quân sự chi tiêu ở Lào; và CSVN — dù bị dội bom thường xuyên — cũng không lên tiếng, vì họ luôn luôn tuyên bố họ không có quân hay căn cứ trên đất Lào. Chính phủ Hoàng gia Lào cũng không có chọn lựa nào khác hơn là yên lặng: họ hy vọng vào Hoa Kỳ để đẩy lui sự xâm lấn của CSVN. Trong sự phủ nhận của tất cả can sự, cuộc chiến tiếp tục xảy ra trong vòng “bí mật.” [7]

Cuộc hành Quân Lam Sơn 719
Cuộc hành Quân Lam Sơn 719

Ðường xâm nhập Hồ Chí Minh. Lực lượng CSVN/ Việt cộng ở miền Nam không thể tiếp tục chiến đấu hơn một năm nếu không nhận được tiếp liệu từ bên ngoài. Ðiều này đúng hơn khi các đơn vị cộng sản mở những cuộc tấn công với cấp số tiểu đoàn, trung đoàn trở lên. [8] Ðể nuôi sống ý định xâm chiếm miền Nam bằng võ lực, tháng 5-1959 CSVN thiết lập Ðoàn 559 để chuyển người và vũ khí vào nam. Nhiệm vụ của Ðoàn 559 là xây dựng và duy trì một hệ thống đường xâm nhập trên đất Lào, chạy dài từ đèo Mụ Già (rồi sau đó từ những con đèo băng qua biên giới ở Quảng Bình và Vĩnh Linh) xuống đến những tỉnh ở miền đông bắc Cam Bốt (khoảng Katum, Bù Gia Mập, phía VNCH). Từ năm 1959 đến năm 1965, phương tiện vận tải trên đường xâm nhập Hồ Chi Minh (ĐHCM) là sức người, xe đạp thồ, voi, hay trâu bò. Nhưng vào mùa khô năm 1965 (mùa khô ở Hạ Lào bắt đầu vào tháng 10 và kéo dài đến cuối tháng 4), CSVN quyết định cơ giới hoá phương tiện vận chuyển — dùng xe để chuyên chở. Dùng xe thì phải làm đường, và hệ thống đường vận tải của CSVN bung ra mọi nơi trên đất Lào. Năm 1971, khi QLVNCH soạn thảo kế hoạch đánh vào những căn cứ hậu cần trên con đường chiến lược đó, ĐHCM không còn là một “con đường” nữa, mà là một hệ thống đường ngang, đường dọc, chằng chịt trên đất Lào. Tài liệu của CSVN nói hệ thống ĐHCM có tất cả là 17.000 cây số. Ðó là con số phóng đại. Nhưng sự ước lượng đến từ VNCH và Hoa Kỳ thì tổng cộng hệ thống ĐHCM có không dưới 10.000 cây số. Một chi tiết mà hai phía đều công nhận: hệ thống ĐHCM gồm có sáu đường dọc (chạy từ bắc xuống nam); 21 đường ngang (từ tây sang đông, dẫn từ lãnh thổ Lào vào biên giới VNCH); và một số đường vòng không kể hết (đường vòng là đường dùng để trốn bom, hay chạy vòng ngang một trục lộ chánh đang bị bom phá hủy).

Năm 1970 cũng là năm CSVN hoàn tất hệ thống ống dẫn dầu từ Quảng Bình qua đèo Mụ Già, vòng qua phía tây Tchepone và xuôi nam, đi vào thung lũng A Shau. Hệ thống ống dầu không lớn (ống có đường kính 20 phân), nhưng đủ để cung cấp nhiên liệu cho hơn 60 tiểu đoàn xe vận tải và hai trung đoàn xe tăng đóng ở Trung và Hạ Lào. [9]

Với cây số của hệ thống đường gia tăng, nhân lực và quân lực cần có để bảo vệ ĐHCM phải gia tăng. Ðoàn 559 lúc thành hình có cấp số tiểu đoàn với không hơn 400 người, năm 1970 được nâng lên cấp số binh đoàn với 63.000 quân, và 12.000 dân công tạp dịch. Từ một trạm giao liên dẫn đường duy nhất ở Khe Gió, bây giờ ĐHCM có 67 trạm giao liên đường bộ và đường thủy, và 30 binh trạm. Mỗi binh trạm có cấp số tương đương một trung đoàn. Năm 1969 ĐHCM chuyển vận được 78.000 tấn; và năm 1970, 74.000 tấn quân nhu dụng. Hệ thống phòng không bảo vệ những trục đường quan trọng gia tăng theo tỉ lệ số lượng hàng chuyển vận. Năm 1965 lực lượng phòng không trên ĐHCM có khoảng 190 súng phòng không; năm 1970 hoả lực phòng không bảo vệ đường có hơn 970 súng phòng không. Khẩu độ súng phòng không gồm đủ loại: từ loại 12.7 ly để chống trực thăng, đến 85 ly có tầm sát hại trên cao độ của vận tải cơ võ trang AC-130. Ðôi khi đại bác phòng không 100 ly được sử dụng để hăm doạ những phi tuần B-52. Nhiều hơn hết là loại 23 ly và 37 ly điều khiển bằng ra-đa, một vũ khí đáng sợ cho tất cả những phi cơ hoạt động dưới 10.000 bộ (bốn cây số). [10]

Hoa Kỳ và VNCH không phải không biết về sự bành trướng của ĐHCM. Từ năm 1964 VNCH và Hoa Kỳ đã đưa ra nhiều kế hoạch để ngăn chặn hay giới hạn lưu lượng xâm nhập trên ĐHCM. Nhưng Hạ Lào, với địa hình hiểm trở, rừng già che phủ mặt đất, và núi đồi “trùng trùng điệp điệp,” mọi kế hoạch đánh phá, ngăn chặn đã không đem lại kết quả như mong muốn. Trước khi những toán Lực lượng Ðặc biệt MACV-SOG hỗn hợp Việt-Mỹ xâm nhập vào Hạ Lào để viễn thám, Lực lượng Đặc biệt VNCH đã đưa năm toán vào Hạ Lào trong hai tháng 4 và tháng 6 năm 1964 để thám thính. Tuy nhiên trong số 30 nhân viên của năm toán, chỉ có năm người trở về được, hai mươi lăm người kia chết hoặc mất tích. [11]

Những Lực lượng Đặc biệt trở về báo cáo cho biết cán binh cộng sản dầy đặc ở Hạ Lào. Về phía Hoa Kỳ, ngoài những toán Lực lượng Đặc biệt được đưa vào thám thính những mục tiêu trên ĐHCM thường xuyên, từ năm 1968 Bộ Tư lệnh MACV đã thực hiện những chiến dịch dội bom chiến lược hàng ngày trên những của khẩu xâm nhập vào Hạ Lào. Chiến dịch dội bom Commando Hunt chỉ giới hạn vào bốn trọng điểm xâm nhập vào Hạ Lào: Ðèo Mụ Già, Bản Karai, Bản Ravin, và một cửa khẩu trên đầu của giao điểm Sông Rào Quảng và biên giới Lào (hướng tây bắc Khe Sanh). [12]

Một ngày ba lần, mỗi trọng điểm bị ba phi tuần của chín pháo đài bay B-52 đội bom. Một B-52 thông thường chở 105 quả bom 500 cân. Khoảng giữa của những phi vụ B-52 là 125-150 phi vụ chiến thuật rải bom CBU nổ chậm, để ngăn chặn dân công sửa những đoạn đường vừa bị phá. Không quân Hoa Kỳ thực hiện những chiến dịch dội bom như vậy từ tháng 11-1968 cho đến tuần lễ cuối cùng của tháng 1-1971, trước khi QLVNCH chuẩn bị băng qua biên giới. [13]

Sự khai sinh của hành quân Lam Sơn 719

Sự khai sinh của hành quân Lam Sơn 719
Sự khai sinh của hành quân Lam Sơn 719

Henry A. Kissinger trong hồi ký White House Years, nói về nguồn gốc đưa đến kế hoạch HQLS719 như sau, “Sự thành công thì có nhiều người cha. Nhưng thất bại là đứa con không người nhận.” [14] Ý ông Cố vấn An ninh Quốc gia muốn nói là, không ai trong chính phủ Nixon nhận là cha đẻ của kế hoạch hành Quân Lam Sơn 719. Thật sự chúng ta không có nhiều tài liệu khẳn định ai tác giả “vẽ” ra kế hoạch. Nhưng nhiều tài liệu cho thấy Kissinger có tham dự và đốc thúc việc thực hiện HQLS719. Tài liệu rõ ràng nhất đến từ hồi ký của H. R. Haldeman, tham mưu trưởng Toà Bạch ốc, khi Kissinger nói với Haldeman là ông muốn nói chuyện với tổng trưởng quốc phòng Melvin Lair và đô đốc Thomas Moorer (Tham mưu Trưởng Ban Tham mưu Liên quân), trước mặt Tổng thống Richard Nixon, về kế hoạch HQLS719. Lý do là Kissinger muốn thấy Nixon trực tiếp ra lệnh cho hai người thi hành kế hoạch. Một tài liệu khác đến từ đại tướng Alexander Haig, phụ tá quân sự cho Kissinger lúc đương thời. Trong hồi ký Inner Circles, tướng Haig nói Ban Tham mưu Liên quân soạn kế hoạch HQLS719 qua sự thúc giục của Nixon và Kissinger. [15] Có thể là như vậy. Nhưng tài liệu cho thấy chính tướng Haig là người đích thân đem huấn lệnh của tổng Thống Nixon qua Sài Gòn ngày 13 tháng 12-1970, để thông báo cho MACV về kế hoạch đánh qua biên giới. [16]

Ai là tác giả kế hoạch hành Quân Lam Sơn 719 có thể không quan trọng. Quan trọng hơn là vì lý do nào kế hoạch này được đề nghị với thẩm quyền. Sách vở và tài liệu cho thấy lý do chính trị và quân sự thúc đẩy sự thành hình của Cuộc hành Quân Lam Sơn 719 — lý do chính trị và quân sự của năm 1970-71.

Lý do chính trị. Kissinger — và cũng có thể Nixon — có một thúc đẩy chính trị khi đề nghị hay thúc đẩy kế hoạch hành Quân Lam Sơn 719. Kissinger không nói ra điều này trong hồi ký. Dĩ nhiên ông sẽ không bao giờ nói ra những ẩn ý chính trị của một kế hoạch. Công chúng chỉ biết được điều này nhờ vào hồ sơ được giải mật sau này. Năm 2002 Trung tâm Lưu trữ Văn khố Quốc gia cho giải mật một văn thư của Kissinger liên hệ đến hành Quân Lam Sơn 719. Trong văn thư, Kissinger giải thích sự cần thiết của HQLS719 đối với bối cảnh chính trị Mỹ cho hai năm 1971-72. Năm 1972 là năm bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ. Nixon cần được sự ủng hộ tuyệt để của cử tri. Ðể đền bù lại lời Nixon đã hứa với cử tri trong nhiệm kỳ thứ nhất, là ông sẽ kết thúc cuộc chiến ở Việt Nam trong trong vòng một năm sau khi nhiệm chức, lần ứng cử nhiệm kỳ hai, Nixon phải cho cử tri thấy cuộc chiến Việt Nam khả quan, nếu không nói là đồng minh đang thắng thế. Một cuộc tấn công qua Lào vào năm 1971 sẽ gây nhiều thiệt hại cho CSVN. Và nếu CSVN khôi phục lại sức lực để đe doạ tình hình an ninh cho VNCH, thì ít nhất họ cũng cần đến hơn một năm — nghĩa là sau khi cuộc bầu cử 1972 hoàn tất. [17] Kissinger hy vọng như vậy. Hơn nữa, từ tháng 8-1969 Hoa Kỳ đã lần lược rút quân theo kế hoạch — một tiến triển làm vừa lòng giới phản chiến — nếu cuộc tấn công qua Lào có kết quả như dự đoán, thì chương trình rút quân và chương trình Việt Nam hoá sẽ thành công theo ý muốn. Ðó là mưu lược chính trị của Kissinger trong tương quan của HQLS719 và mùa bầu cử 1972.

Lý do quân sự. Lý do quân sự cho kế hoạch hành Quân Lam Sơn 719 thì quá rõ; không ai phủ nhận được — ngay cả phía CSVN. Sự thành công mỹ mãn trong lần đánh qua Cam Bốt. Quân lực CSVN gần như kiệt quệ. Nghị quyết 9 và những đợt rút quân về Bắc vì không còn đủ lương thực để nuôi quân… Tất cả những yếu tố đó thúc đẩy các tư lệnh Việt – Mỹ đi đến quyết định: đây là thời điểm tốt nhất để tấn công các căn cứ hậu cần của CSVN ở Lào; cắt đứt đường tiếp tế vào nam của cộng sản. Một yếu tố khác làm cho giới lãnh đạo Việt – Mỹ phải quyết định nhanh hơn: Cuối năm 1970 quân lực Mỹ còn 334 ngàn quân ở Việt Nam, với đầy đủ tiếp liệu và hoả lực. Nếu đánh là phải đánh ngay, nếu chần chờ, hoả lực yểm trợ của Hoa Kỳ sẽ mất dần theo đà rút quân trong những năm kế tiếp.Với thực tế quân sự khả quan — để phục vụ cho một tương lai chính trị — Toà Bạch ốc ra lệnh cho Ban Tham mưu Liên Quân sơ thảo dự án cho HQLS719. Ðầu tháng 11-1970, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương yêu cầu Bộ Tư lệnh MACV phát hoạ kế hoạch hành quân qua Hạ Lào. Mục tiêu chính là Tchepone; và tất cả các căn cứ hậu cần nằm từ hươùng đông nam Tchepone xuống tận A Shau.

Khái niệm “Hành quân” của HQLS719

Cuộc hành Quân Lam Sơn 719

HQLS719 có cấp số quân đoàn, với một lực lượng tương đương ba sư đoàn tham dự. Cuộc hành quân có bốn giai đoạn. Giai đoạn I, có tên Dewey Canyon II, do các lực lượng Hoa Kỳ phụ trách. [18] Mục tiêu của giai đoạn I là giải toả quốc lộ 9 từ Ðông Hà đến biên giới Việt-Lào ở Lao Bảo; tái chiến căn cứ Khe Sanh để thiết lập Bộ Chỉ huy Tiền phương của HQLS719; và, tái thiết phi trường Khe Sanh làm điểm chuyển vận chánh. Giai Ðoạn II. Các lực lượng VNCH, dùng quốc lộ 9 làm hướng tiến quân, đánh chiếm Bản Ðông, một vị trí quan trọng nằm trên đường 9, cách biên giới chừng 12 cây số. Giai đoạn III: Sau khi củng cố lực lượng, quân Nhảy dù sẽ được trực thăng vận từ Bản Ðông đổ bộ vào chiếm Tchepone, khoảng 42 cây số từ Lao Bảo. Trong lúc đó lực lượng thiết kỵ vẫn tiến đánh dọc theo đường 9 để bắt tay với cánh quân ở Tchepone sau. Giai đoạn IV: Sau khi chiếm Tchepone và phá hủy căn cứ hậu cần ở đó, các đơn vị VNCH sẽ quây về hướng đông nam, tiếp tục lục soát và phá hủy căn cứ tiếp vận ở Aloui (Aluoi) Ta Bat, A Shau, trên đường trở về biên giới. Cuộc hành quân sẽ kéo dài ba tháng, khởi diễn sau Tết Tân Hợi (tháng 27 tháng 1-1971 là ngày Tết) cho đến đầu tháng 5, khi mùa mưa bắt đầu ở Hạ Lào.Khái niệm “hành quân” được Bộ Tổng Tham mưu và MACV chấp nhận và truyền đạt xuống Quân đoàn I (QÐI) và Bộ Tư lệnh Quân đoàn XXIV (QÐXXIV). [19] Tuy nhiên trong thời gian QÐI và QÐXXIV bổ túc thêm những chi tiết phụ cho cuộc hành quân, Hoa Thịnh Ðốn vẫn chưa quyết định chắc chắn là HQLS719 sẽ được thực hiện hay không.

Những khiếm khuyết của hành quân Lam Sơn 719

Ở phần trên chúng ta thấy hoàn cảnh đưa đến quyết định thực hiện hành Quân Lam Sơn 719 — hai ít ra là soạn thảo sự khả thi của kế hoạch. Phần này chúng ta nói về những khuyết điểm của HQLS719.

Khuyết điểm trong lúc soạn thảo

a. Sau khi Toà Bạch ốc và BTMLQHK đồng ý kế hoạch HQLS719, ngày 6 tháng 11-1970 Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương yêu cầu MACV soạn thảo kế hoạch. [20] Hôm sau, 7 tháng 11, Đại sứ Bunker và Đại tướng Abrams hội kiến 80 phút với Tổng thống Thiệu, trình bài những kế hoạch tấn công qua biên giới. Tổng thống Thiệu đồng ý trên căn bản ba kế hoạch đánh qua biên giới, và cho phép thực hiện ngay những kế hoạch có thể thực hiện được. [21]

Ngày 11 tháng 1-1971 Tổng trưởng Quốc phòng Melvin Lair và TMT BTMLQHK, đô đốc Thomas Moorer, đến Sài Gòn và có hội kiến với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về kế hoạch HQLS719. Một lần nữa Tổng thống Thiệu tái xác định sự ủng hộ của VNCH. Vấn đề còn lại là sự ủng hộ của Vương quốc Lào. Nhưng cho đến ngày 21 tháng 1, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và VNCH vẫn chưa biết Hoàng thân Souvana Phouma của Lào có cho phép QLVNCH đem quân vào Hạ Lào hay không. Thêm vào đó, chính Tổng trưởng Ngoại giao William Rogers cũng không đồng ý kế hoạch hành Quân Lam Sơn 719. Roger phản đối vì ông nghĩ đánh vào Tchepone là một kế hoạch nguy hiểm: Thành công thì không sao, nhưng nếu thật bại thì kế hoạch Việt Nam hoá của Hoa Kỳ sẽ mang tiếng xấu. Ngày 22 tháng 1, Souvana Phouma chỉ đồng ý cho QLVNCH đánh vào khu vực ở phía cực bắc vùng ba biên giới (Lào-Cam Bốt-Việt Nam, cực tây của Khâm Ðức). [22]

Cuộc hành Quân Lam Sơn 719
Cuộc hành Quân Lam Sơn 719

b. Với sự thuyết phục của Tổng thống Nixon, Ngoại trưởng Rogers lưỡng lự đồng ý. Sau đó Rogers ra lệnh cho Đại sứ McMurtrie Godley ở Vạn Tượng cố vấn cho Souvana Phouma lên tiếng về Cuộc hành Quân Lam Sơn 719. Phouma lên tiếng phản đối trước dư luận — sự phản đối có tính toán bên trong. Ðầu tiên ông lên tiếng phản đối bất cứ sự xâm phạm nào của VNCH vào lãnh thổ Lào. Rồi sau đó ông chỉ trích sự hiện diện của CSVN trên đất Lào, nói tất cả là lỗi của họ. Và cuối cùng, ông hy vọng QLVNCH sẽ… rời khỏi lãnh thổ Lào trong một, hai tuần (ý nói là hành quân càng ngắn càng tốt).

c. Nhưng khi thấy nhiều xung đột và bất đồng nhất từ cấp trên thẩm quyền dân sự (Bộ Quốc phòng vs Bộ Ngoại giao; Lair vs Rogers; Bộ Ngoại giao vs Nixon…) ngày 27 tháng 1 Đại tướng Abrams gởi điện văn cho TTMTLQ Thomas Moorer, nói ông sẽ hủy bỏ kế hoạch HQLS719, và sẽ chính thức loan báo với các bộ tư lệnh liên hệ vào ngày 29. Nhưng ngay ngày 27, Nixon họp với ban tham mưu và ra lệnh cho thực thực hiện Giai đoạn I của HQLS719 (QLHK tái chiếm Khe Sanh). Giai đoạn II sẽ quyết định sau, nhưng lệnh thực hiện hay hủy bỏ phải đến từ Hoa Thịnh Ðốn. [23] Ngày 29 tháng 1, Nixon ra lệnh MACV phối hợp và yểm trợ cuộc hành quân Toàn Thắng 1/71 đánh trở lại Cam Bốt với khoảng 19 ngàn quân VNCH tham dự. Nhưng quyết định tối hậu về HQLS719 vẫn chưa được thẩm quyền cao nhất quyết định. Sau cùng, ngày 4 tháng 2-1971, được lệnh của Nixon, đô đốc Moorer cho lệnh tiến hành Giai đoạn II. Và Cuộc hành Quân Lam Sơn 719 khởi hành.

Qua ba chi tiết a, b, và c trên, chúng ta thấy kế hoạch hành quân được đề nghị và soạn thảo trong sự e dè, thiếu nghị quyết, vì quá phụ thuộc vào quyết định chính trị. Kế hoạch có thể bị bại lộ từ sự thiếu quyết định này. Sự qua lại Sài Gòn của các thẩm quyền Mỹ không thể không làm cho giới lãnh đạo CSVN nghi ngờ. Càng nghi ngờ hơn khi ngày 15 tháng 12-1970, hoàng thân Phouma đã tuyên bố ở Vạn Tượng, là Lào không muốn VNCH có mặt ở Lào! Không cần suy luận nhiều, CSVN biết phải có chuyện gì Phouma mới tuyên bố như vậy. Sự thương lượng qua lại giữa Mỹ và Phouma có thể bị lộ, vì theo các nhân viên ngoại giao Mỹ, hệ thống bảo mật của chính phủ Hoàng gia Lào có nhiều lỗ thủng hơn cái… rổ!

Thêm vào lời tuyên bố của Phouma, ba sự kiện khác xảy ra trước đó càng làm cho CSVN khẳn định về ý định của VNCH và Hoa Kỳ — hay ít ra làm cho họ chuẩn bị phòng thủ. Sau cuộc tấn công ở Cam Bốt, tháng 9-1970 Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ đổ bộ thẳng vào Ban Bak (Bản Bạc) phá hủy binh trạm 37. Hai tháng sau, 11-1970, Hoa Kỳ nhảy thẳng ra Sơn Tây, moät vị trí cách Hà Nội không hơn 50 cây số. Rồi ngày 15 tháng 1-1971 VNCH dùng 19 ngàn quân đánh trở lại Cam Bốt. Với những cuộc tấn công dồn dập như vậy, CSVN phải nghĩ Hạ Lào sẽ là mục tiêu sắp tới. [24]

Nhiều lời đồn cho rằng CSVN đã biết được kế hoạch HQLS719 từ những điệp viên của họ có mặt ở Sài Gòn. [25] Nhưng với địa hình của vùng hành quân và trục lộ tiến quân, địch không thể nào không suy đoán được kế hoạch của chúng ta. Kế hoạch bị bại lộ không phải do sự tài tình của đối phương mà do sự trục trặc, thiếu phối hợp giữa VNCH và Hoa Kỳ. Sự thiếu phối hợp này vô tình “thông báo” kế hoạch HQLS719 cho đối phương. Trong khi Hoa Thịnh Ðốn, BTTM VNCH và MACV đồng ý sẽ giữ kín tin tức ít nhất cho đến ngày 4 tháng 2-1971 (trong nguyên thủy, ngày 4 tháng 2 là ngày chánh thức khởi đầu sự hành quân) trước khi tuyên bố ra công cộng.

Nhưng ngày 25 tháng 1, nhiều sĩ quan cấp nhỏ ở Quân đoàn I đã được thông báo ngày giờ hành và kế hoạch hành quân rồi. Một trường hợp khác, ngày 22 tháng 1, chính trung tướng James Sutherland, tư lệnh QÐXXIV, chứng kiến trung tướng Hoành Xuân Lãm bàn về kế hoạch HQLS719 với chuẩn tướng Phạm Văn Phú và một số sĩ quan khác, trong khi họ đứng chờ máy bay ngoài phòng khách ở phi trường. [26]

Một trường hợp khác: ngày 15 tháng 1, sau khi Bộ Tổng Tham mưu hoàn thảo kế hoạch HQLS719, chuẩn tướng Trần Ðình Thọ và thiếu tướng Donald Cowles của MACV bay ra Ðà Nẵng để thuyết trình cho tướng Lãm và Sutherland khái niệm hành quân. Ðể bảo mật nên số sĩ quan được mời tham dự rất giới hạn. Sau buổi thuyết trình, khi ra khỏi phòng chuẩn tướng Thọ gặp đại tá Cao Khắc Nhật, đại tá Nhật hỏi, “Tại sao không cho tôi tham dự buổi thuyết trình? Tôi đã hoàn tất soạn thảo kế hoạch hành quân [ở cấp quân đoàn]?” [27]

Ngày 31 tháng 1, nhật báo The New York Times đang tải một nguồn tin — trong đó có đoạn trích từ nhật báo London Observer — về kế hoạch HQLS719. Hai ngày sau, hãng thông tấn CBS News loan tải nguồn tin. Tin tức từ đài CSB khá chính xác về mục tiêu hành quân và quân số tham dự. Tin còn loan báo luôn ngày Tổng thống Nixon cho phép tiến hành kế hoạch hành quân. Như vậy, không những CSVN biết được kế hoạch, mà cả thế giới cũng biết luôn. [28]

Qua sự thiếu phối hợp trên, chúng ta nghĩ đối phương có thể suy luận ra kế hoạch HQLS719. Tin tức tình báo của VNCH và MACV xác định điều này, khi MACV “đọc” được những điện tín qua lại giữa các binh trạm và bộ tư lệnh Binh đoàn 559. Những điện tín cho ta biết CSVN đã thành lập một bộ tư lệnh có tên là 70B cho mặt trận “Ðường 9 – Nam Lào.” Quân lệnh chỉ thị các binh trạm 9, 27, 33, 34 chuẩn bị phòng thủ ngăn chặn cuộc tiến quân của QLVNCH. [29] Cũng từ những điện tín đó, MACV biết rõ số quân CSVN dự bị cho cuộc hành quân.

Khuyết điểm trong cuộc hành quân

Với tất cả những tài liệu về HQLS719 được giải mật trong những năm vừa qua, sau khi tham khảo, đa số các tác gia về quân sự đồng ý về một số khiếm khuyết quan trọng của hành Quân Lam Sơn 719:

(a) QLVNCH không đủ quân để đè bẹp áp lực của quân CSVN trong vùng hành quân;

(b) hoả lực và không vận của QÐXXIV không đủ để yểm trợ cho lực lượng hành quân;

(c) hệ thống quân giai của Hoa Kỳ và VNCH không được xác định rõ ràng và thi hành triệt để trong suốt cuộc hành quân, làm cho những quân lệnh không được thực hiện; và,

(d) tin tức tình báo sai lạc đưa đến nhiều trở ngại cho vấn đề tiếp liệu, hoả lực dự trù, và sự thay đổi bất thần, giữa đường, của kế hoạch.

a. Tháng 3-1967 ở hội nghị thượng đỉnh Guam, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Đại tướng Cao Văn Viên đề nghị với Tổng thống Lyndon Johnson một kế hoạch đánh qua Hạ Lào để cắt đường tiếp tế CSVN vào nam. Tổng thống Johnson không trả lời ngay lúc đó, nhưng cuối năm 1967, Đại tướng William Westmoreland ra lệnh cho ban tham mưu MACV soạn thảo một kế hoạch hành quân tương tự như HQLS719.

Theo lời một đại tá phụ trách soạn thaûo Hành Quân OPLAN EL Paso, khái niệm hành quân cần ba sư đoàn Việt-Mỹ, tương đương 60 ngàn quân: một sư đoàn không kỵ và một sư đoàn bộ binh (Mỹ); và một sư đoàn Nhảy dù VNCH. Lực lượng tiếp liệu và yểm trợ cho đạo quân đó phải có khả năng yểm trợ cho cấp quân đoàn. Khái niệm hành quân đặt nặng vấn đề tiếp liệu bằng không vận, vì nhu cầu của lực lượng tại mặt trận cần ít nhất là 2.975 tấn quân nhu dụng một ngày. [30]

Kissinger trong hồi ký có nói khi ông hỏi Đại tướng Westmoreland về sự khả thi của hành Quân Lam Sơn 719, Westmoreland nói cuộc hành quân cần ít nhất là bốn sư đoàn cộng để tấn công vào Tchepone. Và phải tấn công chớp nhoáng bằng trực thăng vận chứ không thể đánh đường bộ chậm chạp như đang thực hiện. [31]

Qua những chi tiết trên, chúng ta thấy ba sư đoàn VNCH quá ít để áp đảo lực lượng đối phương trong những ngày đầu — khi quân CSVN chưa huy động tất cả lực lượng trừ bị của họ. Ở cao điểm của hành Quân Lam Sơn 719, VNCH có 30.746 quân ở chiến trường Lào, gồm 16 tiểu đoàn tác chiến và 12 tiểu đoàn pháo binh. Trong khi đó, tại vùng hành quân, BTL 70B của CSVB có hơn 60 ngàn quân. [32]

Như tất cả học viên quân sự đều thuộc nằm lòng, khi tấn công thì quân tấn công cần tỉ số ba trên một nếu muốn thành công. Trong Cuộc hành Quân Lam Sơn 719 quân tấn công chỉ bằng phân nữa quân phòng thủ, mà lại tấn công vào một địa hình do đối phương hoàn toàn làm chủ.

b. Yểm trợ và tiếp liệu cho cuộc hành quân đến từ QÐXXIV Hoa Kỳ. Quân đoàn XXIV được thành lập từ tháng 8-1968, và thay thế Quân đoàn III TQLC ở Vùng I VNCH.

Sau Giai đoạn I của cuộc hành quân (bảo vệ đường 9 từ Ðông Hà đến Lao Bảo và tái chiếm phi trường Khe Sanh), vai trò của QÐXXIV được đặt nặng vào tiếp tế không vận và yểm trợ bằng không pháo (aerial artillery/ pháo binh của trực thăng võ trang) — và sự sống còn của các lực lượng ở chiến trường tùy thuộc vào sự hữu hiệu của hai khả năng này.

Theo những tài liệu đến từ MACV, QÐXXXIV không đủ khả năng để yểm trợ cho cuộc hành quân, về hoả lực cũng như về không vận.Tài liệu giải mật từ MACV cho thấy QÐXXIV có gần 600 trực thăng để phục vụ cho HQLS719. [33] Nhưng khả năng hoạt động của số trực thăng bị giới hạn vì hoả lực, thời tiết và bảo trì — những yếu tố mà hai tuần vào cuộc hành quân, MACV và QÐXXIV mới nhận ra.

Chỉ nói về phương diện tiếp tế lương thực thôi, đạo quân 30 ngàn người ở chiến trường cần 150 phi vụ trực thăng một ngày để thoả mãn — và đây chỉ là nhu cầu tối thiểu với một ký thực phẩm và bốn lít nước cho mỗi người. [34] Qua tài liệu, chúng ta thấy những căn cứ hoả lực rất cần nước.

Tác giả đại úy pháo binh Trương Duy Hy nói về những cảnh giành giựt nước tiếp tế trên đồi 30: thiếu nước uống, thiếu nước để lau chùi nòng súng pháo binh.. Tiểu đoàn 2 Nhảy dù trước khi di tản khỏi căn cứ hoả lực 30, đánh một điện tín lên trời, yêu cầu phi cơ liên lạc thông báo với tư lệnh sư đoàn Nhảy dù về tình trạng tiếp tế nguy ngập của tiểu đoàn. “Bị bao vây đã 10 ngày, có 200 thương vong, không có tiếp tế… không nước và lương thực hai ngày qua. Cần tiếp tế lập tức khi trời sáng.” [35]

Ðến ngày 24 tháng 2 BTL MACV bùng nổ vì vấn đề thiếu trực thăng: Ðại tướng Abrams điên lên vì sự quản trị — hay thiếu quản trị — nhu cầu không vận của BTL QÐXXIV. Sĩ quan dưới quyền của tướng Sutherland báo cáo về MACV là mặc dù tình hình trực thăng nguy ngập, nhưng trung tướng Sutherland vẫn không có một phản ứng nào thích hợp để giải quyết. Trong một trang giải mật của tác phẩm The Abrams Tapes, chúng ta đọc được những tiếng chửi thề của tư lệnh và tư lệnh phó MACV về sự quản trị và điều khiển nhu cầu cung ứng trực thăng cho mặt trận Hạ Lào. Chưa hả giận, tướng Abrams bay ra BTL QÐ XXIV để thị sát và… chửi thề tiếp. [36]

Cũng biết thêm, Không quân Hoa Kỳ đã làm tất cả những gì họ có thể làm được để chuyển quân nhu dụng ra Ðông Hà và Khe Sanh. Từ Ðông Hà hàng có thể di chuyển bằng quân xa về Khe Sanh. Nhưng từ từ Khe Sanh ra vùng giao chiến thì chỉ trông chờ vào trực thăng. Sau ba ngày hành quân, ngày 11 tháng 2, Đại tướng Lucius Clay, tư lệnh Không lực 7 than thở trong buổi họp ở MACV: “Ngoài những phi vụ yểm trợ cho cuộc hành quân này [HQLS719] tôi bay 12.000 phi vụ yểm trợ một tháng. Tôi bay 21.000 phi vụ chuyên chở. Tôi bay 850-900 phi vụ thám thính. Ý tôi muốn nói là vấn đề bảo trì… chúng ta chỉ có thể bay đến một giới hạn nào đó thôi.” Tướng Abrams cũng không thể phủ nhận là khả năng không vận và không lực của quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam trong thời điểm đó đã đến mức tối đa. Chính tướng Abrams cũng thốt lên ý nghĩ đó vào ngày 27 tháng 2 — hai ngày sau khi đồi 31 của Lữ đoàn 3 Nhảy dù thất thủ: “Chúng ta đang ngập đầu với gánh nặng, ở Cam Bốt cũng như ở Lào.” Ở mặt trận Cam Bốt, ngày 23 vừa qua tướng Trí vừa tử nạn trực thăng. Và đến ngày 27, MACV báo cáo quân lực VNCH có 21.000 quân tại mặt trận Cam Bốt. Ðó là lý do tại sao Hoa Kỳ không còn khả năng không vận.

Kế hoạch HQLS719 cũng tính sai về khả năng yểm trợ hoả lực, không pháo từ trực thăng ở những bãi đổ quân. Trực thăng võ trang AH-1G hay những chiến UH-1C biến cải thành võ trang, không đủ hoả lực để đè bẹp phòng không của đối phương trên đường bay vào bãi đáp, hay hộ tống những phi vụ chở quaân. Một lần nữa, MACV và QÐXXIV không ước lượng được sự cuồng nộ của phòng không đối phương — càng lúc càng gia tăng theo thời gian của trận chiến. Khi MACV yêu cầu không quân Hoa Kỳ yểm trợ và tham dự vào kế hoạch dọn bãi đáp thì số trực thăng thiệt hại đã lên khá cao.

Trước khi đó, thông thường BTL QÐXXIV chỉ yêu cầu 10-12 phi vụ dội bom chiến thuật từ không quân, rồi pháo binh và không pháo trực thăng đàn áp hoả lực phòng không để cho trực thăng đáp xuống. Nhưng sau 20 ngày hành quân, 31 trực thăng bị hủy hoại và 230 chiếc khác bị trúng đạn, phi công trực thăng Lục quân Hoa Kỳ e ngại hơn.

Ngày 3 tháng 3, khi đổ quân vào bãi đáp LoLo ở đông nam Tchepone, trực thăng gặp kháng cự mạnh của phòng không. Cuộc đổ quân bắt đầu từ 10 giờ sáng, bị nhiều gián đoạn vì hoả lực của đối phương, đến 6:30 chiều mới hoàn tất. Kết quả: Liên đoàn 101 Không vận Trực thăng có 20 bị trúng đạn không cất cánh được; bảy bị hủy diệt hoàn toàn; và 42 bị trúng đạn hư hại. Sự khinh thường hoả lực phòng không của đối phương gây nhiều trở ngại và thiệt hại cho lực lượng tấn công. Cũng vì khinh thường đối phương nên QÐXXIV không “mời” Không lực 7 góp ý kiến vào những kế hoạch dọn bãi, nhất là những bãi đáp để tiến vào Tchepone vào đầu tháng 3. Sau lần thiệt hại ở bãi đáp LoLo, QÐXXIV chấp nhận phương cách dọn bãi đổ quân của Không lực 7. [37]

c. Hệ thống chỉ huy và điều khiển của Hoa Kỳ và VNCH trong cuộc hành quân. Vấn đề chỉ huy và điều khiển phía VNCH đã được báo chí, sách vở bàn luận nhiều. Ở đây người viết chỉ lặp lại một số chi tiết đáng nhớ. Ðặt hai trung tướng Lê Nguyên Khang và Dư Quốc Ðống dưới quyền thống thuộc của trung tướng Hoàng Xuân Lãm gây nhiều trở ngại cho vấn đề chỉ huy và điều khiển.

Sự bất hợp tác — và bất phục — tùng dĩ nhiên xảy ra. Tương tự, sự bất hợp tác hiện hữu khi Lữ đoàn 1 Nhảy dù (đại tá Lê Quang Lưỡng) nằm dưới quyền thống thuộc của Chiến đoàn 1 Ðặc nhiệm (đại tá Nguyễn Trọng Luật). Sự giậm chân tại chỗ năm ngày ở Bản Ðông của quân Dù và Thiết kỵ; cuộc giải cứu thất bại đồi 31, đêm 25 tháng 2… là những bằng chứng về sự bất hợp tác này.

Tài liệu cho thấy sự bất đồng xảy ra khi tướng Khang đập bàn lúc nói chuyện với tướng Lãm. Tướng Lãm bay về Dinh Ðộc Lập để than phiền với Tổng thống Thiệu và Đại tướng Viên về tướng Ðống. [38] Cũng chính vì sự bất hợp tác này, trung tướng Lãm đã thay đổi kế hoạch giữa lúc trận chiến đang xảy ra: Sư đoàn 1 Bộ binh thay Sư đoàn Nhảy dù nhảy vào Tchepone; TQLC từ Khe Sanh sẽ đổ bộ vào những cao điểm phía nam đường 9, thay thế bộ binh của Sư đoàn 1. Sự thay thế này đã gây nhiều thiệt hại cho Sư đoàn TQLC ở hai cao điểm Hotel và Delta.Hệ thống chỉ huy và điều khiển của Hoa Kỳ trong HQLS719, tuy không có vấn đề bất tuân hệ thống quân giai, nhưng họ lại quên chỉ định một quân giai để chỉ huy và điều khiển: Ở bộ tư lệnh tiền phương ở Khe Sanh, cho đến ngày 24, Hoa Kỳ không có một sĩ quan cấp tướng nào để chỉ huy và điều khiển các ông đại tá của các quân chủng khác nhau (sĩ quan liên lạc/ phối hợp của Không duân, Hải quân, Thuỷ quân Lục chiến…).

Ngày 25 tướng Abrams mới cho một trung tướng ra bộ chỉ huy tiền phương để duyệt xét sự hợp tác và phối hợp giữa Không quân và Lục luân. Thêm vào sự khó khăn là các sĩ quan cố vấn cho các sư đoàn VNCH làm việc trực tiếp cho MACV, nên họ không phải trả lời cho BTL QÐXXIV, và họ điều khiển chiến thuật, cung cấp tiếp liệu, yêu cầu yểm trợ theo ý họ. Ðôi khi MACV phải giải quyết những trở ngại này từ Sài Gòn. [39]

Một sự thiếu hiệu quả khác của hệ thống chỉ huy và điều khiển là nằm xa nhau, khó “chạy qua, chạy lại” để hỗ trợ. BTL QÐXXIV nẵm ở Ðà Nẵng; QÐ I nằm ở Huế và Quảng Trị; và bộ chỉ huy tiền phương thì nằm ở Khe Sanh. Hệ thống chỉ huy như vậy không bảo đảm được sự liên tục của quân lệnh.d. Tin tức tình báo sai lạc trong cuộc hành quân. Khi tấn công vào một địa hình do địch làm chủ hoàn toàn, ở một mặt trận xa hậu cứ, và đường tiếp tế thì giới hạn bởi chính địa hình đó, tin tức tình báo về lực lượng của đối phương rất quan trọng. Mọi sự sai lệch về tình báo sẽ là một yếu tố quan trọng đưa đến thắng thua trong trận chiến. Nhưng rất tiếc, tin tức tình báo mà ban tham mưu VNCH và Hoa Kỳ dựa vào để soạn thảo kế hoạch HQLS719 thì hoàn toàn sai lạc. Sai lạc về hoả lực, quân số, và địa hình của mặt trận gây nhiều khốn đốn cho lực lượng tấn công.

Hoả lực phòng không. Ước tính tình báo sơ khởi do Không lực 7 cung cấp, cho biết Binh đoàn 559 và các đơn vị trực thuộc Binh đoàn 70B có khoảng 225-275 súng phòng không. Dựa vào tin tức này, QÐXXIV và Liên đoàn 101 Không vận Trực thăng nghĩ họ có thể “giải quyết được.” Càng nghĩ họ sẽ giải quyết và áp chế được số lượng phòng không địch ở Hạ Lào, nên chẵng những Lục quân không xin yểm trợ tối đa của Không quân, mà họ còn cho ước tính của Không quân quá cao. Nhưng ngược lại, ước tính của Không quân quá thấp: Khi lâm trận thì mới biết CSVN có từ 525-575 súng phòng không ở mặt trận. [40]

Nhiều nhất là loại 12.7 ly. Loại súng này không lớn, không bắn được cao, nhưng đủ để triệt hạ những trực thăng đổ bãi. Và vũ khí đó đã làm thay đổi trận chiến rất nhiều. Ước lượng về hoả lực địa pháo cũng hoàn toàn sai: Không lực và pháo binh Ðồng Minh không phản pháo hay áp đảo được tất những ụ pháo của đối phương. Ðầu tháng 3, trung tướng Sutherland gọi điện thoại về nói với tư lệnh phó MACV Fred Weyand, “Ðịch có mặt mọi nơi. Súng cối và pháo binh gây nhiều phiền phức…” Tiểu đoàn 2 Nhảy dù di tản khỏi đồi 30 không phải vì áp lực bộ binh của địch mà là vì pháo. Hơn 1.000 quả pháo bắn vào đồi 30 trong hai ngày trước khi tiểu đoàn di tản, hủy diệt tất cả pháo binh của hai pháo đội đóng trên đồi. [41]

Sai lạc về địa hình. Không ảnh do Không lực 7 cung cấp và ước lượng cho biết đường 9 từ Lao Bảo về Bản Ðông lưu thông được. Xăng và nước uống sẽ được chuyển vận bằng quân xa theo lộ trình đó để tiếp tế cho mặt trận. Nhưng không ảnh hoàn toàn sai: Ðường 9 bị không quân dội bom từ năm 1966, cắt ra nhiều đoạn. Trên đường, đôi khi có nhiều lổ thủng bề ngang 6-7 thước, sâu 2-3 thước. [42]

Khi những chuyến xa “tanker” loại 5.000 gallons gặp những khúc đường đó, họ không băng qua được được. Xăng và nước chỉ đến được Khe Sanh, từ đó ra chiến trường phải là trực thăng. Di chuyển bằng đường bộ không được gaây một gánh nặng cho không vận. Nước cho người đã là một gánh nặng; nặng hơn là nhiên liệu cho các lực lượng cơ giới. Lực lượng cơ hữu của Lữ đoàn 1 Kỵ binh có tổng cộng 62 xe tăng và 162 thiết giáp. Chưa kể những quân xa đi theo. [43] Cơ giới mà không có xăng thì cũng như không.

Trên đoạn đường rút quân về biên giới, một số quân xa, thiết giáp, xe tăng, bị bỏ lại chỉ vì hết xăng. Khi BTL QÐXXIV biết được chuyển vận sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào không vận, thì khả năng không vận của quân đoàn đã quá mức tối đa, không còn xây chuyển được.Một sai lạc về địa hình rất căn bản xảy ra trong HQLS719 nói lên sự thất bại của nguyên kế hoạch: lính đi qua Hạ Lào không được trang bị y phục cho thời tiết lạnh. Trên những cao độ ở Hạ Lào, ban đêm lính rất khổ sở vì lạnh. Rừng núi ở Hạ Lào vào tháng 2, trên đồi cao mà không trang bị quân phục ấm cho lính thì đó là một ước tính thiếu sót không hiểu được. Ðiều đó nói lên tất cả sự sơ sót của kế hoạch hành Quân Lam Sơn 719.

Đăng lại từ : vnin21.blogspot.com

Lưu ý : Bài viết không đại diện cho quan điểm của Ban biên tập Việt Sử Giai Thoại. Chúng tôi mong muốn mang lại cho bạn đọc nhiều thông tin đa chiều, bao gồm các quan điểm đối lập nhau khi nhìn về lịch sử.

Xem thêm bài hay khác : Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những nước cờ cao tay trên chiến trường

Chú thích :

  • [1]Sự quan trọng của Quyết nghị 9 được Bộ Tổng Tham mưu VNCH (BTTM VNCH) và Bộ Tư lệnh MACV (BTT MACV) nhắc đến nhiều lần trong những buổi họp quan trọng. Ðọc Lewis Sorley, The Abrams Tapes, trang 278-79, 282, 305. Ðiểm chánh của Nghị quyết 9 là CSVN không còn chủ trương một chiến thắng toàn diện bằng quân sự nữa, trái lại các đơn vị phải trở lại thế thụ động, đóng quân tại chổ cho đến khi tình hình thay đổi thuận lợi hơn. Ði đôi với chiến thuật án binh bất động, bộ tư lệnh B-3 (Tây Nguyên) đưa tất cả những đơn vị không cần thiết (tiếp vận và hậu cần) trở ngươïc về Bắc vì vùng đóng quân không còn gạo để nuôi lính. Tài liệu cho biết hơn 30 ngàn quân phải lội ngược trở về Bắc trong năm 1969-70. Ðọc Thượng tướng Ðặng Vũ Hiệp, Ký ức Tây Nguyên, trang 130-41; trung tướng Ðồng Sĩ Nguyên, Ðường xuyên Trường Sơn, trang 151-53.
  • [2]Một vài con số của năm 1969-70. Với tình hình an ninh làng xã được bảo vệ, mùa lúa năm 1970 miền Nam sản suất 6.5 triệu tấn lúa, nhiều nhất từ trước đến giờ. Thiệt hại của CSVN năm 1969 là 156.000 chết; và năm 1970 là 103.000. VNCH có 21.000 tử thương cho năm 1969; và 23.000 cho năm 1970. (Các con số được gom lại thành số thành số chẵn.) Một chi tiết khác cho thấy CSVN giới hạn lại những hoạt động quân sự trong năm 1970: Năm 1967 CSVN xâm nhập 101 ngàn quân; năm 1968, 244 ngàn; và 1969, 104 ngàn. Nhưng năm 1970, số quân xâm nhập chi còn hơn 57 ngàn. Con số này chỉ để bổ sung vào số thiệt hại trong năm đó. Tài liệu, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, Office of Assistant Chief of Staff, Intelligence (CFP-ODCSOPS-3/ 18.1. June 30, 1972).
  • [3]Chuẩn tướng Trần Ðình Thọ, The Cambodian Incursion, trang 171-72; 193-94
  • [4]Theo đại tướng Donn Starry (một đại tá lữ đoàn trưởng trong cuộc hành quân qua Cam Bốt), địa hình ở Cam Bốt lý tưởng đến độ, tại một mặt trận, 250 xe thiết vận xa dàn hàng ngang, cách nhau 25 thước một chiếc, và tấn công thẳng trên một mặt trận sáu cây sáu cây số chiều ngang, “áp đảo mọi kháng cự của đối phương.” Donn A. Starry, Mounted Combat in Vietnam, trang 172.
  • [5]Quân lực Hoa Kỳ rút quân ra khỏi lãnh thổ Cam Bốt vào ngày 30 tháng 6-1970. QLVNCH vẫn còn quân ở Cam Bốt để giúp đỡ quân đội Hoàng Gia Cam Bốt cho đến cuối tháng 8-1970. Tuy nhiên từ tháng 8 cho đến cuối năm 1970, QLVNCH vẫn ra vào lãnh thổ Cam Bốt tùy theo nhu cầu an ninh. Ðầu năm 1971, QLVNCH mở cuộc hành quân Toàn Thắng 1/71, với hơn 19 ngàn quân tham dự. Tài liệu chi tiết nhất về những cuộc hành quân qua Cam Bốt năm 1970 là, chuẩn tướng Trần Đình Thọ, The Cambodian Incursion. Gọi là những cuộc hành quân, vì ba cánh quân VNCH-Mỹ có tên khác nhau khi đánh qua Cam Bốt: Hành quân Toàn Thắng là cánh quân từ Quân đoàn III; Hành quân Cửu Long, là các đơn vị từ Quân đoàn IV; và Hành quân Bình Tây, đến từ Quân đoàn II. Trong một trường hợp, hành quân Toàn Thắng 42/ Ðại Bàng, để chỉ sự phụ trách riêng biệt của Sư đoàn Nhảy dù VNCH, tại một vùng trách nhiệm, trong một thời gian đặc thù. Ðọc Trần Ðình Thọ, sđd, cùng chương.
  • [6]Các quân lệnh trao đổi giữa BTL Thái Bình Dương và BTL MACV nằm trong Willard J. Webb, The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, 1971-1973, Part I, trang 15-20. Quân lệnh của tướng Abrams gởi cho các trưởng phòng của BTL MACV lưu trữ trong Abrams Special Collection, U.S. Army War College, Carlisle, Pennsylvania.
  • [7]Tài liệu, sách liên hệ về chiến tranh ở Lào, đọc Christoper Robbins, The Ravens: The Men Who Flew in America’s Secret War in Laos. Về những cơ sở điện tử, hệ thống ra-đa trên đất Lào, đọc Timothy Castle, One Day Too Long: Top Secret Site 85 and the Bombing of North Vietnam.
  • [8]Trung bình, một tiểu đoàn giao chiến hai ngày, cần hơn năm tấn đạn. Lương thực và những tiếp liệu khác chưa kể. Con số này đến từ cấp số vũ khí và đạn trang bị cho một tiểu đoàn bộ binh căn bản. Tài liệu và phương thức tính đến từ A Study of Data Related to Viet Cong/ North Vietnamese Army Logistics and Manpower, trang 25-35 (Document 5-3-17, Top-Secret, LBJ Library).
  • [9]Nguyễn Việt Phương, một cựu đại tá trong Ðoàn 559, ghi lại một số chi tiết về cơ cấu ĐHCM trong Trường Sơn: Ðường Hồ Chí Minh huyền thoại (2 quyển). Sách của các tác giả CSVN viết về ĐHCM nhiều, nhưng chất lượng không có. Nếu đọc kỹ và đối chiếu nhiều tài liệu với nhau, đọc giả sẽ thấy nhiều mâu thuẫn hiển nhiên. Tác giả viết bài này có nhận định tổng quát thư liệu về ĐHCM của CSVN trong “Binh đoàn, binh trạm, và đường đi B: Ðọc một vài quyển sách về Ðường Hồ Chí Minh” (Chuyên san Dòng sử Việt, Số 4, năm 2007. Có thể đọc trên Internet ở web site http://www.talawas.org).
  • [10]Tổng cục Hậu cần, Vận tải quân sự chiến lược trên Ðưòng Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ, trang 435. Trong số 970 súng phòng không, có 416 súng là loại 12.7 ly, số còn lại là từ 20 ly trở lên; và, Project CHECO, Headquarters Seventh Air Force, Commando Hunt V. Ðại bác phòng không 37 ly có tầm hiệu quả ở cao độ 10.000 bộ; 85 ly, 25.000 bộ; 100 ly, 31.000 bộ. AC-130 hoạt động khoảng 9.500 bộ; B-52, từ 28.000 đến 31.000 bộ.
  • [11]Về cơ cấu của MACV-SOG (Military Assistance Command-Studies and Observations Group) và chi tiết những điệp vụ xâm nhập vào Lào, đọc Military Assistance Command Vietnam, Command History, 1970. Appendix B, Part V, MACSOG Dcumentation Study (July 1970). Studies and Observations Group là một mỹ danh của Special Operations Group, một liên đoàn Lực lượng Ðặc biệt phụ trách về tình báo chiến lược cho BTL MACV.
  • [12]Sách của CSVN ghi tên các của khẩu là Ðường 12-Mụ Giạ-Seng Phan; Ðường 20-Ta Lê-Lùm Bùm; Ðường 18-Ðèo 700-Tà Lao. Không thấy tài liệu của họ nói về “Box Delta,” một cửa khẩu trọng điểm nằm ngay dưới vĩ tuyến 17 và biên giới Lào.
  • [13]Về những chiến dịch dội bom Commando Hunt ở Hạ Lào, đọc Project CHECO, Headquarters Pacific Air Forcce, Commando Hunt V. Trong cao điểm của chiến dịch dội bom chiến lược, Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược (Strategic Air Command là BTL điều khiển pháo đài bay B-52) cung cấp cho MACV 1.400 phi vụ B-52 một tháng. Khoảng 300 phi vụ được sử dụng bên trong lãnh thổ VNCH, số còn lại cho những mục tiêu ở Hạ Lào.
  • [14]Henry Kissinger, White House Years, trang 1004-05.
  • [15]H.R Haldeman, The Haldeman Diaries, trang 224-26; 239. Haldeman là Chief of Staff của tổng thống Nixon. Alexander Haig, Inner Circles, trang 273-76. Nhưng theo tác giả Seymour Hersh (the Price of Power: Kissinger in the Nixon White House, trang 308) thì chính Haig là người đề nghị kế hoạch HQLS719 với Kissinger. Những sự đổ thừa qua lại cho thấy không ai nhận làm tác giả một kế hoạch bất hoàn hảo — nếu không nói là thất bại.
  • [16]Ðại tướng Bruce Palmer, Jr., The 25-Year War, trang 108; Sorley, A Better War, trang 234-35. Từ tháng 1-1970 đến tháng 3-1971 tướng Haig đến Sài Gòn ba lần. Mục đích của chuyến đi ngày 13 tháng 12-1970 thì đã nói trên; chuyến viếng thăm giữa tháng 3-1971, là để thẩm định tình hình Cuộc hành Quân Lam Sơn 719 đang diễn ra. “… kế hoạch đánh qua biên giới.” Là ám chỉ hành quân Toàn Thắng 1/71, đánh trở lại vùng đồn điền Chup, Krek, và phía nam Kompong Cham.
  • [17]Tài liệu do National Archives giải mật và được nhật báo The Washington Post đăng tải ngày XXX.
  • [18]Một số các tài liệu Hoa Kỳ nói về HQS719 đôi khi dưới tên Dewey Canyon II. Thật sự Dewey Canyon II là một phần của HQLS719, và chỉ là những hoạt động của quân lực Hoa Kỳ ở bên này biên giới. Lý do gọi là Dewey Canyon II, vì hai năm trước đó, tháng 1-1969, TQLC Hoa Kỳ đã có hành quân Dewey Canyon đánh qua biên giới Lào ở khu vực A Shau, vào căn cứ hậu cần 611 và 609 do Binh trạm 42 phụ trách. Cuộc hành quân năm 1969 rất giới hạn (sâu vào biên giới Lào từ bốn đến sáu cây số) nhưng phá hủy và tịch thu nhiều vũ khí, quân nhu dụng của CSVN. Lewis Sorley, The Abrams Tapes, trang 129, 156; Shelby Stanton, The Rise and Fall of An American Army, trang 295-300.
  • [19]Vì hành quân ở vùng trách nhiệm của Quân đoàn I, trung tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Quân đoàn I được cử làm tư lệnh cuộc hành quân. Quân đoàn XXIV là BTL Mỹ phụ trách Vùng I. Trước đây, BTL Quân đoàn III TQLC (III Marine Amphibious Force) phụ trách địa phận này. Cuối năm 1969, TQLC Hoa Kỳ bắt đầu rời Việt Nam trong chương trình Việt Nam hoá, và MACV lập ra BTL Quân đoàn XXIV để thay cho III MAF.
  • [20]Ngày tháng và nội dung của những điện văn, quân lệnh trao đổi giữa BTL TBD và BTL MACV nằm trong The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, 1971-1973, Part I. Một số điện văn trao đổi giữa BTMLQHK, BTL TBD, MACV được sơ lược trong Lewis Srley, A Better War, trang 228-246
  • [21]Ba kế hoạch tấn công qua biên giới là, tấn công qua Cam Bốt, Hạ Lào, và đột kích bí mật qua vĩ tuyến 17. Cuộc tấn công qua Cam Bốt là hành quân Toàn Thắng 1/71, với 19 ngàn quân tham dự. Lewis Sorley, sđ
  • [22]Ðây là khu vực của binh trạm 37, nằm trên một vùng có tên là Ban Bak (tài liệu CSVN gọi là Bản Bạc), khoảng 60 cây số từ biên giới Việt Nam. Nếu nhìn bản đồ quân sự, vùng này nằm bên trái quốc lộ 14, hướng tây của Khâm Ðức. Ðây là caên cứ 609, căn cứ hậu cần lớn nhất sau Tchepone. Trung tuần tháng 9-1970, LLÐB Mỹ tấn công vào binh trạm này trong cuộc hành quân Tailwind. Trong cuộc hành quân đó, LLÐB Mỹ bị vu cáo đã dùng vũ khí hơi độc Sarin. Bộ Quốc phòng Mỹ phải giải mật một số hồ sơ về cuộc hành quân để phản đối tin đồn sai lạc này.
  • [23]The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, trang 24-25.
  • [24]Một ký giả Mỹ viếng thăm Hà Nội kể lại, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch nói Tổng thống Nixon có khuynh hướng làm những chuyện táo bạo, và chính phủ Hà Nội phải dự kiến nhiều viễn tượng bất ngờ sau hai lần bị tấn công vào Ban Bak và Tây Sơn. Seymour Hersh, The Price of Power, trang 306.
  • [25]Larry Berman, trong tác phẩm về điệp viên Phạm Xuân Ẩn, nói Ẩn biết được kế hoạch Cuộc hành Quân Lam Sơn 719 từ một “đại tá Nhảy dù và LLÐB.” Tuy nhiên, qua những gì chúng ta đọc được trong sách, đây chỉ là những lời đoán mò, nếu không là nói dóc của Phạm Xuân Ẩn. Ðọc Perfect Spy: The Incredible DoubleLife of Pham Xuan An, trang 184-85.
  • [26]Ðại úy Trương Duy Hy trong Tử thử căn cứ hoả lực 30 Hạ Lào, cho biết ngày 25 tháng 1-1971, ông và nhiều sĩ quan được gọi về bộ chỉ huy tiểu đoàn pháo binh để nghe thuyết trình về cuộc hành quân. Trong buổi họp, tin chánh thức cho biết hành quân sẽ khai diễn sau Tết Tân Hợi (Mùng Một Tết năm 1971 là ngày 27 tháng 1). Về chuyện tướng Lãm nói chuyện với tướng Phạm Văn Phú ở phi trường, đọc John Prados, The Blood Road: The Ho Chi Minh Trail and the Viet Nam War, trang 322-23.
  • [27]Ðọc thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, Lam Son 719, trang 34. Ðại tá Cao Khắc Nhật là tham mưu trưởng Quân đoàn I; Chuẩn tướng Trần Ðình Thọ, Phòng 3, BTTM; thiếu tướng Donald H. Cowles, Phòng 3, MACV
  • [28]The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, trang 26-28. Phóng viên Marvin Kalb nói trúng phóc ngày Nixon ra lệnh tiến hành Giai đoạn I của HQLS719.
  • [29]Sorley, The Abrams Tapes, trang 428, 525, 530, 599. Binh trạm 9 phụ trách vùng Tchepone, Bản Cộ, Thà Khống (đường 18); binh trạm 27 phụ trách đường 16, đi về Bản Ðông; 33 và 34 phụ trách đường 914 từ Tchepone về Bản Ðông, nằm phía tây nam đường 9.
  • [30]Ðại tá John M. Collins, Oplan El Paso, Joint Forces Quarterly, Autumn/Winter 1997-98, trang 118. Quân số cho cuộc hành quân là 60 ngàn, nhưng vùng hoạt động của Oplan El Paso lớn hơn HQLS719: Ðông Khe Sanh, Bắc sông Xe Banghiang, tây Muong Phine, nam Muong Nong. Sư đoàn của Mỹ đông hơn của VNCH rất nhiều: sư đoàn không kỵ có quân số 22 ngàn; sư đoàn bộ binh điển hình có 16 ngàn. Con số 60 ngàn cho ba sư đoàn, chắc là cộng thêm những đơn vị công binh, thiết kỵ, pháo binh cơ hữu của sư đoàn.
  • [31]Kissinger, sđd, trang 1005. Trong trang này, Kissinger nói ông nói chuyện với Westmoreland ngày 23 tháng 2 (hai ngày trước khi căn cứ hoả lực 31 thất thủ; năm ngày sau khi hai tiền đồn của BÐQ đã mất), và Westmoreland nói bốn sư đoàn là lực lượng tối thiểu cho cuộc hành quân. Nhưng ở trang 906, Kissinger lại nói kế hoạch trong quá khứ do Westmoreland soạn thảo cần đến hai quân đoàn lính Mỹ (chữ nghiên của người viết). Kissinger nói hai quân đoàn cũng có lý do, nếu một sư đoàn là 10 ngàn quân (ba sư đoàn là một quân đoàn; 60 ngàn quân trong ước tính của Oplan El Paso, trên căn bản, là hai quân đoàn).
  • [32]Số quân 30.746 VNCH đến từ phiếu đệ trình, Phòng 3, BTTM, Gởi Tổng trưởng Quốc phòng, đề mục: Tổng kết tổn thất bạn/ địch trong cuộc hành quân Lam Sơn 719. Ngày 10 tháng 4-1971, BTTM cho lưu hành tài liệu này để cho các cơ quan liên hệ sử dụng khi nói về thiệt hại bạn/ địch trong cuộc hành quân. Nhưng phải nhấn mạnh ở đây, 30 ngàn quân là tổng số quân chánh thức tham dự HQLS719. Số quân thật sự ở mặt trận quá 19 ngàn trong cao điểm cuộc hành quân. Số quân 60 ngàn CSVN đến từ Merle Pribbenow, translator, Victory in Vietnam: The Official History of the People’s Army of Vietnam, 1954-1975, trang 274 (Ðây là bản dịch cuốn Thời kỳ trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Hà Nội: Quân Ðội Nhân Dân, 1994.) . Trong tài liệu này, CSVN nói đầu tháng 2-1971 ở vùng hành quân họ có năm sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, và 2); hai trung đoàn độc lập (27 và, 278); tám trung đoàn pháo binh; ban trung đoàn công binh, ba tiểu đoàn xe tăng; sáu trung đoàn phòng không; tám tiểu đoàn đặc công; và các đơn vị hậu cần, vận tải. Tài liệu đến từ Ban Tham mưu Liên quân cho biết cuối tháng 3, ở một vài mặt trận CSVN có quân gấp ba lần quân VNCH. The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietam, trang 43.
  • [33]Người viết dùng hai tài liệu cho phần này, Lewis Sorley, The Abrams Tapes; và, Headquarters 101st Airborne Division (Airmobile), Final Report: Airmobile Operations in Support of Operation LAMSON 719 (24 April 1971). Phần lớn trực thăng, 426 chiếc, đến từ Liên đoàn 101 Không vận Trực thăng (101st Aviation Group), số còn lại đến từ những tiểu đoàn xung kích, không pháo, cứu thương, quan sát. Trong số gần 600 trực thăng này, chỉ có 53 là loại chuyên chở nặng, CH-47, và hơn 100 chiếc loại AH-1G (gunship). Thêm vào đó khả năng “chuẩn bị tác chiến” (sẳn sàng để bay) của tất cả trực thaêng chỉ được 70%. Ba tuần cuối cùng của trận chiến, QÐXXIV “mượn” được thêm hơn 100 trực thăng nữa, nâng tổng số lên gần 700 chiếc.
  • [34]Ba lon gạo và 250 grams đồ ăn là một ký; bốn lít nước (tương đương một gallon) là bốn ký. Ba mươi ngàn người cần 150.000 ký (150 tấn). Trọng tải an toàn cho trực thăng UH-1 là 1.000 ký một phi vụ. Trở lại kế hoạch Oplan El Paso, dự liệu tiếp tế cho quân số 60 ngàn là 3.000 tấn một ngày — 50 ký cho mỗi đầu người. Dĩ nhiên con số này tính luôn quân nhu dụng cần để tác chiến. Giả dụ HQLS719 chỉ cần 1/3 nhu cầu của Oplan El Paso (16.6 ký mỗi đầu người), thì phải cần gần 500 phi vụ để cung ứng cho 30 ngàn quân. Ðó là chưa nói đến phi vụ cứu thương, yểm trợ hoả lực, hộ tống và thám thính. Tài liệu cho biết số quân cao nhất VNCHcó ở Hạ Lào là 19 tiểu đoàn tác chiến và 12 tiểu đoàn pháo binh (có tài liệu nói 18 tiểu đoàn tác chiến và 10 tiểu đoàn pháo binh trong cao điểm cuả chiến trường)
  • [35]Headquarters Pacific Air Force, Project CHECO, Lam Son 719, trang 102. Ðiện tín đánh lên cho máy bay tiền sát vào đêm 4 tháng 3, nhờ chuyển về BTL sư đoàn Dù ở Khe Sanh. Tiểu đoàn 2 Nhảy dù di tản khỏi căn cứ bằng đường bộ chiều hôm sau. Cảnh thiếu nước được tác giả Tử Thử Căn Cứ Hoà Lực 30 Hạ Lào nhắc lại nhiều lần trong sách.
  • [36]Lewis Sorley, The Abrams Tapes, trang 545-46; A Better War, trang 251-53.
  • [37]LoLo là bãi đổ quân xa nhất từ biên giới cho đến ngày 3 tháng 3. Ðây là bãi đổ quân để chuẩn bị nhảy vào Tchepone. Sau LoLo là các bãi đáp Liz, Sophia, và cuối cùng là Hope, ngày 6 tháng 3. Không quân dọn bãi đáp Liz ngày 4 tháng 3 rất “rẻ, đẹp, bền.”: một trái BLU-82 (15.000 cân); 14 phi vụ B-52; 10 phi vụ dội bom chiến thuật; 13 phi vụ bom CBU nổ chậm chống người. Sau đó trong khi chờ trực thăng đến bãi đáp, cứ 10 phút có một phi vụ dội bom chiến thuật cho đến khi đoàn trực thăng xuất hiện. Trong 62 trực thăng đổ quân, hai chiếc bị bắn hủy diệt và 18 bị trúng đạn. Ở bãi đáp Hope: 25 phi vụ B-52; hai trái BLU-82; 50 phi vụ chiến thuật cho các loại bom CBUs; và trong lúc trực thăng lên xuống đổ quân, thên 29 phi vụ bom chiến thuật nữa. Kết quả, không một trực thăng nào bị thiệt hại ở Hope. Ðọc Project CHECO, Lam Son 719, trang 93-101.
  • [38]Chuyện tướng Khang và tướng Lãm, The Abrams Tapes, trang 566-67; Tướng Lãm than phiền tướng Ðống, điện văn Top Secret MAC 02455 Eyes Only, đại tướng Abrams gởi trung tướng Sutherland, 9 March, 1971; điện văn Top Secret, QTR 0306, Eyes Only, Sutherland gởi Abrams, 10 March 1971.
  • [39]Sĩ quan cố vấn cho Sư đoàn Nhảy dù, và Sư đoàn TQLC là hai thí dụ điển hình. Cố vấn TQLC Hoa Kỳ đã tận tình cứu nguy cho Tiểu đoàn 4 TQLC ở đồi Delta đêm 25 tháng 3, khi đồi bị tràn ngập (người cố vấn xin trực thăng CH-53 của Hải quân Hoa Kỳ thẳng từ Hạm đội 7, thay gì qua đơn vị cơ hữu không vận của QÐ XXIV). Trong khi cố vấn Nhảy dù thì không nắm vững tình hình của các đơn vị Nhảy dù mà ông đang cố vấn. Sau khi Ðồi 31 thất thủ, tướng Arams bất thần giải nhiệm đại tá cố vấn Sư Nhảy dù William Arthur Pence, và thay bằng đại tá James Vaught. Vaught sau này về hưu với cấp bậc trung tướng và vẫn tình bạn với lính dù VNCH cho đến ngày hôm nay.
  • [40]Project CHECO, trang 19. Trong số lượng súng đó, có 170-200 súng loại từ 23 ly đến 100 ly. Số còn lại có khẩu độ nhỏ, 12.7l y đến 20 ly, nhưng gây nhiều thiệt hại nhất.
  • [41]Sorley, A Better War, trang 250. Ðại úy Trương Duy Hy cũng ghi lại điều này trong sách của ông.
  • [42]Sorley, sđd, trang 246. Chuyên viên không ảnh không nhận ra được những chi tiết đó, vì sau một thời gian, cỏ mọc phủ lên, chụp không ảnh không thể phân biệt được.
  • [43]Tiếp liệu trên đoạn đường Ðông Hà-Khe Sanh rất phức tạp, với hơn 1.000 chuyến xe một ngày trên đoạn đường một xe đi (one-lane road). Chuyên chở xăng bằng trực thăng tốn kém nhiều phi vụ. Một lít xăng nặng 878 grams. Quân xa loại bốn tấn (GMC) chạy 5km một lít xăng; xe tăng M-41, 2.5 lít một cây số; M-113, 3 cây số một lít. Xe “tanker” chở xăng mà chúng ta thấy chạy trên xa lộ, có trọng tải tối đa 6.000 gallons (24 ngàn lít), nhưng thông thường chỉ chở 5.000 gallons (20 ngàn lít). Di chuyển 5.000 gallons xăng cần 17 phi vụ trực thăng UH-1, hay năm phi vụ của CH-47.

VỀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH LẬP LẠI HOÀ BÌNH Ở VIỆT NAM CHÍNH PHỦ VIÊT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA VÀ CHÍNH PHỦ HOA KỲ

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

CHÍNH PHỦ
******
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Số: Khong so 04Pari, ngày 27 tháng 01 năm 1973

HIỆP ĐỊNH

VỀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH LẬP LẠI HOÀ BÌNH Ở VIỆT NAM CHÍNH PHỦ VIÊT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA VÀ CHÍNH PHỦ HOA KỲ

Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà với sự thoả thuận của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam,

Chính phủ Hoa kỳ với sự thoả thuận của Chính phủ Việt Nam cộng hoà,

Nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, góp phần cũng cố hoà bình ở châu Á và thế giới,

Đã thoả thuận, cam kết tôn trọng và thi hành những điều khoản sau đây:

Chương 1

CÁC QUYỀN DÂN TỘC CƠ BẢN CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM

Điều 1

Hoa kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận.

Chương 2

CHẤM DỨT CHIẾN SỰ – RÚT QUÂN

Điều 2

Một cuộc ngừng bắn sẽ được thực hiện trên khắp miền Nam Việt Nam kể từ hai mươi bốn giờ (giờ GMT) ngày hai mươi bảy tháng giêng năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba.

Cùng ngày giờ nói trên, Hoa Kỳ sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa kỳ chống lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển bất cứ từ đâu tới, và sẽ chấm dứt việc thả mìn tại vùng biển, các cảng và sông ngòi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hoa kỳ sẽ tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá huỷ tất cả những mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi ở miền Bắc Việt Nam ngay sau khi Hiệp định này có hiệu lực.

Việc chấm dứt hoàn toàn chiến sự nói trong điều này là vững chắc và không thời hạn.

Điều 3

Các bên cam kết giữ vững ngừng bắn, bảo đảm hoà bình lâu dài và vững chắc

Bắt đầu từ khi ngừng bắn:

a) Các lực lượng của Hoa kỳ và của các nước ngoài khác đồng minh của Hoa kỳ và của Việt Nam cộng hoà sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi thực hiện kế hoạch rút quân. Ban liên hợp quân sự bốn bên nói trong điều 16 sẽ quy định những thể thức.

b) Các lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình. Ban Liên hợp quân sự hai bên nói trong điều 17 sẽ quy định vùng do mỗi bên kiểm soát và những thể thức trú quân.

c) Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng không chính quy của các bên ở miền Nam Việt Nam phải ngừng mọi hoạt động tấn công nhau và triệt để tuân theo những điều quy định sau đây:

– Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không và trên biển;

– Ngăn cấm mọi hành động đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên.

Điều 4

Hoa kỳ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.

Điều 5

Trong thời hạn sáu mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này, sẽ hoàn thành việc rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a). Cố vấn của các nước nói trên cho tất cả các tổ chức bán quân sự và lực lượng cảnh sát cũng sẽ rút trong thời hạn đó.

Điều 6

Việc huỷ bỏ tất cả căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa kỳ và của các nước khác đã nói ở điều 3 (a) sẽ được hoàn thành trong thời hạn sáu mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này.

Điều 7

Từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến khi thành lập chính phủ nói ở điều 9 (b) và điều 14 của Hiệp định này, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ không được nhận đưa vào miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự kỷ thuật, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh.

Hai bên miền Nam Việt Nam được phép từng thời gian thay thế vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh đã bị phá huỷ, hư hỏng, hao mòn hoặc dùng hết từ sau khi ngừng bắn, trên cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng, có sự giám sát của Ban liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam và Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát.

Chương 3

VIỆC TRAO TRẢ NHÂN VIÊN QUÂN SỰ BỊ BẮT,THƯỜNG DÂN NƯỚC NGOÀI BỊ BẮT VÀ NHÂN VIÊN DÂN SỰ VIỆT NAM BỊ BẮT VÀ GIAM GIỮ

Điều 8

a) Việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày hoàn thành việc rút quân nói trong điều 5. Các bên sẽ trao đổi danh sách đầy đủ những nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài bị bắt nói trên vào ngày ký kết Hiệp định này.

b) Các bên sẽ giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu, xác định vị trí và bảo quản mồ mả của những người chết, nhầm tạo điều kiện dễ dàng cho việc cất bốc và hồi hương hài cốt và có những biện pháp khác cần thiết để tìm kiếm tin tức những người còn coi là mất tích trong chiến đấu.

c) Vấn đề trao trả các nhân viên quân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam sẽ so hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên cơ sở những nguyên tắc của điều 21 (b) của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày hai mươi tháng bảy năm một nghìn chín trăm năm mươi tư. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm việc đó trên tinh thần hòa giải và hoà hợp dân tộc, nhầm chấm dứt thù hằn, giảm bớt đau khổ và đoàn tụ các gia đình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gắn hết sức mình để giải quyết vấn đề này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực.

Chương 4

VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TỰ QUYẾT CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM VIỆT NAM

Điều 9

Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Hoa kỳ cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam sau đây:

a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và phải được tất cả các nước tôn trọng.

b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ có giám sát quốc tế.

c) Các nước ngoài sẽ không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoặc cá nhân nào đối với miền Nam Việt Nam.

Điều 10

Hai bên miền Nam Việt Nam cam kết tôn trọng ngừng bắn và giữ vững hoà bình ở miền Nam Việt Nam giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực

Điều 11

Ngay sau khi ngừng bắn hai bên miền Nam Việt Nam sẽ:

– Thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, xoá bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia;

– Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh.

Điều 12

a) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lâp Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau. Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí. Sau khi Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc nhậm chức, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương về việc thành lập các hội đồng cấp dưới. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ kí một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt và sẽ làm hết sức mình để thực hiện việc này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam là hoà bình, độc lập và dân chủ.

b) Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định này, thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng quốc gia hoà giải và hòa hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ như đã nói trong điều 9 (b) và quy định thủ tục và thể thức của cuộc tổng tuyển cử này. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó sẽ bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thương mà thoã thuận. Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phương theo như hai bên miền Nam Việt Nam thoả thuận.

Điều 13

Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, phù hợp với tình hình sau chiến tranh. Trong số những vấn đề hai bên miền Nam Việt Nam thảo luận có các biện pháp giảm số quân của họ và phục viên số quân đã giảm. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hoàn thành việc đó càng sớm càng tốt.

Điều 14

Miền Nam Việt Nam sẽ thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, độc lập. Miền Nam Việt Nam sẵn sàng thiết lập quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và nhận viện trợ kinh tế, kỷ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị. Vấn đề nhận viện trợ quân sự sau này cho miền Nam Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam nói trong điều 9 (b)

Chương 5

VẤN ĐỀ THỐNG NHẤT NƯỚC VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ QUAN HỆ GIỮA MIỀN BẮC VÀ MIỀN NAM VIỆT NAM

Điều 15

Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thoả thuận giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngoài. Thời gian thống nhất sẽ do miền Bắc và miền Nam Việt Nam thoả thuận.

Trong khi chờ đợi thống nhất:

a) Giới tuyến quân sự giữa hai miền tại vĩ tuyến 17 chỉ là tạm thời và không phải là một ranh giới về chính trị hoặc về lãnh thổ, như quy định trong đoạn 6 của Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ ne vơ năm 1954.

b) Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ tôn trọng khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến quân sự tạm thời.

c) Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ sớm bắt đầu thương lượng nhằm lặp lại quan hệ bình thường về nhiều mặt. Trong các vấn đề sẽ được thương lượng, có vấn đề thể thức đi lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời.

d) Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào và không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự trên đất mình, như Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 về Việt Nam quy định.

Chương 6

CÁC BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ, UỶ BAN QUỐC TẾ KIỂM SOÁT VÀ GIÁM SÁT, HỘI NGHỊ QUỐC TẾ

Điều 16

a) Các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên hợp quân sự bốn bên có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện các điều khoản sau đây của Hiệp định này:

– Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam;

– Điều 3 (a) về việc ngừng bắn của lực lượng của Hoa kỳ và của các nước ngoài khác nói trong điều này;

– Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam;

– Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam quân đội của Hoa Kỳ và quân đội của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a);

– Điều 6 về việc huỷ bỏ các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a);

– Điều 8 (a) về việc trao trả các nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt;

– Điều 8 (b) về việc các bên giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu.

b) Ban liên hợp quân sự bốn bên sẽ làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí. Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát.

c) Ban liên hợp quân sự bốn bên sẽ bắt đầu hoạt động ngay sau khi ký kết Hiệp định này và chấm dứt hoạt động trong thời hạn sáu mươi ngày, sau khi việc rút quân của Hoa kỳ và quân của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a) và việc trao trả nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt đã hoàn thành.

d) Bốn bên sẽ thoả thuận ngay về tổ chức, thể thức làm việc, phương tiện hoạt động và chi phí của Ban liên hợp quân sự bốn bên.

Điều 17

a) Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban liên hợp quân sự hai bên có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của hai bên miền Nam Việt Nam trong việc thực hiện các điều khoản sau đây của Hiệp định này:

– Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam, sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình;

– Điều 3 (b) về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam;

– Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình;

– Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và tất cả những điều khoản khác của điều này.

– Điều 8 (c) về vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam.

– Điều 13 về việc giảm số quân của hai bên miền Nam Việt Nam và phục viên số quân đã giảm.

b) Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát.

c) Sau khi Hiệp định này được ký kết, Ban liên hợp quân sự hai bên sẽ thoả thuận ngay những biện pháp và tổ chức nhằm thực hiện ngừng bắn và giữ gìn hoà bình ở miền Nam Việt Nam.

Điều 18

a) Sau khi kí kết Hiệp định này, thành lập ngay Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát.

b) Cho đến khi Hội nghị quốc tế nói ở điều 19 có những sắp xếp dứt khoát, Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với bốn bên những vấn đề kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều khoản sau đây của Hiệp định này:

– Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam;

– Điều 3 (a) về việc ngừng bắn của lực lượng của Hoa kỳ và của các nước ngoài khác nói trong điều này;

– Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam;

– Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam quân đội của Hoa kỳ và quân đội của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a);

– Điều 6 về việc huỷ bỏ các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a);

– Điều 8 (a) về việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt.

Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát lập những tổ kiểm soát để làm những nhiệm vụ của mình. Bốn bên sẽ thoả thuận ngay về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Các bên sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ đó.

c) Cho đến khi Hội nghị quốc tế có những sắp xếp dứt khoát, Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với hai bên miền Nam Việt Nam những vấn đề về việc kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều khoản sau đây của Hiệp định này:

– Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam, sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình;

– Điều 3 (b) về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam;

– Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam, sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình;

– Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và tất cả các điều khoản khác của điều này;

– Điều 8 (c) về vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam;

– Điều 9 (b) về tổng tuyển cử tự do và dân chủ ở miền Nam Việt Nam;

– Điều 13 về việc giảm số quân của hai bên miền Nam Việt Nam và phục viên số quân đã giảm.

Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát lập những tổ kiểm soát để làm nhiệm vụ của mình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ thoả thuận ngay về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ đó.

d) Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ gồm đại diện của bốn nước: Ba lan, Canada, Hungari, Inđônêxia. Các thành viên của Uỷ ban quốc tế sẽ luân phiên làm Chủ tịch trong từng thời gian do Uỷ ban quốc tế quy định.

e) Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát thi hành nhiệm vụ của mình theo nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của miền Nam Việt Nam.

f) Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí.

g) Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ bắt đầu hoạt động khi ngừng bắn có hiệu lực ở Việt Nam. Đối với các điều khoản liên quan đến bốn bên nói trong điều 18 (b), Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình khi nhiệm vụ kiểm soát và giám sát của Ủy ban đối với các điều khoản đó đã hoàn thành. Đối với các điều khoản liên quan đến hai bên miền Nam Việt Nam nói ở điều 18 (c), Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình theo yêu cầu của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam nói ở điều 9 (b).

h) Bốn bên thoả thuận ngay về tổ chức, phương tiện hoạt động và chi phí của Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát. Mối quan hệ giữa Ủy ban quốc tế và Hội nghị quốc tế sẽ do Uỷ ban quốc tế và Hội nghị quốc tế thoả thuận.

Điều 19

Các bên thoả thuận về việc triệu tập một Hội nghị quốc tế trong vòng ba mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này để ghi nhận các Hiệp định đã ký kết; bảo đảm chấm dứt chiến tranh, giữ vững hoà bình ở Việt Nam, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam; góp phần vào hoà bình và bảo đảm hoà bình ở Đông dương.

Việt Nam dân chủ cộng hoà và Hoa kỳ, thay mặt các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam, sẽ đề nghị các bên sau đây tham gia Hội nghị quốc tế này: Cộng hòa nhân dân Trung hoa, Cộng hoà Pháp, Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa xô viết, Liên hiệp Vương quốc Anh, bốn nước trong Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát và Tổng thư ký liên hợp quốc, cùng với các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam.

Chương 7

ĐỐI VỚI CAMPUCHIA VÀ LÀO

Điều 20

a) Các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam phải triệt để tôn trọng Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 về Campuchia và Hiệp định Giơ ne vơ năm 1962 về Lào đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Campuchia và nhân dân Lào: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các nước đó. Các bên phải tôn trọng nền trung lập của Campuchia và Lào.

Các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam cam kết không dùng lãnh thổ của Campuchia và lãnh thổ của Lào để xâm phạm chủ quyền và an ninh của nhau và của các nước khác.

b) Các nước ngoài sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở Campuchia và Lào, rút hết và không đưa trở lại vào hai nước đó quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh.

c) Công việc nội bộ của Campuchia và Lào phải do nhân dân mỗi nước này giải quyết không có sự can thiệp của nước ngoài.

d) Những vấn đề liên quan giữa các nước Đông dương sẽ do các bên Đông dương giải quyết, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau và không can thiệt vào công việc nội bộ của nhau.

Chương 8

QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ HOA KỲ

Điều 21

Hoa kỳ mong rằng Hiệp định này sẽ mang lại một thời kỳ hoà giải với Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng như với tất cả các dân tộc ở Đông dương. Theo chính sách truyền thống của mình, Hoa kỳ sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam dân chủ cộng hoà và toàn Đông dương.

Điều 22

Việc chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam và việc thực hiện triệt để Hiệp định này sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và cùng có lợi giữa Việt Nam dân chủ cộng hoà và Hoa kỳ, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đồng thời, những việc đó sẽ bảo đảm hoà bình vững chắc ở Việt Nam và góp phần giữ gìn hoà bình lâu dài ở Đông dương và Đông nam Á.

Chương 9

NHỮNG ĐIỀU KHOẢN KHÁC

Điều 23

Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam sẽ có hiệu lực khi văn kiện này được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Hoa kỳ ký và khi một văn kiện cùng nội dung được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Hoa kỳ và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Việt Nam cộng hoà ký. Tất cả các bên có liên quan sẽ thi hành triệt để Hiệp định này và các Nghị định thư của Hiệp định.

Làm tại Pari ngày hai mươi bảy tháng giêng năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba bằng tiếng Việt Nam và tiếng Anh. Bản tiếng Việt Nam và bản tiếng Anh đều là những bản chính thức và có giá trị như nhau.

THAY MẶT CHÍNH PHỦ VIỆT NAM
DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO




Nguyễn Duy Trinh
THAY MẶT CHÍNH PHỦ HOA KỲ
BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO





W. RÂU – GIƠ

Phút cuối cùng của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Trần Mai Hạnh

trích Biên Bản Chiến Tranh 1. 2. 3.4. 75


Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong ba ngày cuối cùng 28, 29 và 30-4-1975 thê lương quá cảnh chợ chiều. Nó không còn cái vẻ uy nghi, cờ súy lộng lẫy như thuở vàng son ngày nào. Không một viên tướng nào còn tâm trí để mà ra lệnh ở cái Bộ Tổng tham mưu này nữa, số đông đã cuốn gói, số còn lại cũng đang cuống cuồng lo chuyện di tản. Còn lại có chăng một số sĩ quan mẫn cán chỉ biết chờ lệnh để thi hành. Đại tá Phạm Bá Hoa, Tham mưu trưởng Tổng cục tiếp vận quân đội Sài Gòn là một trong số sĩ quan mẫn cán đến ngây thơ đó.

Ngày 30/3/1975 hàng ngàn binh lính Sài Gòn hoảng loạn chen chúc trên chiếc tàu lớn chạy khỏi Đà Nẵng

Trên tấm bản đồ tác chiến khổ rất lớn, màu sắc thật tươi trong văn phòng của tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng, những ký hiệu màu đỏ chỉ mũi tiến công của các sư đoàn Quân giải phóng đã đâm thẳng vào và bao vây chặt Sài Gòn. Hoa đếm được ở đó có tới 12 sư đoàn bộ binh, một sư đoàn pháo, hai trung đoàn pháo cao xạ và hoả tiễn, và hai trung đoàn chiến xa. Vậy là số phận Sài Gòn đã được định đoạt. Vì bên trong Sài Gòn lúc này có đơn vị nào phòng thủ nữa đâu, chỉ có đám tàn quân của Sư đoàn dù, Sư đoàn 5, Sư đoàn 25, Sư đoàn 2, Sư đoàn lính thủy đánh bộ chạy nhớn nhác, tay không súng, đầu không mũ, tay dắt vợ, lưng cõng con, phờ phạc trong từng lớp sóng người tay xách nách mang ngược xuôi tìm đường di tản. Cảnh tượng thật là thảm hại. Tướng Viên sau khi ký quyết định cử Tướng Khuyên xử lý thường vụ chức vụ Tổng tham mưu trưởng, đã dắt theo Đại tá Tòng, Chỉ huy trưởng tổng hành dinh Bộ Tổng tham mưu chạy tới sứ quán Mỹ rồi lên trực thăng chuồn mất. Tướng Viên chạy, Tướng Khuyên được cử thay Tướng Viên cũng chạy. Thế là Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa như rắn mất đầu.

Trước tình cảnh ấy, Phạm Bá Hoa đánh liều gọi điện báo cáo thẳng với Đại tướng Dương Văn Minh, người vừa được lưỡng viện quốc hội tấn phong làm Tổng thống Việt Nam Cộng hòa:

– Kính trình Đại tướng, tôi Phạm Bá Hoa, Tham mưu trưởng Tổng cục tiếp vận thuộc Bộ Tổng tham mưu xin kính trình: Hiện không còn một tướng lãnh nào ở Bộ Tổng tham mưu nữa. Tướng Viên đi, Tướng Khuyên cũng đi. Đại tá cũng chỉ còn ba, bốn người nữa thôi. Nếu từ giờ đến tối mà không tướng nào vào giữ Bộ Tổng tham mưu thì chúng tôi sẽ dời qua Biệt khu Thủ đô làm việc.

Trả lời Hoa, Dương Văn Minh báo cho biết là trước khi trời tối sẽ có phái đoàn tướng lãnh vào tổng hành dinh Bộ Tổng tham mưu nhận việc. Và chính ngay lúc đó, Tổng thống Dương Văn Minh hạ bút ký lệnh bổ nhiệm Trung tướng Vĩnh Lộc làm Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Khoảng 6 giờ chiều ngày 29-4-1975, phái đoàn tướng lãnh vào Bộ Tổng tham mưu, gồm có: Trung tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng; Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Tham mưu trưởng; Chuẩn tướng Nguyễn Văn Chức, Tổng cục phó Tổng cục tiếp vận; Đại tá Nguyễn Khắc Tuân, Chánh văn phòng của Tướng Lộc; Đại tá Đỗ Ngọc Nhân, Tham mưu phó; Đại tá Trần Cao Thắng, Chỉ huy trưởng tổng hành dinh; cựu Chuẩn tướng Phạm Bá Lân và Trung tướng Lữ Lan. Phạm Bá Hoa bàn giao công việc lại cho Tướng Chức, Tổng cục trưởng Tổng cục tiếp vận sau khi đã thuyết trình ngắn về các sĩ quan ai còn ai chạy.

Trên khung cảnh đổ vỡ tan hoang của sân khấu chính trị và sự cắm cổ bỏ chạy của kép chính, kép phụ, những con rối ngây thơ cố sức trong màn diễn cuối cùng. Có lẽ Trung tướng về hưu Vĩnh Lộc là diễn viên gây ấn tượng nhất trong màn bi hài kịch cuối cùng. Tưởng rằng đã tuyệt vọng và bị lãng quên nay Dương Văn Minh lên, nhớ tới thuộc hạ cũ lại cho vời Lộc ra làm Tổng tham mưu trưởng. Sáng 29-4, Vĩnh Lộc thức dậy từ sớm, râu ria cạo nhẵn, áo quần tươm tất, sức nước hoa thơm lừng, khập khiễng chống batoong (vì Lộc bị khớp nặng) bước lên chiếc Mercedes đã được lau chùi bóng nhoáng từ đêm. Ngồi phưỡn bụng trong chiếc xe cắm cờ tướng, Vĩnh Lộc thúc lái xe mở hết tốc lực phóng tới trụ sở Bộ Tổng tham mưu để – như Lộc nói – “còn điều hành cuộc chiến, điều hành cuộc phòng thủ bảo vệ Sài Gòn”. Trong lúc Vĩnh Lộc mũ áo chỉnh tề, mặt mày phởn phơ một cách hãnh tiến và ngu ngốc, chống ba toong khập khiễng lên từng bậc thang ở tầng lầu trụ sở Bộ Tổng tham mưu, thì Nguyễn Hữu Có, viên trung tướng về hưu đã gần cả thập kỷ, năm nay vừa tròn 50 tuổi cũng thấy mình như chợt thức. Tướng Nguyễn Hữu Có từng giữ chức Tổng tham mưu trưởng Quân đội Sài Gòn, rồi Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng (1966 – 1967), sau đó bị Thiệu – Kỳ cách chức khi đang cầm đầu một phái đoàn thăm Đài Loan. Tướng Có phải ở lại Hong Kong đến năm 1970 mới được về lại Sài Gòn, sau khi làm đơn cam kết với Thiệu là “chỉ về nước làm ăn, vĩnh viễn rời xa chính trường”. Chiều 29-4, tướng Có mở tủ lấy bộ quần áo cấp tướng đã bạc màu, mặc vào, đứng trước gương ngắm nghía một hồi, rồi tự lái xe hơi đến thẳng “Dinh Phong Lan” của Tướng Dương Văn Minh.

Đúng 16 giờ, Nguyễn Hữu Có đến nhà lúc Dương Văn Minh đang ăn cơm với Lý Quý Chung. Vừa trông thấy Tướng Có, Dương Văn Minh nói ngay:

– Trời, Ba Có! Anh tới trễ! Tôi đã chỉ định Trung tướng Vĩnh Lộc làm Tổng tham mưu trưởng. Vĩnh Lộc đang điều hành ở Bộ Tổng tham mưu. Anh đi ngay tới đó làm phụ tá, giúp hắn một tay.

Nguyễn Hữu Có hỏi Dương Văn Minh:

– Tình hình này liệu có giải pháp gì chưa?

Dương Văn Minh đáp:

– Yên tâm. Đúng 8 giờ sáng mai sẽ có giải pháp, một giải pháp tốt đẹp.

Ngay sau đó, Tướng Có phóng xe tới Bộ Tổng tham mưu. Nguyễn Hữu Có bước vào văn phòng Bộ Tổng tham mưu, thấy Vĩnh Lộc đang ngồi với Trung tướng Trần Văn Trung và Thiếu tướng Văn Thành Cao, Tổng cục trưởng và Tổng cục phó chiến tranh chính trị; Thiếu tướng quân y Vũ Ngọc Hoàn; Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá cho Vĩnh Lộc và Chuẩn tướng về hưu Phạm Bá Lân.

Vừa thấy Nguyễn Hữu Có bước vào, Vĩnh Lộc đã xô ghế đứng lên khập khiễng bước sang một bên và chỉ chiếc ghế dành cho Tổng tham mưu trưởng, nói với Có:

– Ủa, anh Ba Có. Lẽ ra Trung tướng phải ngồi ghế này mới đúng!

Thăm hỏi xong, Vĩnh Lộc nhờ Tướng Có chủ trì cho buổi họp nắm lại tình hình của Bộ Tổng tham mưu, còn Vĩnh Lộc thì sang Đài phát thanh Sài Gòn đọc bản nhật lệnh kêu gọi sĩ quan, binh lính đã bỏ trốn ra trình diện để “tiếp tục chiến đấu, đứng vững và chờ đợi một giải pháp”.

18 giờ ngày 29-4-1975, buổi họp giao ban tình hình tác chiến của Bộ Tổng tham mưu do Tướng Có chủ trì bắt đầu. Đây chính là buổi giao ban tác chiến cuối cùng của Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Tham dự có Chuẩn tướng Hạnh, Chuẩn tướng Lân, Đại tá Nguyễn Khắc Tuân giúp việc cho Vĩnh Lộc, Đại tá Thanh mới được chỉ định phụ trách tổng hành dinh và Đại tá Nguyễn Ngọc Thân, phụ trách phòng nhân viên của Bộ Tổng tham mưu.

Mở đầu buổi giao ban, Đại tá Thanh báo cáo, theo danh sách các tướng lĩnh, sĩ quan Bộ Tổng tham mưu trình diện Trung tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng, tới phút này chỉ vẻn vẹn có 31 người. Trong đó có: hai trung tướng (Nguyễn Hữu Có – Bộ Tổng tham mưu; Trần Văn Trung – Tổng cục trưởng chiến tranh chính trị), sáu thiếu tướng (Lâm Văn Phát – Tư lệnh Biệt khu Thủ đô; Vũ Ngọc Hoàn – quân y; Đỗ Kế Giai – Chỉ huy trưởng biệt động quân; Văn Thành Cao – Tổng cục chiến tranh chính trị; Nguyễn Xuân Trang – Bộ Tổng tham mưu; Đoàn Văn Quảng – Bộ Tổng tham mưu) – bốn chuẩn tướng (Phạm Hà Thanh – quân y; Nguyễn Hữu Hạnh – Bộ Tổng tham mưu; Nguyễn Văn Chức – Tổng cục tiếp vận; Phạm Bá Lân – Bộ Tổng tham mưu) còn lại 19 sĩ quan từ cấp thiếu tá tới đại tá. Đại tá Thanh, phụ trách tổng hành dinh cũng báo cáo là kiểm tra thì được biết các trưởng phòng trực thuộc Bộ Tổng tham mưu đã di tản hết hoặc đang chạy lo gia đình, hiện không còn một ai. Thanh cũng cho biết không chỉ trưởng phòng mà các sĩ quan cũng đã đi, năm đại đội lính thường trực bảo vệ tổng hành dinh cũng bỏ chạy, hiện còn chưa tới 200 người. Đại tá Thanh cũng báo cáo không còn nắm được các đơn vị và đề nghị ngày mai (30-4) ra lời kêu gọi trên đài phát thanh là, mọi nhân viên bất kể quân hàm, cấp bậc đều phải tức thời về trình diện tại đơn vị gốc, kể cả các cơ quan thuộc Bộ Tổng tham mưu.

Tướng Có đồng ý ra lời kêu gọi và cho rằng, đến giờ phút này, cơ cấu Bộ Tổng tham mưu đã không còn nữa. Cả một buổi họp giao ban tác chiến cuối cùng của Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn chỉ giải quyết được độc một việc như vậy.

Là một sĩ quan cực kỳ mẫn cán, suốt từ 18 đến 23 giờ đêm ngày 29-4, Tướng Có lo nắm lại tình hình các đơn vị thuộc Quân khu 3 và Quân khu 4.Đêm đó, Dương Văn Minh gọi điện ra lệnh cho Nguyễn Hữu Có và Vĩnh Lộc bằng bất kỳ giá nào cũng phải giữ cho được Trung tâm phát tuyến Phú Lâm và Quán Tre. Tướng Có không về nhà. Đêm đó, Có thức trắng ở văn phòng thường trực Bộ Tổng tham mưu, đi đi lại lại, càng ngẫm càng thấy thất vọng vì không ngờ tình hình lại bi đát đến thế. Vào 4 giờ sáng ngày 30-4, Nguyễn Hữu Có nhấc điện thoại quay số nói chuyện trực tiếp với Dương Văn Minh. Đêm 29-4, vì sự an toàn, ông Dương Văn Minh đã rời “Dinh Hoa Lan” của mình và cùng với vợ vào ngủ trong Dinh Độc Lập. Ông Dương Văn Minh nghỉ tại phòng ngủ của vợ chồng Thiệu ở tầng hai. Phòng ngủ của vợ chồng Thiệu lúc đó đã trống trơn. Trên tấm thảm trước phòng ngủ chỉ còn bộ da cọp nằm trơ trọi. Trong phòng tắm không có một cục xà bông nào.

Nguyễn Hữu Có báo cáo:

– Trình Tổng thống! Tình hình tôi nắm được là hết sức nguy ngập. Các đơn vị đã bỏ chạy. Máy bay đã di tản hết sang Thái Lan. Chỉ còn có hai tiểu đoàn lính dù chặn ở ngã tư Bảy Hiền. Chúng ta đã thất bại, không còn gì để mà đánh, mà trông cậy nữa. Không hiểu tình hình giải pháp đến đâu rồi?

Nghe Nguyễn Hữu Có báo cáo, Dương Văn Minh không có vẻ gì là lo lắng. Dương Văn Minh động viên:

– Ba Có! Anh cứ yên tâm vui vẻ đi ngủ đi, 8 giờ sáng mai sẽ có giải pháp, sẽ có hoà hợp và ngừng bắn.

Đúng 6 giờ 30 phút sáng ngày 30-4-1975, Vĩnh Lộc và Trung tướng Trần Văn Trung tới Bộ Tổng tham mưu. Nguyễn Hữu Có nói ngay khi Lộc và Trung vừa bước vào phòng:

– Tình hình là tuyệt vọng rồi. Mấy sư đoàn còn lại cũng đã mất hết. Chúng ta có muốn đánh nữa cũng chẳng còn gì trong tay để mà đánh!

Vĩnh Lộc lúc đó trong bụng đã tính tới chuyện ra đi, vẫn nói rất mạnh:

– Tuyệt vọng thế nào được. Ta huy động thiết giáp chặn ở Gò Vấp và chặn ở ngã tư Bảy Hiền, cho không quân ném bom từ ngã tư Bảy Hiền tới Trung tâm huấn luyện Quang Trung.

Cho đó là một kế hoạch ảo tưởng, hão huyền, nhưng không tranh luận với Vĩnh Lộc, Tướng Có lặng lẽ kéo Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đến gặp Dương Văn Minh. Nghe Tướng Có báo cáo tình hình, lúc đó Tổng thống Dương Văn Minh mới hốt hoảng, vội mặc áo, kéo Nguyễn Hữu Có và Nguyễn Hữu Hạnh từ Dinh Độc Lập đến Phủ Thủ tướng ở gần đấy, ngay cuối đại lộ Thống Nhất tìm Vũ Văn Mẫu. Lúc đó là 8 giờ sáng ngày 30-4. Đến Phủ Thủ tướng, một cảnh tượng bi hài diễn ra trước mắt. Đầy đủ các thành viên tham gia nội các của Vũ Văn Mẫu, vị nào vị nấy mặt mày hớn hở, lễ phục bảnh bao, nói cười vui vẻ chuẩn bị cho lễ ra mắt của tân nội các đã quyết định sẽ tổ chức trọng thể vào 10 giờ sáng hôm nay. Nhiều thành viên của tân chính phủ đã ngủ đêm tại đây.

Buông phịch tấm thân nặng nề xuống chiếc ghế bành bọc dạ đỏ, Tổng thống Dương Văn Minh gọi Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng của nội các mới chưa kịp ra mắt tới, hỏi:

– Sao, tình hình giải pháp chính trị tới đâu?

Vũ Văn Mẫu trả lời:

– Trình Tổng thống! Tình hình tốt đẹp. Đại sứ Pháp Merion đảm bảo việc liên lạc với Mặt trận.

Ngay lúc ấy, Dương Văn Minh đứng lên gọi điện thoại nói chuyện trực tiếp với Thích Trí Quang. Cuộc điện thoại diễn ra hết sức ngắn ngủi và bi đát:

– Thưa thầy! Người thầy cho đi bắt liên lạc đã về chưa?

– Chưa về!

– Như vậy vấn đề sáng nay chưa có kết quả?

– Không xong!

– Tôi tin thầy, bây giờ thầy nói vậy tôi còn biết tin ai, còn đánh gì nữa, còn giải pháp gì nữa!

– Tôi tu hành không biết về chính trị và quân sự, Đại tướng tự quyết định lấy.

Minh đặt mạnh máy điện thoại, nói với tất cả các thành viên có mặt:

– Trời, chỉ còn có vài tiếng đồng hồ nữa thôi!

Ngồi lại trong phòng, Tổng thống Dương Văn Minh đưa ra ý kiến tuyên bố thành phố bỏ ngỏ và trao quyền cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Dương Văn Minh nói: “Để tránh cho người dân Sài Gòn những tai họa đã xảy ra như tại Đà Nẵng, mà có thể còn tồi tệ hơn, tôi quyết định trao quyền cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”. Phòng họp im lặng không có ai phản đối. Thấy vậy, Nguyễn Hữu Có lên tiếng lưu ý Dương Văn Minh và các thành viên nội các rằng, nếu tuyên bố thành phố bỏ ngỏ, Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4, Quân khu 4 có thể hiểu nhầm là Tổng thống kêu gọi cứu viện thì thành phố này, Sài Gòn này sẽ tan nát hết. Bàn tính một hồi, cuối cùng Dương Văn Minh nói Vũ Văn Mẫu thảo bản tuyên bố đơn phương ngừng bắn và bàn giao chính quyền cho cách mạng. Thế là không khí đám ma đổ sụp xuống cái chính phủ gồm 16 nhân vật trong chính thể cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa. Lúc đó là 9 giờ sáng ngày 30-4-1975. Vĩnh Lộc chạy bổ ra xe. Bị khớp nặng mà không hiểu sao lúc đó Vĩnh Lộc lại có thể chạy lẹ đến thế. Quăng batoong, giật phăng cờ tướng cắm ở đầu xe, Vĩnh Lộc phóng thục mạng ra cảng Sài Gòn, xuống tàu hải quân di tản. Tướng Nguyễn Hữu Có cũng lật đật về nhà, thu xếp vợ con chạy lên Chợ Lớn. Vợ Chuẩn tướng Trần Văn Hai, Tư lệnh Sư đoàn 7 tìm gặp khóc lóc kể với Nguyễn Hữu Có là chồng đã tự sát. Nguyễn Hữu Có không nói gì, chỉ lặng lẽ ngồi nghe…

Khoảng 10 giờ sáng, Tổng thống Dương Văn Minh lên ôtô đi tới Dinh Độc Lập. Các thành viên chính phủ và một số dân biểu nghị sĩ cũng lên xe mình tới Dinh Độc Lập. Trước đó, ông Dương Văn Minh đã tuyên bố với các thành viên chính phủ và những người đang còn ở bên ông Minh: “Bắt đầu từ giờ phút này, sự ràng buộc giữa anh em chúng ta không còn nữa. Mỗi người tự do quyết định sự lựa chọn của mình: Đi hay ở lại”.

Tổng thống Dương Văn Minh cùng nội các ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Lời tuyên bố xin ngừng bắn và chờ bàn giao chính quyền do Dương Văn Minh, Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa đọc, được truyền đi trên làn sóng của Đài phát thanh Sài Gòn vào đúng 9 giờ 25 phút – giờ Hà Nội – ngày 30-4-1975, toàn văn như sau:

“Đường lối, chủ trương của chúng tôi hòa giải, hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào vụ hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng. Chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để cùng thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào”.

Tiếp ngay đó, Đài Sài Gòn đọc lệnh của Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá Tổng tham mưu trưởng, yêu cầu tất cả tướng lĩnh, chỉ huy các cấp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa triệt để thi hành lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh, sẵn sàng liên hệ với các cấp chỉ huy quân đội của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để thực hiện cuộc ngừng bắn một cách không đổ máu.

Đúng 80 phút sau đó, kể từ khi Dương Văn Minh dứt tiếng nói, tức là vào 10 giờ 45 phút, chiếc xe tăng đầu tiên của Lữ đoàn xe tăng 203 hất tung cánh cổng sắt ở Dinh Độc Lập. Cán bộ, chiến sĩ Quân giải phóng ập vào chiếm lĩnh Dinh Độc Lập. Dương Văn Minh, Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa và toàn thể nội các đứng dậy. Dương Văn Minh cất tiếng:

– Cách mạng đã về. Các anh đã về. Từ sáng chúng tôi chờ các anh tới để bàn giao!

Dương Văn Minh vừa dứt lời, một cán bộ chỉ huy Quân giải phóng đã dõng dạc tuyên bố:

– Toàn bộ chính quyền đã về tay cách mạng. Chính quyền cũ đã sụp đổ. Người ta không thể giao cái không còn có trong tay.

Phút tắt thở của Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn và chính thể Việt Nam Cộng hòa đã diễn ra như vậy.  Dương Văn Minh, Tổng thống và các thành viên nội các cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa thất vọng, lo lắng. Nhưng rồi sau đó mọi người yên tâm lại vì thấy mình được đối xử lịch sự, nhã nhặn. Một chương mới đã mở ra với cuộc đời mỗi người ngay sau đấy, ngay tại miền Nam, trong lòng Tổ quốc và đất nước Việt Nam thống nhất. Chỉ hai ngày sau, tối ngày 2-5-1975, tại buổi lễ trang trọng và thân mật tại hội trường Dinh Độc Lập, Ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định đã công bố quyết định trả tự do cho các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu,… Tại buổi lễ, ông Dương Văn Minh nói ngắn gọn thế này:

“… Ngày hôm nay đại diện cho các anh có mặt tại đây, tôi nhiệt liệt hoan nghênh sự thành công của Chính phủ Cách mạng trong công cuộc vãn hồi hòa bình cho đất nước. Với kỷ nguyên mới này, tôi mong rằng tất cả anh em có mặt tại đây, cũng như các tầng lớp đồng bào, sẽ có dịp đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng đất nước.

Riêng cá nhân tôi, hôm nay tôi rất hân hoan khi được 60 tuổi, trở thành công dân của một nước Việt Nam độc lập”…

Nguồn: Tạp Chí Phương Đông

‘Người thầy của những nhà tình báo huyền thoại’ Trần Quốc Hương từ trần

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://tuoitre.vn/nguoi-thay-cua-nhung-nha-tinh-bao-huyen-thoai-tran-quoc-huong-tu-tran-20200611134751249.htm

TTO – Nhà tình báo Trần Quốc Hương (bí danh Mười Hương), nguyên Trưởng ban Nội chính Trung ương, ‘người thầy của những nhà tình báo huyền thoại’, đã từ trần sau thời gian lâm bệnh.

‘Người thầy của những nhà tình báo huyền thoại’ Trần Quốc Hương từ trần - Ảnh 1.

Nhà tình báo Trần Quốc Hương trong một buổi gặp mặt vào tháng 1-2011 – Ảnh: T.T.D.

Ngày 11-6, Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương thông báo ông Trần Quốc Hương, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Nội chính Trung ương, nguyên Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương đã từ trần.

Thông báo của Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương cho biết ông Trần Quốc Hương sinh năm 1924, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Nội chính Trung ương, nguyên Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương, sau một thời gian lâm bệnh, mặc dù được Đảng, Nhà nước, tập thể các giáo sư, bác sĩ tận tình cứu chữa, gia đình hết lòng chăm sóc, nhưng do tuổi cao sức yếu, đã từ trần vào lúc 10h10 ngày 11-6-2020 tại Bệnh viện Thống Nhất, TP.HCM.

Lễ viếng, lễ truy điệu, lễ an táng ông Trần Quốc Hương sẽ được thông báo sau.

Tướng tình báo Mười Hương, tên thật là Trần Ngọc Ban, sinh năm 1924 (97 tuổi) tại xã Vũ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1943, từng làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng bí thư Trường Chinh, cụ Nguyễn Lương Bằng, đại tướng Nguyễn Chí Thanh… và từng bị tù đày trong nhà tù của Pháp và của Việt Nam Cộng hòa.

Đóng góp của ông cho cách mạng là vô cùng to lớn. Ngoài nhiệm vụ tổ chức ra báo Cờ Giải Phóng của Đảng, đóng góp tích cực trong thành công của buổi lễ Tuyên ngôn độc lập, tướng Mười Hương được đánh giá là nhà tình báo chiến lược xuất sắc – “Người thầy của những nhà tình báo huyền thoại”, chỉ huy mạng lưới tình báo miền Nam trong thời kỳ kháng chiến cứu nước.

Sau ngày thống nhất đất nước, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương, phó bí thư Thành ủy TP.HCM, phó bí thư Thành ủy Hà Nội, tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, trưởng Ban Nội chính Trung ương. Ông là ủy viên Trung ương Đảng từ khóa IV đến khóa VI, bí thư Trung ương Đảng khóa VI.

Ông được Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.

M.A.

Đồi Sạc Ly – Cao điểm 1015 Charlie – Di tích lịch sử Việt Nam

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

http://kontumtourism.com.vn/khu,-diem-du-lich/Di-tich-lich-su-Doi-Sac-Ly–Cao-diem-1015-Charlie-561

Điểm cao 1015 (Charlie, đồi Sạc Ly) nằm tiếp giáp 3 huyện Sa Thầy – Ngọc Hồi – Đắk Tô (Kon Tum). Hơn 48 năm trước, hơn 320 cán bộ chiến sĩ sư đoàn 320 đã anh dũng hy sinh trên điểm cao này.

Đồi Sạc Ly (Đồi Charlie – Cao điểm 1015) thuộc xã Tân Cảnh, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum, Việt Nam, là một địa danh nằm tiếp giáp giữa ba huyện: Sa Thầy, Đăk Tô và Ngọc Hồi, thuộc tỉnh Kon Tum. Sạc Ly nay là điểm thu hút khách du lịch khi điến với Tây Nguyên

Từ trung tâm thành phố Kon Tum theo đường 14 đi khoảng 45 km tới ngã ba Tân Cảnh, Đắk Tô. Từ ngã ba Tân Cảnh đi vô địa danh Charlie khoảng 10 km. đồi Charlie cách trung tâm thị trấn Đắk Tô khoảng 5km theo đường chim bay.

Hình ảnh nhà bia di tích lịch sử vừa được xây dựng trên đỉnh đồi Charlie

Nhà bia di tích lịch sử vừa được xây dựng trên đỉnh đồi Charlie

Hình ảnh con đường lên đồi Charlie, tiếp giáp Đăk Tô, Ngọc Hồi, Sa Thầy, Kon Tum

Đường lên Charlie

Cầu treo con suối dưới chân đồi Charlie Kon Tum

Con suối dưới chân đồi Charlie

Con đường Sạc Ly này chủ yếu dành cho xe máy và người đi bộ

Con đường này chủ yếu dành cho xe máy và người đi bộ

Biển chỉ dẫn đường lên 2 điểm cao sạc ly tại trung tâm xã Rờ Kơi, Sa Thầy, Kon Tum

Biển chỉ dẫn đường lên điểm cao Sạc Ly, tại trung tâm xã Rờ Kơi, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum – Đường đi Sạc Ly từ Sa Thầy

Ngày nghỉ đi chinh phục đồi Sạc Ly

Ngày nghỉ đi chinh phục đồi Sạc Ly

Đường đi đồi Charlie, địa điểm lịch sử ở Việt Nam

Đường đi đồi Charlie, địa điểm lịch sử ở Việt Nam, đường đi từ huyện Đắk Tô

đường tới Đồi Charlie

Đường đi vào đồi Sạc Ly, xã Tân Cảnh huyện Đắk Tô tỉnh Kon Tum

từ pô cô tới sạc ly
đồi sạc ly nhìn từ xa
di tích chiến thắng đắk tô tân cảnh sạc ly
Charlie ngày nay

Gần 15 năm trước, Charlie (Sạc Ly) chỉ là những đỉnh đồi trơ trọi, với nắng gắt và gió gào. Bây giờ, mảnh “đất chết” ấy đã bạt ngàn những vạt thông ba lá xanh tươi, hòa vào nắng gió đại ngàn bình yên đến lại.

Cùng với sự vươn mình của những vạt thông ba lá trên dãy Sạc Ly là sự sinh sôi, phát triển mãnh liệt của màu xanh.

di tích đồi sạc ly
địa chỉ đồi sạc ly Charlie ở đâu

Sự trù phú, ấm no hiện hữu trên từng nếp nhà của đồng bào các dân tộc sinh sống quanh khu vực, vết thương từ chiến tranh dường như đã lùi vào quên lãng

Suốt thời gian dài sau chiến tranh, những cái tên Sa Nghĩa, đồi Sạc Ly… là nỗi ám ảnh về nỗi đau da cam. Thế nhưng, vượt lên nỗi đau kinh hoàng ấy, người dân nơi đây vẫn âm thầm hàng ngày hồi sinh những vùng“đất chết” này… Sạc Ly đã trở thành một huyền thoại mới ca ngợi sức lực, ý chí của con người.

thị trấn đắk tô kon tum nhìn đồi Charlie

Nguồn: Kon Tum trong tôi

Tiếp phần 2 chuyện về anh em Dương Thành Nhật – Dương Văn Minh

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln


PHÍA BÊN KIA VIẾT VỀ DƯƠNG VĂN MINH VÀ QUAN HỆ VỚI DƯƠNG THÀNH NHẬT


(Những tư liệu này được trích từ “Mặt thật hàng tướng Dương Văn Minh” phát hành ở Mỹ):

“Ngày 31.5.1956, Chiến Dịch Nguyễn Huệ kết thúc. Ông Diệm lại cử Tướng Dương Văn Minh chỉ huy Chiến Dịch Thoại Ngọc Hầu bình định các tỉnh Tiền Giang và Hậu Giang. Ngày 29.8.1956 ông Diệm cử Tướng Minh làm Tổng Thư Ký Thường Trực Quốc Phòng, chỉ huy Phân Khu Saigon.Chợ Lớn và tiếp tục chỉ huy Chiến Dịch Thoại Ngọc Hầu bình định miền Tây. Ngày 30.10.1956, chiến dịch này kết thúc với kết quả 441 bị tử trận, 948 về quy thuận, 1169 bị bắt và hơn 1.000 súng bị tịch thụ.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, văn bản


Ngày 1.2.1957 Dương Văn Minh được thăng Trung Tướng và giữ chức Chỉ Huy Trưởng Bộ Tư Lệnh Hành Quân. Chức Tổng Thư Ký Thường Trực Quốc Phòng được trao lại cho Tướng Dương Văn Đức mới đi học khóa chỉ huy và tham mưu ở Mỹ về. (Khi Tướng Đức xin đi Pháp, chức này lại được trao cho Tướng Nguyễn Khánh). Tướng Minh cũng được gởi qua Mỹ học khóa chỉ huy và tham mưu tại ỤS. Command and General Staff College ở Fort Leavenworth thuộc bang Kansas.


Đầu năm 1960, cơ quan tình báo khám phá ra Tướng Dương Văn Minh đã liên lạc với Hà Nội qua người em là Thiếu Tá VC Dương Văn Nhựt, nên Tướng Minh không được tin dùng nữa. Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cử Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu mới từ Hoa Kỳ về làm Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Hành Quân với nhiệm vụ theo dõi và kiểm soát Tướng Minh.
Cuối năm 1962 Tổng Thống Diệm quyết định giải tán Bộ Tư Lệnh Hành Quân. Ngày 8.12.1962 Trung Tướng Dương Văn Minh được cử làm Cố Vấn Quân Sự Phủ Tổng Thống, một chức vụ được coi như “ngồi chơi xơi nước”. Trung Tướng Trần Văn Đôn, Tư Lệnh Vùng I, được cử làm Tư Lệnh Lục Quân, một chức vụ mới đặt để thay thế Bộ Tư Lệnh Hành Quân.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, văn bản

CHỨA CHẤP GIÁN ĐIỆP VIỆT CỘNG


Anh Nguyễn Tư Thái, tự là Thái Đen, Phụ Tá Trưởng Đoàn Công Tác Đặc Biệt, cho biết vào đầu năm 1960, nhân viên của Đoàn thấy một người thường lui tới nhà Dương Văn Minh, ở số 3 đường Trần Quý Cáp, Sài Gòn, nhưng mỗi lần đi ra, anh ta thường nhìn trước nhìn sau rất kỹ, thấy không có gì khả nghi mới bước ra. Những người bình thường không ai làm như vậy. Một hôm, đợi anh ta ra khỏi nhà Dương Văn Minh một khoảng xa, nhân viên tình báo liền bắt đẩy anh ta lên xe và đem về thẩm vấn. Lúc đầu anh ta nói anh ta chỉ là người đến dạy học cho các con của Tướng Minh. Tuy nhiên, sau nhiều cuộc thẩm vấn khéo léo, anh ta nhìn nhận anh ta là một ủy viên của Huyện Ủy Thủ Đức, được phái đến gặp Dương Văn Minh để lấy tin tức. Anh này đã bị giam giữ luôn, nhưng Dương Văn Minh không hay biết gì cả. Sau vụ này, Đoàn Công Tác Đặc Biệt và Tổng Nha Cảnh Sát đã bố trí thường trực chung quanh nhà Dương Văn Minh, theo dõi từng bước đi của những người ra vào nhà ông, quay phim và chụp hình. Điện thoại của nhà ông cũng bị nghe lén. Khoảng tháng 3 năm 1960, có một người có mặt mày và hình dáng rất gióng Dương Văn Minh, đã đến ở luôn trong nhà Dương Văn Minh và mỗi lần đi đâu thường được chính Dương Văn Minh chở đi. Sưu tra hồ sơ, nhân viên tình báo biết ngay đó là Dương Văn Nhựt, em của Dương Văn Minh, có bí danh là Mười Tỵ, hiện đang là Thiếu Tá trong bộ đội miền Bắc. Vợ của Dương Văn Nhựt hiện đang sống tại Sài Gòn. Theo dõi sát, nhân viên tình báo biết được Dương Văn Nhựt đang đi vận động Phật Giáo và sinh viên chống ông Diệm.

Trong hình ảnh có thể có: 3 người


Trong cuộc phỏng vấn ngày 16.10., Đại Tá Nguyễn Văn Y cho biết khi vợ Dương Văn Nhựt có bầu gần sinh, Dương Văn Nhựt đã đưa vợ tới ở nhà của Trung Tá Dương Văn Sơn, em của Dương Văn Minh. Lúc đó Dương Văn Sơn đang làm trưởng phòng truyền tin của Biệt Khu Thủ Đô. Tướng Minh thường đến nhà Dương Văn Sơn nói chuyện với Dương Văn Nhựt. Vì thế, nhà Dương Văn Sơn cũng bị theo dõi như nhà Dương Văn Minh. Một hôm, Tổng Thống Diệm gọi ông và bảo đem tất cả hồ sơ vụ Dương Văn Minh vào gặp ông. Có lẽ trước đó Đoàn Công Tác Đặc Biệt đã trình nội vụ cho Tổng Thống biết rồi. Khi ông đem hồ sơ vào, Tổng Thống Diệm hỏi: “Dương Văn Minh có theo Cộng Sản không?” Rồi ông nói tiếp: “Võ Nguyên Giáp nhiều công trạng như rứa mà nay Cộng Sản chỉ mới cho lên Trung Tướng. Dương Văn Minh công trạng có bao nhiêu đâu mà nay đã lên Trung Tướng rồi, còn muốn gì nữa?” Đại Tá Y nói ông vốn là đàn em và là người quen biết với Tướng Minh nên chưa biết phải trả lời như thế nào. Tổng Thống liền đưa cho ông cái hộp quẹt và bảo đem tất cả hồ sơ ra đốt đi. Tổng Thống nói: “Mỹ mà nó biết được Trung Tướng của mình theo Việt Cộng thì xầu hổ lắm. Đốt hết đi! Từ rày tôi không muốn nhắc tới cái vụ này nữa.” Nhưng đốt hồ sơ rồi cũng chưa xong, nhân viên tình báo còn phải bắt Dương Văn Nhựt và dẫn ông ta ra chiến khu để ông ta đi qua Cambodia và trở về lại miền Bắc, với lời cảnh cáo: “Nếu trở lại sẽ bị thanh toán”. Câu chuyện này có lẽ Tổng Cục Phản Gián của Hà Nội không hề hay biết.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, văn bản


Sau đó, ông Diệm đã bảo Đại Tướng Lê Văn Tÿ, Tổng Tham Mưu Trưởng, thông báo cho Tướng Minh biết từ nay ông ta chỉ có thể xử dụng các đơn vị cấp đại đội trở xuống mà thôi. Tướng Minh biết lý do tại sao, nhưng các cố vấn Mỹ không biết chuyện gì đã xẩy ra, nên rất thắc mắc. Họ nghĩ rằng ông Diệm sợ Tướng Minh làm đảo chánh nên mới hạn chế như vậy.


Ngày 18.7.1962, ông Diệm thông báo cho Tướng Harkins biết ông quyết định hủy bỏ chức Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hành quân của Tướng Minh vì ông ta “thiếu khả năng.” Ngày 8.12.1962 Trung Tướng Dương Văn Minh được cử làm Cố Vấn Quân Sự Phủ Tổng Thống, một chức vụ được coi như “ngồi chơi xơi nước”.

Trong hình ảnh có thể có: văn bản


Sau này, báo Tuổi Trẻ Chúa Nhật của Việt Cộng trong số ra ngày 1.9.1996, dưới đầu đề “Tướng Dương Văn Minh dưới mắt các nhà binh địch vận”, đã tường thuật lại mối quan hệ giữa Tướng Dương Văn Minh và người em là Dương Văn Nhựt như sau: “Năm 1960, Mười Tỵ, thiếu tá thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Nhân Dân Việt Nam – được lệnh về Nam nhận công tác đặc biệt. Nhiệm vụ của ông là quan hệ, tranh thủ người anh ở bên kia chiến tuyến, đại Tướng Dương Văn Minh. Sau khi vượt Trường Sơn vào Nam, Thiếu Tá Dương Văn Nhựt, tức Mười Tỵ, đã được Ban Binh Vận Trung Ương Cục tìm mọi cách đưa vào Sài Gòn. Thông qua một người em gái, ông Mười Tỵ đã đến được và ở lại nhà của Dương Văn Minh suốt một tuần lễ. Hai anh em ở hai phía chiến trận gặp gỡ hàn huyên. Bằng tình cảm gia đình, ông Mười Tỵ thuyết phục Tướng Minh. Từ đó, ông Mười Tỵ cứ phải đi về trong “vùng địch” hoặc ra nước ngoài để tiếp xúc và gặp gỡ anh mình. Khi Dương Văn Minh lưu vong ở Thái Lan, ông Mười Tỵ cũng được bố trí sang Thái Lan qua ngã Campuchia. Ông đến Nam Vang, sống trong nhà một Hoa kiều. Tại đó, trong vòng một tháng, ông vừa học bằng sách vở, vừa thực tập giao tiếp để nói tiếng Hoa hồng để nhập vai người đi buôn. Có khi từ Nam Vang ông phải bay lòng vòng sang Ý, rồi từ Ý được cơ sở Việt kiều đón về Pháp để móc nối chị dâu (vợ của Tướng Minh) từ Thái Lan qua liên lạc”. Bài báo viết thêm: “Kể từ 1972, bộ đội bắt đầu mở nhiều trận đánh lớn, nên Mười Tỵ được lệnh không ra vùng địch và ra nước ngoài nữa vì “sợ rủi ro làm hỏng ý đồ chiến lược”, nên việc móc nối với Dương Văn Minh được giao cho Nguyễn Hữu Hạnh.”

BỊ ĐƯA RA LÀM HÀNG TƯỚNG

Trong hình ảnh có thể có: văn bản

Vào tháng 4 năm 1975, Hoa Kỳ thấy tình hình miền Nam Việt Nam không còn cứu vãn được, nên đã sắp xếp cho miền Nam đầu hàng Bắc Việt để tránh sự đổ máu quá nhiều. Biết Tướng Dương Văn Minh có liên lạc với Việt Cộng, Đại Sứ Martin của Mỹ đã phối hợp với Đại Sứ Merillon của Pháp thuyết phục Tướng Thiệu từ chức và lừa Tướng Dương Văn Minh ra làm hàng tướng bằng cách tạo cho ông một ảo vọng rằng chỉ có ông mới có thể nói chuyện với “phía bên kia” để hình thành một “chính phủ liên hiệp Quốc – Cộng!”


Trong cuốn Decent Interval, Frank Snepp, một phân tích viên của CIA ở Saigon lúc đó, nói rằng tại miền Nam lúc đó, không ai tin Hà Nội có thể chấp nhận một giải pháp khi họ đang trên đà chiến thắng. Ông Vũ Văn Mẫu cũng đã nhận ra được điều đó nên khi gặp Đại Sứ Merillon, ông đã nói với ông Đại Sứ bằng tiếng Latin rằng nếu giải pháp một chính phủ liên hiệp không thành thì xin giúp ông được ra đi.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, văn bản


Frank Snepp cho biết thêm: “Khi tôi đang bận đánh máy bản báo cáo thì Polgar ở trong phòng riêng với các viên chức khác của Trạm Tình Báo (Toà Đại Sứ) thảo luận về việc chuyển giao nhanh quyền hành. Một khi Thiệu từ chức, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương phải trao quyền hành ngay lập tức cho Minh “Lớn”, và Quốc Hội phải sẵn sàng chấp thuận sự chuyển giao, để sự chuyển giao đó có thể được thực hiện “một cách hợp hiến” (nhấn mạnh của Đại Sứ Martin) và “nhanh chóng”.


Sau khi ép buộc Tướng Nguyễn Văn Thiệu từ chức Tổng Thống, Mỹ thúc đẩy Phó Tổng Thống Trần Văn Hương trao quyền lại cho Tướng Dương Văn Minh để đầu hàng Việt Cộng, nhưng ông Trần Văn Hương không hiểu gì về tình hình lúc đó nên tìm cách cù cưa. Ông bí mật đến gặp Tướng Minh và yêu cầu Tướng Minh làm Thủ Tướng, nhưng Tướng Minh từ chối. Tuy nhiên, do sự thúc đẩy của CIA và một số nhân vật chính trị, cuối cùng ông cũng đồng ý trao quyền cho Tướng Minh với điều kiện phải có sự quyết định của Quốc Hội.


Ngày 26.4.1975 lưỡng viện Quốc Hội đã họp tại Thượng Viện dưới quyền chủ toạ của ông Trần Văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện, để đưa Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống. Có 136 trong số 219 nghị sĩ và dân biểu đến họp. Sau khi Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH, và Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tổng Giám Đốc CSQG trình bày về tình hình, Quốc Hội bắt đầu thảo luận về việc trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh. Có rất nhiều sự bất đồng về việc trao quyền, nhiều người cho rằng sự trao quyền này là bất hợp hiến. Nhưng các nhóm vận động hậu trường đã hoạt động rất ráo riết nên cuối cùng, lúc 20 giờ 54 phút, Quốc Hội đã biểu quyết chấp thuận trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh với số phiếu 147/151.


Chiều 28.4.1975, Tướng Dương Văn Minh đã nhận chức Tổng Thống. Lễ bàn giao được diễn ra tại Phòng Khánh Tiết của Dinh Độc Lập.


Cũng trong chiều 28.4.1975, Đô Đốc Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân, vào Dinh Hoa Lan gặp Tướng Minh cho biết tình hình và hỏi Tướng Minh có định ra đi không. Tướng Minh cho con gái là Dương Mai, con rễ là Đại Tá Nguyễn Hồng Đài và hai cháu ngoại lên tàu di tản với Đô Đốc Cang, còn ông và bà Minh ở lại.


Đêm 29.4.1975, Tướng Minh vào ngũ trong Dinh Độc Lập để tránh pháo kích. Lúc đó, ông chỉ còn hy vọng Thượng Tọa Thích Trí Quang, người hứa sẽ đưa người “phía bên kia” đến thương lượng để thành lập chính phủ liên hiệp. Tướng Nguyễn Hữu Có kể lại, lúc 4 giờ 35 sáng ngày 30.4.1975, Thích Trí Quang đã nói với Dương Văn Minh qua điện thoại:


“Thưa Tổng Thống, cũng như Tổng Thống là tôi vẫn chờ đến giờ nầy và theo tôi nghĩ có lẽ với tình thề hiện tại, trong sứ mạng của tôi, người đứng trung gian bắc nhịp cầu của thế cờ chính trị, có thể nói là chấm dứt. Với trọng trách là Tổng Thống, hơn nữa là một Đại Tướng, tôi nghĩ công việc phải nhờ vào tài quân sự của Đại Tướng, chứ giải pháp chính trị của tôi coi như chấm dứt, và từ giờ phút này nếu có chuyện gì xẩy đến thì mọi trách nhiệm đều do Tổng Thống, à quên Đại Tướng quyết định với giải pháp quân sự, mà trong lãnh vực này Đại Tướng rất rành và giỏi hơn tôi. Xin chào Tổng Thống…”


Dương Văn Minh chỉ trả lời gọn một câu: “Thầy giết tôi rồi!” và cúp máy điện thoại.


Lúc đó là 4 giờ 45 phút sáng. Frank Snepp kể lại, sau đó Tướng Minh đi đi lại lại một cách bực dọc (nervously) trong dinh Độc Lập trống vắng. Đoàn sứ giả đi thương lượng ở Tân Sơn Nhứt không thấy về. Có người khuyên ông nên tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, nhưng ông không đồng ý. Ông nói rất nhiều đồng bào của ông sẽ khinh ông. (Too many of his countrymen would think ill of him). Ông muốn hoản lại chuyện này cho đến khi nội các được thành lập. Khi đó ít ra những người khác phải chia xẻ sự sỉ nhục.


Lúc 8 giờ 30, ông đến Phủ Thủ Tướng thảo luận lại thành phần chính phủ của Vũ Văn Mẫu rồi quay về dinh Độc Lập làm lễ ra mắt.


Lúc 10 giờ 15 sáng ngày 30.4.1975, khi thấy không còn gì để hy vọng nữa, Dương Văn Minh lên tiếng trên đài phát thanh Sài Gòn kêu gọi quân nhân, cảnh sát và các lực lượng bán quân sự “giữ vị trí, buông súng để bàn giao chính quyền trong vòng trật tự”. Lúc 11 giờ 30, chiếc xe tăng Cộng Sản đầu tiên loại T-54 tiến trên đại lộ Thống Nhứt về phía Dinh Độc Lập, ủi sập cổng, sau khi bắn hai phát đại bác long trời lở đất. Tiếng chân chạy ồn ào trong đại sảnh, có tiếng đạn lên nòng, một khẩu lệnh vang lên: “Mọi người đi ra khỏi phòng ngay!” Dương Văn Minh là người bước ra đầu tiên, Thiếu Tá tùy viên Hoa Hải Đường đi bên cạnh, phía sau là Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền… Nhiều bộ đội ở đầu kia đại sảnh hét to: “Mọi người giơ hai tay lên!”. Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu và đoàn tùy tùng nhất loạt tuân lệnh.
Hai ông Minh và ông Mẫu được đưa đến đài phát thanh Sài Gòn để đọc lời đầu hàng. Nhưng khi hai ông vào bên trong đài phát thanh thì không còn nhân viên kỹ thuật nào ở đó để làm công việc thu băng. Sinh viên Nguyễn Hữu Thái phải mất hai tiếng mới tìm ra nhân viên kỹ thuật. Bản tuyên bố đầu hàng do chính trị viên Bùi Văn Tùng thảo, ông Minh đọc và đài phát thanh phát đi vào lúc 13 giờ 30.


Tính lại, Dương Văn Minh đã làm Tổng Thống không tới 40 tiếng đồng hồ: Nhận chức vào chiều 28 tại Dinh Độc Lập đến trưa 30.4.1975 đã tuyên bố đầu hàng!


ĐÁNG LƯU Ý: Ký giả Borries Gallasch, phóng viên tờ Der Spiegel của Đức, người ký giả ngoại quốc duy nhất có mặt trong Dinh Độc Lập vào sáng 30.4.1975, đã kể lại thái độ của Tướng Dương Văn Minh khi đối diện với các bộ đội cộng sản đến bắt ông đầu hàng như sau: “Đại Tướng Dương Văn Minh im lặng. Dưới chiếc mũ cối, những người lính bộ đội nhìn ông Minh với vẻ tò mò… Cuối cùng ông Minh đã lên tiếng, hỏi một người lính: “Em trai của tôi hiện nay ra sao? Khi nào tôi có thể gặp chú ấy?”./.