George J. Veith tiết lộ gì mới về Tổng thống Thiệu?

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Quanh Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không chỉ là kẻ thù chính trị mà còn là những điệp viên cộng sản được cài cắm rất sâu vào bộ máy VNCH. Trong tác phẩm mới nhất Drawn Swords in a Distant Land, tác giả George J. Veith đã nhắc lại một số chi tiết.

image022
Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập.

Ngay sau Tết Mậu Thân 1968, “Ngành Đặc biệt” (Special Branch-SB, trực thuộc Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia), bắt đầu kiểm tra xem làm thế nào mà Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) có thể thu thập tin tức chi tiết trong kế hoạch tấn công Bộ Tổng tham mưu và Dinh Độc lập.

Sau đó, khi Mỹ khám phá ra loạt tài liệu nhạy cảm của Việt Cộng trong một chiến dịch truy quét ở Tây Ninh, SB lập tức nghi có nội gián. Họ tăng cường giám sát những người tình nghi có móc nối bí mật với cộng sản. 


Thời điểm đó, SB đang theo dõi một người sống ở Sài Gòn tên Lê Hữu Thúy. Nấp dưới một bút danh, Thúy từng đăng các bài viết chỉ trích chính phủ trên một tờ báo do dân biểu Hoàng Hồ làm chủ. Hoàng Hồ hóa ra cũng là điệp viên Cộng sản. Khi điều tra hồ sơ của Thúy, SB khám phá thêm rằng nhiều năm trước, cảnh sát thời TT Diệm đã bắt đương sự vì tình nghi làm Việt Cộng nằm vùng nhưng đương sự được thả theo lệnh ân xá chung của tướng Big Minh đối với tất cả tù nhân chính trị sau vụ đảo chánh lật đổ ông Diệm.

Lê Hữu Thúy - BAOMOI.COM

Khởi động chiến dịch có mật danh “Projectile”, SB cử một điệp viên chìm đóng giả làm thợ sửa chữa, lân la đến làm thân với ông Thúy. Thúy sập bẫy. Một lần, Thúy buột miệng khoe với “người bạn” này về số gián điệp đang được cài trong bộ máy VNCH. SB lẻn vào nhà Thúy và đặt “bọ” nghe trộm.

Đầu năm 1969, SB té ngửa khi khám phá ra rằng người thường xuyên đến nhà Thúy lại là Vũ Ngọc Nhạ chứ không ai xa lạ. Nhạ là cố vấn đặc trách các vấn đề tôn giáo cho tổng thống Thiệu lúc bấy giờ. 

Thơ gửi bạn của hai nhà tình báo chiến lược


Tương tự như Phạm Ngọc Thảo, Nhạ thoạt đầu chiến đấu trong hàng ngũ Việt Minh. Nhạ là người miền Bắc, cải đạo sang Công giáo, gia nhập giáo xứ của Linh mục Hoàng Quỳnh ở Phát Diệm. Sau khi vào Nam năm 1954, Nhạ định cư gần Huế, nhưng cuối tháng 12 năm 1958, ông bị bắt vì tình nghi hoạt động cho Cộng sản.

Đảo chánh 1965 - Đại tá Phạm Ngọc Thảo | Đại tá Phạm Ngọc Th… | Flickr

Nhạ dĩ nhiên không nhận tội. Big Minhcuối cùng cũng trả tự do cho đương sự sau cuộc đảo chánh ông Diệm năm 1963. Cha Hoàng Quỳnh sau đó giới thiệu Nhạ với ông Thiệu và Nhạ được tín cẩn giao nhiệm vụ phụ trách các vấn đề tôn giáo. Bám đuôi Nhạ từ nhà Thúy, SB khám phá Nhạ gặp Huỳnh Văn Trọngcố vấn đặc biệt của Tổng thống Thiệu về các vấn đề chính trị, từng được ông Thiệu cử sang Mỹ với sứ mệnh nghiên cứu chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ. Điệp viên SB thấy Trọng chuyển một phong bì cho Nhạ. Sau khi Trọng rời đi, SB tiếp tục theo dõi và thấy Nhạ giao một gói hàng cho một phụ nữ.

Tin tức, sự kiện liên quan đến Huỳnh Văn Trọng | Dân Việt

Toàn bộ sự việc trở nên chính trị hóa cao độ vì cả Nhạ lẫn Trọng đều là cố vấn tin cậy của Tổng thống Thiệu. Khi CIA và SB báo với ông Thiệu và đề nghị bắt giam hai nhân vật trên, ông Thiệu đồng ý nhưng nhấn mạnh rằng bằng mọi giá phải tìm được chứng cứ vì nếu không chứng minh được thì sự việc sẽ trở thành thảm họa. 


Sau khi thu thập bằng chứng, SB bắt Trọng và Nhạ vào tháng 7 và tìm thấy những tài liệu tuyệt mật mà họ sở hữu. Lần này, Nhạ khai mình đã “nằm vùng” hai mươi năm. Phần mình, Trọng cũng nói rằng ông ta biết Nhạ là gián điệp cộng sản khi chuyển tài liệu mật cho Nhạ. Tổng cộng, có hơn 50 người bị bắt trong đường dây tình báo Vũ Ngọc Nhạ, trong đó có một số nhà báo và hai quan chức cấp cao trong Bộ Chiêu Hồi.

Phiên tòa sau đó kết án Lê Hữu Thúy, Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh văn Trọng tù chung thân.

Ở trên là những gì George J. Veith thuật lại trong quyển Drawn Swords in a Distant Land. Khá sơ sài. Về Vũ Ngọc Nhạ, đã có rất nhiều tài liệu được công bố.

Ở đây xin thuật thêm về tay điệp viên sừng sỏ và nguy hiểm Lê Hữu Thúy – bí danh “A25” – một mắt xích phải nói là rất quan trọng trong đường dây tình báo nằm vùng tại miền Nam thời ông Thiệu. 


Thúy là một trong những thành viên của Lưới tình báo H10 (thuộc Cụm A22), trong đó Vũ Ngọc Nhạ làm cụm trưởng. Những người khác trong Cụm A22 đều là những kẻ được cài cắm rất sâu: Nguyễn Xuân Hòe, công cán ủy viên Phủ Tổng thống; Vũ Hữu Ruật, Phó Tổng thư ký Đảng Dân chủ; Hoàng Hồ, dân biểu; Lê Hữu Thúy, công cán ủy viên Bộ Chiêu hồi; và Huỳnh Văn Trọng, cố vấn chính trị đối ngoại của Tổng thống Thiệu.

Sinh năm 1926 tại Hoằng Hóa, Thanh Hóa, trong gia đình tuy không có ai theo đạo Thiên Chúa nhưng Thúy được cho đi học trường dòng. Năm 1956, khi vào Sài Gòn, Thúy được trùm tình báo cộng sản Mười Hương chỉ thị thâm nhập khối Công giáo di cư. Thúy bắt mối với linh mục Vũ Đình Trác làm tờ báo Di cư; làm phụ tá chủ bút báo Đường sống.

Chân dung ông Mười Hương - người thầy của những nhà tình báo huyền thoại |  Nhân vật - Sự kiện | Tạp chí mặt trận Online


Trong một bài viết trên báo Nông Nghiệp ngày 2-5-2012, con gái của ông Lê Hữu Thúy – bà Thanh Hương (lúc đó là Trưởng ban Tuyên giáo VC quận ủy quận 4, TP.HCM) cho biết thêm, ông Thúy được gia đình cho học trường Trung học Alexandre de Rhodes của Nhà chung Thanh Hóa. Sau khi tốt nghiệp tú tài, Thúy ra Hà Nội, học đại học cùng với đồng hương Trần Kim Tuyến (trùm tình báo thời TT Diệm). Năm 1949, Thúy được kết nạp vào Đảng Cộng sản và hoạt động ở Hà Nội với bí danh A25. Trước đó, Thúy công tác tại Ty Công an Thanh Hóa.

Tháng 10-1954, Thúy được giao nhiệm vụ trà trộn cùng những người Bắc di cư vào Nam. Năm 1959, Thúy bị bắt do một Việt Cộng chiêu hồi cung khai. Sau vụ chính biến lật đổ ông Diệm, Thúy được thả. Và nhờ mối quan hệ với Trần Kim Tuyến cũng như với Đỗ Mậu – giám đốc Nha An ninh Quân đội, Thúy thậm chí được tuyển vào Nha An ninh Quân đội Sài Gòn. Vai trò của Thúy nói chung là rất lớn trong Lưới tình báo H10. Chính Thúy là người cùng Vũ Ngọc Nhạ xây dựng lá bài chính trị Huỳnh Văn Trọng, từng bước đưa Trọng trở thành cố vấn chính trị cho Tổng thống Thiệu. 


Huỳnh Văn Trọng từng là một bộ trưởng thời Bảo Đại. Thời Đệ nhất Cộng Hòa, Trọng bị bỏ rơi nên bất mãn. Vũ Ngọc Nhạ, cùng Lê Hữu Thúy, đã bày vẽ đường đi nước bước cho Huỳnh Văn Trọng xây dựng uy tín lẫn thanh thế, giúp ông Thiệu chạy đua vào ghế Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. Do đó, Trọng được ông Thiệu tín cẩn đưa lên vị trí cố vấn đặc biệt. Nhờ đó, Trọng có điều kiện lấy được vô số tài liệu tuyệt mật, giao lại cho Vũ Ngọc Nhạ để chuyển cho Trung ương Cục Miền Nam của VC.

Khi vào làm cho Nha An ninh Quân đội, Thúy cũng thu được nhiều tin tức có giá trị. Trong biến cố Mậu Thân 1968, Thúy lập bản đồ chi tiết Khu Tam giác Bến Lức-Đức Hòa-Chợ Lớn tạo điều kiện dễ dàng cho Việt Cộng thâm nhập nội đô Sài Gòn. Từ năm 1967, Thúy chuyển sang làm công cán ủy viên Bộ Chiêu hồi, cho đến khi bị bại lộ và bị bắt. Báo Pháp Luật ngày 20-10-2015 cho biết thêm, trong thời gian bị giam ở Côn Đảo, Lê Hữu Thúy còn đánh cắp được danh sách tù chính trị và chuyển an toàn ra ngoài.

Ðầu năm 1973, Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng được đưa về khám Chí Hòa, Sài Gòn. Ngày 23 tháng 7 năm 1973, Chính quyền VNCH trao trả Vũ Ngọc Nhạ cho MTDTGPMNVN. Năm 1974, Vũ Ngọc Nhạ được Cộng sản Bắc Việt phong trung tá Quân đội Nhân dân. Tháng 4-1974, Nhạ về Củ Chi, hoạt động bí mật, với chiến dịch tái dựng Cụm Tình Báo Chiến Lược, móc nối với Thành phần Thứ ba và khối Công Giáo. 
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Vũ Ngọc Nhạ có mặt tại Dinh Ðộc Lập, đứng bên cạnh Big Minh, khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Vũ Ngọc Nhạ chết ngày 7 tháng 8 năm 2002 tại Sài Gòn. Phần mình, Lê Hữu Thúy được tuyên dương “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” vào năm 1996. Đương sự chết năm 2000.

Vụ bể lưới tình báo cộng sản với những điệp viên cỡ bự gần gũi ông Thiệu đã làm chấn động Sài Gòn. Những kẻ nằm vùng nguy hiểm không chỉ là “Lưới tình báo H10” của Cụm A22. Từ sau 1975 đến nay, báo chí cộng sản đã tiết lộ không ít gương mặt tình báo được cài cắm và phá hoại miền Nam – ngoài những gương mặt quá quen thuộc và được nói nhiều như Phạm Xuân Ẩn. Báo Lao Động ngày 30-4-2020 cho biết một trong những điệp viên nằm vùng khác, ít được nói đến, là Đinh Văn Đệ, từng là Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng của Hạ viện VNCH, từng tham gia phái đoàn VNCH sang Mỹ xin viện trợ trong những ngày cuối tháng 3-1975. 

Đinh Văn Đệ - nhà tình báo có công lớn trong công cuộc thống nhất đất nước


Đinh Văn Đệ sinh năm 1924, quê ở Đồng Tháp, xuất thân từ một gia đình đạo Cao Đài “có truyền thống cách mạng”. Năm 1952, Đệ vào Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức; sau đó tướng Lê Văn Tỵ chọn làm Phụ Tá Tổng Tham mưu trưởng; rồi trung tá Chánh Văn phòng Tổng tham mưu trưởng quân lực VNCH.

Cuối năm 1957, tướng Nguyễn Chánh Thi đảo chính hụt ông Ngô Đình Diệm. Ông Đệ bị nghi dính líu với lực lượng đảo chính và bị quản thúc hơn một tháng. Nhờ mối quan hệ thân thiết của bố vợ ông với ông Phan Khắc Sửu nên Đệ được bảo lãnh và sau đó được vào học Trường Đại học Quân sự Đà Lạt và đỗ thủ khoa. Đinh Văn Đệ sau đó được cử làm Thị trưởng Đà Lạt, sau kiêm Tỉnh trưởng Tuyên Đức, đến năm 1966 thì được thăng cấp đại tá và chuyển sang làm tỉnh trưởng Bình Thuận. Cuối năm 1967, ông Đệ từ chức tỉnh trưởng, ứng cử vào Hạ viện, trở thành Phó Chủ tịch Hạ viện, Phó Trưởng khối đối lập. Trong hai khóa Quốc hội với danh nghĩa Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Hạ viện, Đinh Văn Đệ đã cung cấp cho cộng sản nhiều tin tức quan trọng.

Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập

Trúc Giang

(Văn Hóa Vụ)
 

Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập.

1-ĐỊNH NGHĨA:

Tình báo, gián điệp là người hoạt động bí mật của phe địch để dọ thám lấy tin tức về tình hình quân sự, chính trị, kinh tế hoặc tác động, phá hoại.

2- GIÁN ĐIỆP CỘNG SẢN TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Trong chiến tranh, ở miền Nam, ngoài những tên VC nằm vùng, còn có những điệp viên thuộc tình báo chiến lược như Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thuý và Phạm Ngọc Thảo.


2.1. VŨ NGỌC NHẠ

Vũ Ngọc Nhạ là nhân vật then chốt trong vụ án Cụm Tình Báo A.22 làm rung động chính quyền miền Nam năm 1969.

Tên thật là Vũ Xuân Nhã, sinh ngày 30-3-1928 tại tỉnh Thái Bình. Được kết nạp vào đảng CSVN năm 1947. Vũ Ngọc Nhạ còn nhiều cái tên khác nữa như Pière Vũ Ngọc Nhạ (tên Thánh), Vũ Đình Long (Hai Long) bí danh Lê Quang Kép, Thầy Bốn, “Ông Cố Vấn”.

2.1.1. Hoạt động

Năm 1955. Xuống tàu di cư vào Nam.

Vũ Ngọc Nhạ cùng 1 số điệp viên khác trà trộn vào đoàn người di cư vào Nam. Nhạ cùng vợ và con gái xuống tàu Hải Quân Pháp cùng hàng triệu người Công giáo di cư vào Nam.

– Làm thư ký đánh máy ở Bộ Công Chánh. Chinh phục được cảm tình của Linh mục Hoàng Quỳnh và trở thành “Người giúp việc” của Giám mục Lê Hữu Từ.

Năm 1958- Tháng 12 năm 1958, Nhạ bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung của Nguyễn Tư Thái, tự Thái Đen, bắt giữ và giam tại trại Tòa Khâm (Huế) để chờ điều tra xác minh. Linh mục Hoàng Quỳnh can thiệp cho nên Nhạ không bị buộc tội.

2.1.2 .Người Giúp Việc của Đức Cha Lê Hữu Từ

Một khuyết điểm lớn của Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung là giam giữ những nghi can gián điệp chung với nhau tại trại Tòa Khâm. Chính ở đó, Vũ Ngọc Nhạ đã móc nối với các “cơ sở” (những cá nhân) tình báo khác, đặc biệt là trùm tình báo VC Mười Hương.

Tạo dựng niềm tin đối với Ngô Đình Cẩn.

Năm 1959- Vũ Ngọc Nhạ làm tờ trình “Bốn Nguy Cơ Đe Doạ Chế Độ” được sự chú ý của Ngô Đình Cẩn và sau đó, của ông Nhu, ông Diệm. Do sự dự đoán chính xác về cuộc đảo chánh 11-11-1960 của tướng Nguyễn Chánh Thi, anh em ông Diệm đã chú ý đến Vũ Ngọc Nhạ.

Nhờ danh nghĩa “Người Giúp Việc” của Đức Cha Lê Hữu Từ mà Nhạ được xử dụng như là Người Liên Lạc giữa anh em Họ Ngô và giới Công Giáo di cư. Nhờ đó, Nhạ thu thập được nhiều tin tức tình báo có giá trị. Từ đó, Nhạ có biệt danh là “Ông Cố Vấn”.

2.1.3. Xây dựng Cụm Tình Báo Chiến Lược A.22

Sau đảo chánh 1-11-1963, thế lực Công giáo phát triển mạnh dưới tay của Linh mục Hoàng Quỳnh.

Cuối năm 1965, sự tranh giành quyền lực trong “nhóm tướng trẻ”, do sự giới thiệu của LM Hoàng Quỳnh, Tướng Nguyễn Văn Thiệu đã xử dụng Vũ Ngọc Nhạ trong vai trò liên lạc giữa tướng Thiệu và Khối Công giáo. Nhạ đã khéo léo lợi dụng vai trò đó để tạo ảnh hưởng đến các chính trị gia dân sự và quân sự.

Năm 1967- Sau khi tướng Nguyễn Văn Thiệu đắc cử Tổng thống, cấp trên nhận thấy cần thiết phải mở rộng mạng lưới tình báo, thành lập Cụm A.22. (A.22 là mật danh của Vũ Ngọc Nhạ) Cụm do Nguyễn Văn Lê làm cụm trưởng, Nhạ làm Cụm Phó trực tiếp phụ trách mạng lưới. Toàn bộ Cụm A.22 được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn Đức Trí, chỉ huy phó Tình Báo Quân Sự ở miền Nam.

Bắt đầu, Cụm A.22 “phát triển” thêm Nguyễn Xuân Hoè, Vũ Hữu Ruật đều là những điệp viên mà Nhạ đã bắt liên lạc trong khi bị giam chung tại Tòa Khâm. Sau đó, thu nhận thêm Nguyễn Xuân Đồng và quan trọng nhất là vào đầu năm 1967, bổ sung thêm Lê Hữu Thuý (hay Thắng) mật danh là A.25.

Các điệp viên nầy được giao nhiệm vụ “Chui sâu, leo cao” nắm lấy những chức vụ quan trọng để thu thập thông tin và để tác động vào chính quyền.

Thành công của Cụm A.22 là cài được 1 điệp viên dưới quyền của Lê Hữu Thuý là Huỳnh Văn Trọng làm “Cố Vấn” cho tổng thống Thiệu.

Chính Huỳnh Văn Trọng đã cầm đầu một phái đoàn VNCH sang HK, tiếp xúc, gặp gỡ hàng loạt các tổ chức, các cá nhân trong chính phủ và chính giới HK, để thăm dò thái độ của chính phủ Johnson đối với cuộc chiến ở VN. Huỳnh Văn Trọng thu thập được nhiều tin tức tình báo chiếnlược.
image024 

 2.1.4. Vụ án Huỳnh Văn Trọng và 42 điệp báo

CIA nhanh chóng phát hiện điều bất thường là sự tập hợp của các cá nhân là những bị can đã bị bắt giam ở Tòa Khâm.

Giữa năm 1968- Hồ sơ các cựu tù nhân ở Tòa Khâm được mở lại. Do tính phức tạp trong ngành điệp báo, CIA phải mất 1 năm mới hoàn tất hồ sơ và chuyển giao cho Tổng Nha Cảnh Sát QG VNCH.

Vào trung tuần tháng 7 năm 1969, một đơn vị đặc biệt có mật danh là S2/B được thành lập để tiến hành bắt giữ hầu hết những người của Cụm A.22.

Toàn bộ điệp viên Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thuý, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hoè, Nguyễn Xuân Đồng, Huỳnh Văn Trọng, và hầu hết những gián điệp khác, kể cả giao liên là bà Cả Nhiễm cũng bị bắt.

Riêng cụm trưởng Nguyễn Văn Lê kịp thời trốn thoát.

Cụm tình báo A.22 bị phá vở hoàn toàn.

Chính quyền Saigon rung động vì 42 gián điệp từ cơ quan đầu nảo là Phủ tổng thống cho đến các cơ quan khác, nhất là 1 “Cố vấn” của tổng thống đã bị bắt.

2.1.5. Biến vụ án gián điệp thành vụ án chính trị

Đây là vụ án gián điệp lớn nhất lịch sử. Các bị can đều khai, nhất cử nhất động của họ đều là thi hành chỉ thị, là do sự uỷ thác, do lịnh của tổng thống, của các tổng trưởng, nghị sĩ, dân biểu và cả CIA nữa.

Tòa án Quân Sự Mặt Trận Lưu Động Vùng 3 CT bối rối vì không có thể gởi trác đòi những nhân chứng như tổng thống ra hầu tòa để đối chất.

Do không có đủ yếu tố để buộc tội tử hình, cho nên tòa tuyên án:

– Chung thân khổ sai: Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thuý, Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Xuân Hoè.

– Án từ 5 năm đến 20 năm tù khổ sai cho những bị can còn lại.

Khi quân cảnh dẫn các tù nhân ra xe bít bùng, thì Vũ Ngọc Nhạ quay sang nhóm ký giả ngoại quốc và thân nhân, nói lớn “Tôi gởi lời thăm ông Thiệu”.

2.1.6. Cho rằng CIA dàn cảnh

Một bất ngờ của vụ án là TT Thiệu không tin đó là sự thật mà cho là CIA đã dàn cảnh. Do đó, thời gian Vũ Ngọc Nhạ bị đày ở Côn Đảo thì TT Thiệu đã triệu hồi viên tỉnh trưởng Côn Sơn về Saigon và thay thế vào đó một người thân tín của mình để có điều kiện chăm sóc cho Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng như là những thượng khách. Vì thế, Vũ Ngọc Nhạ đã đánh giá:”Đó là một cuộc dạo chơi trên Thiên Đàng”.

2.1.7. Tiếp tục hoạt động

Đầu năm 1973- Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng được đưa về khám Chí Hòa, Saigon. Trong thời gian ở Chí Hòa, nhờ sự giúp đở của LM Hoàng Quỳnh, Vũ Ngọc Nhạ móc nối, bắt bắt liên lạc với nhóm “Thành Phần Thứ 3″ của Dương Văn Minh.

Ngày 23-7-1973- Chính quyền VNCH trao trả Vũ Ngọc Nhạ cho Mặt Trận DTGP/MNVN với danh xưng là “Linh mục Giải Phóng”.

Năm 1974- Vũ Ngọc Nhạ được CSBV phong Trung tá QĐNDVN. Tháng 4, 1974, Vũ Ngọc Nhạ trở về Củ Chi, hoạt động bí mật mục đích xây dựng lại Cụm Tình báo chiến lược, móc nối với Thành phần thứ 3 và khối Công giáo .
image025 

Ngày 30-4-1975- Vũ Ngọc Nhạ có mặt tại Dinh Độc Lập bên cạnh tướng Dương Văn Minh.

2.1.8. Bị thất sủng và được tôn vinh

Ngày 30-4-1975 thân phận của Vũ Ngọc Nhạ vẫn chưa được xác nhận.

Năm 1976- Vũ Ngọc Nhạ được điều về Cục 2 Bộ Quốc Phòng với quân hàm Thượng tá.

Năm 1981- Được thăng Đại tá nhưng vẫn còn ngồi chơi xơi nước. Hàng ngày đọc các tin tức báo cáo, tổng hợp lại rồi trình lên thượng cấp, Phạm Văn Đồng, Mai Chí Thọ, Nguyễn Văn Linh.

Năm 1987- Tác giả Hữu Mai xuất bản cuốn tiểu thuyết “Ông Cố Vấn, Hồ Sơ Một Điệp Viên” ca ngợi thành tích tình báo của Vũ Ngọc Nhạ. Công chúng đã biết đến và Nhạ được phong Thiếu Tướng.

Vũ Ngọc Nhạ mất ngày 7-8-2002 tại Saigon, 75 tuổi. Phần mộ của Nhạ nằm chung với các phần mộ của các điệp viên khác như Phạm Xuân Ẩn, Đặng Trần Đức và Phạm Ngọc Thảo.


2.2. PHẠM XUÂN ẨN

* Thân thế Và Hoạt động

Phạm Xuân Ẩn sinh ngày 12-9-1927 tại xã Bình Trước, Biên Hòa, là một thiếu tướng tình báo của QĐNDVN.

Từng là nhà báo. Phóng viên cho Reuters, tạp chí Time, New York Herald Tribune, The Christian Science Monitor.

Theo học trường Collège de Can Tho.

Năm 1948- Tham gia Thanh Niên Tiền Phong và sau đó, làm thơ ký cho hãng dầu lửa Caltex.

Năm 1950- Làm nhân viên Sở Quan Thuế Saigon để thi hành nhiệm vụ là tìm hiểu tình hình vận chuyển hàng hóa, khí tài quân sự từ Pháp sang VN. Đây là lần đầu tiên làm nhiệm vụ tình báo cùng với 14 ngàn gián điệp được cài cắm vào hoạt động.

Năm 1952- Phạm Xuân Ẩn ra Chiến Khu D và đã được bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Ủu viên Uỷ Ban Hành Chánh Nam Bộ giao cho nhiệm vụ làm tình báo chiến lược.

Năm 1953- Phạm Xuân Ẩn được Lê Đức Thọ kết nạp vào đảng tại rừng U Minh, Cà Mau.

Năm 1954- Phạm Xuân Ẩn bị gọi nhập ngũ và được trưng dụng ngay vào làm thư ký Phòng Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Tổng Hành Dinh Liên Hiệp Pháp tại Camps Aux Mares (Thành Ô Ma) Tại đây, Ẩn được quen biết với Đại tá Edward Landsdale, trưởng phái bộ đặc biệt của Mỹ (SMM), trên thực tế, Landsdale là người chỉ huy CIA tại Đông Dương. cũng là trưởng phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ (US.MAAG) tại Saigon.
image027 

Năm 1955- Theo đề nghị của Phái Bộ Cố Vấn Quân Sự Mỹ, Phạm Xuân Ẩn tham gia soạn thảo tài liệu tham mưu, tổ chức, tác chiến, huấn luyện, hậu cần cho quân đội. Tham gia thành lập cái khung của 6 sư đoàn đầu tiên của QLVNCH, mà nồng cốt là sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ người Việt trong quân đội Pháp trước đó.

Phạm Xuân Ẩn còn được giao nhiệm vụ hợp tác với Mỹ để chọn lựa những sĩ quan trẻ có triển vọng đưa sang Mỹ đào tạo, trong số đó có Nguyễn Văn Thiệu, sau nầy trở thành tổng thống VNCH.

Năm 1957- Tháng 10 năm 1957, Mai Chí Thọ và Trần Quốc Hương (Mười Hương) chỉ đạo cho Phạm Xuân Ẩn qua Mỹ du học ngành báo chí để có cơ hội đi khắp nơi, tiếp cận với những nhân vật có quyền lực nhất.

Năm 1959- Phạm Xuân Ẩn về nước, nhờ những mối quan hệ, Ẩn được bác sĩ Trần Kim Tuyến, giám đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị Và Văn Hóa Xã Hội (Thực chất là cơ quan mật vụ của Phủ tổng thống), biệt phái sang làm việc tại Việt Tấn Xã, phụ trách những phóng viên ngoại quốc làm việc ở đó.

Năm 1960- Từ năm 1960 đến giữa 1964, Phạm Xuân Ẩn làm việc cho hảng thông tấn Reuters. Từ 65 đến 67, Ẩn là người Việt duy nhất và chính thức làm việc cho tuần báo Time. Ngoài ra, còn cộng tác với báo The Christian Science Monitor…

Từ 1959 đến 1975- Với cái vỏ bọc là phóng viên, nhờ quan hệ rộng với các sĩ quan cao cấp, với các nhân viên tình báo, an ninh quân đội và với cả CIA , Ẩn đã thu thập được nhiều tin tức quan trọng từ quân đội, cảnh sát và các cơ quan tình báo.

Những tin tức tình báo chiến lược của Ẩn đã được gởi ra Hà Nội thông qua Trung Ương Cục Miền Nam. Tài liệu sống động và tĩ mỉ khiến cho Võ Nguyên Giáp đã reo lên “Chúng ta đang ở trong Phòng Hành Quân của Hoa Kỳ”.

Tổng cộng, Ẩn đã gởi về Hà Nội 498 tài liệu gốc được sao chụp.

Giai Đoạn 1973-1975- Hàng trăm bản văn nguyên bản đã phục vụ “Hạ Quyết Tâm Giải Phóng Miền Nam ” của đảng CSVN.

Phạm Xuân Ẩn là nhân vật được chèo kéo của nhiều cơ quan tình báo, kể cả CIA .

Ngày 30-4-1975, Phạm Xuân Ẩn là một trong những nhà báo chứng kiến cảnh xe tăng của VC húc đỗ cổng Dinh Độc Lâp. Từ đó cho đến vài tháng sau, các phóng viên, đồng bào và cả chính quyền mới cũng chưa biết Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên Cộng sản.

Vợ con của Phạm Xuân Ẩn đã di tản sang Hoa Kỳ. Ẩn cũng được lịnh của cấp trên sang HK để tiếp tục hoạt động tình báo. Nhưng Ẩn đã xin ngưng công tác vì đã hoàn thành nhiệm vụ.

Do kế hoạch thay đổi, cho nên mãi 1 năm sau, vợ con của Ẩn mới có thể quay về VN bằng đường vòng Paris, Moskva, Hà Nội, Saigon.

* Sau chiến tranh
image028 

Ngày 15-1-1976, trung tá “Trần Văn Trung”, tức Phạm Xuân Ẩn, được phong tặng “Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang”.

Tháng 8 năm 1978, Ẩn ra Hà Nội dự khóa học tập chính trị 10 tháng vì Ẩn “sống quá lâu trong lòng địch”.

Theo Larry Berman thì Ẩn bị nghi kỵ và bị quản chế tại gia. Cấm liên lạc với báo chí ngoại quốc và cấm xuất cảnh, do cách suy nghĩ của Ẩn quá “Mỹ” và do Ẩn đã giúp bác sĩ Trần Kim Tuyến ra khỏi VN ngày 30-4-1975 .

Năm 1986- Trong 10 năm, luôn luôn có 1 công an làm nhiệm vụ canh gác trước nhà của Phạm Xuân Ẩn.

Năm 1990- Đại tá Phạm Xuân Ẩn được thăng thiếu tướng.

Năm 1997- Chánh phủ VNCS từ chối không cho Ẩn đi Hoa Kỳ để dự hội nghị tại New York mà Ẩn được mời với tư cách là khách mời đặc biệt.

Năm 2002- Phạm Xuân Ẩn về nghỉ hưu.

Con trai lớn của Ẩn là Phạm Xuân Hoàng Ân, đã du học Mỹ, hiện đang làm việc tại Bộ Ngoại Giao ở Hà Nội. Con gái của Ẩn hiện đang sống ở Hoa Kỳ.

* Thất Vọng

Trong những năm cuối đời, Phạm Xuân Ẩn cảm thấy rất thất vọng vì dân chúng không được viết tự do. Ẩn trối trăn trước khi chết là, “đừng chôn ông gần những người Cộng Sản”.

* Nhận định về Phạm Xuân Ẩn.

Lê Duẩn: Đã biểu dương Phạm Xuân Ẩn coi đó là 1 chiến công có tầm cỡ quốc tế.

Frank Snepp, cựu chuyên viên thẩm vấn CIA , tác giả cuốn sách Decent Interval (Khoảng cách thích đáng) nói:”Phạm Xuân Ẩn đã có được nguồn tin tình báo chiến lược, điều đó rõ ràng, nhựng chưa ai “Dẫn con mèo đi ngược” để thực hiện 1 cuộc xét nghiệm pháp y về các tác hại mà ông đã gây ra, Cơ quan CIA không có gan để làm việc đó.” Hết trích.

Murrray Gart, thông tín viên trưởng của báo Time nói “Thằng chó đẻ ấy, tôi muốn giết nó“.

2.3. PHẠM NGỌC THẢO
 

2.3.1. Thân thế

Phạm Ngọc Thảo sanh ngày 14-2-1922 tại Sàigon. Cha ông là Phạm Ngọc Thuần, một địa chủ lớn, có quốc tịch Pháp, người Công giáo. Còn có tên là Albert Thảo hoặc 9 Thảo, vì Thảo là con thứ 8 trong gia đình.

Sau khi đậu tú tài, Thảo ra Hà Nội học và tốt nghiệp kỹ sư công chánh.

Thảo tuyên bố bỏ quốc tịch Pháp và tham gia kháng chiến.

2.3.2. Hoạt động VC

Sau khi tốt nghiệp trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn, Thảo về nhận nhiệm vụ giao liên ở Phú Yên. Một lần, Thảo đưa 1 cán bộ về Nam Bộ. Đó Là Lê Duẩn, người đã có ảnh hưởng lớn về hoạt động tình báo của Thảo sau nầy.

Được bổ làm Tiểu đoàn trưởng TĐ 410, quân khu 9. (Có tài liệu nói là TĐ 404 hoặc 307). Trong thời gian nầy, Thảo hướng dẫn chiến tranh du kích cho Trần Văn Đôn, Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim, những người sau nầy trở thành tướng lãnh của QLVNCH.

Vợ là Phạm Thị Nhậm, em ruột giáo sư Phạm Thiều, nguyên đại sứ tại Tiệp Khắc.

2.3.3. Hoạt động tình báo

Sau Hiệp Định Genève, Lê Duẩn chỉ thị cho Phạm Ngọc Thảo không được tập kết ra Bắc phải ở lại để hình thành Lực lượng thứ 3.

Từ đó, Thảo dạy học ở một số tư thục Saigon.

Phạm Ngọc Thảo đã bị Đại tá Mai Hữu Xuân, Giám Đốc An Ninh Quân Đội, lùng bắt nhiều lần nhưng đều trốn thoát. Sau cùng, Thảo về Vĩnh Long làm nghề dạy học. Tỉnh nầy thuộc địa phận của Giám mục Phêrô Ngô Đình Thục, vốn đã quen biết với gia đình Thảo từ trước. Ngô Đình Thục coi Phạm Ngọc Thảo như con nuôi và bảo lãnh cho vào dạy học ở trường Nguyễn Trường Tộ.

Năm 1956- Phạm Ngọc Thảo được phép đưa vợ con về Saigon và vào làm việc ở Ngân Hàng QG. Rồi được chuyển ngạch sang quân đội với cấp bậc Đại uý “Đồng Hóa”.

Năm 1956- Do sự giới thiệu của Huỳnh Văn Lang, Tổng Giám đốc Viện Hối Đoái, Bí thư Liên Kỳ Bộ của đảng Cần Lao, Phạm Ngọc Thảo được cử đi học khóa Nhân Vị ở Vĩnh Long. Và Thảo đã gia nhập đảng Cần Lao.
image030 

2.3.4. Hoạt động trong Quân Lực VNCH

– Chức vụ Tỉnh Đoàn Trưởng Bảo An Vĩnh Long.

– Tuyên Huấn đảng Cần Lao Nhân Vị.

Thảo biết cách khai thác nghề viết báo của mình và về Binh pháp Tôn Tử. Chỉ trong vòng một năm, Thảo đã viết 20 bài báo nói về chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy, huấn luyện quân sự, phân tích binh pháp Tôn Tử, Trần Hưng Đạo. Những bài báo được giới quân sự chú ý và cả TT Diệm và Ngô Đình Nhu.

Năm 1957- Phạm Ngọc Thảo được chuyển về Phòng Nghiên Cứu Chính Trị Phủ Tổng thống với cấp bậc thiếu tá. Sau đó, giữ chức Tỉnh Đoàn trưởng Bảo An Bình Dương.

Năm 1960- Phạm Ngọc Thảo tham dự khóa Chỉ Huy Tham Mưu ở Đà Lạt. Giữ chức vụ Thanh Tra Khu Trù Mật.

Năm 1961- Phạm Ngọc Thảo được thăng trung tá, giữ chức Tỉnh trưởng Kiến Hòa để trắc nghiệm chương trình bình định. Thời gian nầy, Kiến Hòa (Bến Tre) trở nên ổn định không còn phục kích hay phá hoại nữa.

Tuy nhiên có nhiều tố cáo Thảo là Cộng sản nằm vùng. Thảo bị ngưng chức tỉnh trưởng Kiến Hòa và đi học khóa Chỉ Huy Tham Mưu ở Hoa Kỳ.

Lý do là, Thảo đã thả hơn 2000 tù nhân đã bị giam giữ và liên lạc với bà Nguyễn Thị Định.

2.3.5. Tham gia các cuộc đảo chánh

* Đảo chánh lần thứ nhất, 1963

Tháng 9 năm 1963, bác sĩ Trần Kim Tuyến, nguyên Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị (Thực chất là trùm mật vụ) và Phạm Ngọc Thảo âm mưu 1 cuộc đảo chánh Ngô Đình Diệm.

Phạm Ngọc Thảo đã kêu gọi được một số đơn vị như Quân Đoàn 3, Quân Đoàn 4, Biệt Động Quân, Bảo An sẵn sàng tham gia. Nhưng âm mưu bị nghi ngờ. Trần Kim Tuyến bị đưa đi làm Tổng Lãnh Sự ở Ai Cập.

Sau ngày đảo chánh 1-11-1963 , Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đỗ. Phạm Ngọc Thảo thăng chức Đại tá làm Tuỳ Viên báo chí trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Một thời gian sau, được cử làm Tuỳ viên Văn hóa tại Tòa đại sứ VNCH ở Hoa Kỳ.

* Đảo chánh lần thứ hai năm 1965

Đầu năm 1965, Phạm Ngọc Thảo bị gọi về nước vì Nguyễn Khánh muốn bắt Thảo. Vì thế, khi về đến phi trường Tân Sơn Nhất, Thảo đào nhiệm, bỏ trốn và bí mật liên lạc với các lực lượng đối lập để tổ chức đảo chánh.

Đảo chánh với lý do rất quan trọng mà Thảo nắm được là Nguyễn Khánh và Hoa Kỳ thỏa thuận sẽ ném bom xuống miền Bắc vào ngày 20-2-1965 . Vì vậy phải đảo chánh lật Nguyễn Khánh vào ngày 19-2-1965 .

Ngày 19-2-1965: Phạm Ngọc Thảo và Tướng Lâm Văn Phát đem quân và xe tăng vào chiếm trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh Saigon, bến Bạch Đằng và phi trường Tân Sơn Nhất. Tướng Nguyễn Khánh đào thoát bằng máy bay ra Vũng Tàu.

Ngày 20-2-1965: Hội Đồng các tướng lãnh họp tại Biên Hòa các tướng cử Nguyễn Chánh Thi làm chỉ huy chống lại đảo chánh. Nguyễn Chánh Thi ra lịnh cho Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát và 13 sĩ quan khác phải ra trình diện trong 24 giờ.

Ngày 21-2-1965:Các tướng tiếp tục họp tại Biên Hòa quyết định giải nhiệm Nguyễn Khánh và cử tướng Trần Văn Minh làm Tổng Tư Lệnh QLVNCH.

Ngày 22-2-1965: Quốc trưởng Phan Khắc Sửu ký sắc lịnh bổ nhiệm tướng Nguyễn Khánh làm Đại sứ lưu động. (Một hình thức trục xuất ra khỏi nước)

Ngày 25-2-1965: Nguyễn Khánh rời Việt Nam. Phạm Ngọc Thảo bỏ trốn.

2.3.6. Bị bắt và qua đời

Ngày 11-6-1965: Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát tuyên bố trả quyền lãnh đạo quốc gia lại cho Quân đội.

Ngày 14-6-1965: Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia được thành lập do tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch.

Phạm Ngọc Thảo phải rút vào hoạt động bí mật. Thảo cho xuất bản tờ báo Việt Tiến mỗi ngày phát hành 50,000 tờ, tuyên truyền tinh thần yêu nước chống Mỹ và Thiệu.

Phạm Ngọc Thảo có 1 hàng rào bảo vệ rộng lớn từ các Xứ Đạo Biên Hòa, Hố Nai, Thủ Đức, Saigon. Có nhiều linh mục giúp đở in ấn và phát hành. Chính quyền Thiệu-Kỳ kết án tử hình và treo giải thưởng 3 triệu đồng cho ai bắt được Thảo.

Võ Văn Kiệt (Sáu Dân) kể lại“Tôi thấy Thảo gặp khó khăn nên đi tìm anh để đưa về chiến khu, nhưng anh bảo vẫn còn khả năng đảo chánh để ngăn chận việc đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam”. (Võ Văn Kiệt)

Lâm Văn Phát ra trình diện và chỉ bị cách chức.

Phạm Ngọc Thảo phải trốn nhiều nơi, cuối cùng bị bắt tại Đan Viện Phước Lý, xã Vĩnh Thanh, quận Nhơn Trạch, Biên Hòa.

Lúc 3 giờ sáng ngày 16-7-1965, Thảo vừa ra khỏi Đan Viện Phước Lý thì bị An ninh Quân Đội phục kích bắt và đưa về 1 con suối nhỏ gần Biên Hòa để thủ tiêu. Tuy nhiên, Thảo không chết, chỉ bị ngất xĩu vì đạn trúng vào càm. Khi tĩnh dậy, Thảo lê lết về một nhà thờ và được Linh mục Cường, Cha Tuyên Uý của Dòng Nữ Tu Đa Minh cứu chữa.

Và Thảo bị phát giác, bị đưa về Cục An Ninh QĐ đường Nguyễn Bĩnh Khiêm. Thảo bị tra tấn cho đến chết vào đêm 17-7-1965. 43 tuổi.

Theo Larry Berman trong cuốnÓi>”Perfect Spy” thì TT Thiệu ra lịnh tra tấn và hành hạ Thảo cho thật đau đớn bằng cách dùng 1 cái thòng lọng bằng da, buộc quanh cổ và 1 cái khác thì siết mạnh nơi tinh hoàn. Cũng có tin nói rằng Đại uý Hùng Sùi bóp dái Thảo cho đến chết.

Phạm Ngọc Thảo có 7 con và vợ Thảo đi dạy hoc. Tất cả hiện đang sinh sống ở Hoa Kỳ. Có người con là bác sĩ ở Quận Cam, Cali.

Phạm Ngọc Thảo là 1 điệp viên đơn tuyến. Không có thượng cấp và thuộc cấp. Không thu thập tin tức mà chỉ tác động vào chính quyền.

Nhà nước CSVN truy tặng Thảo danh hiệu Liệt sĩ và quân hàm Đại tá QĐNDVN.

Cũng có nguồn tin cho rằng Phạm Ngọc Thảo là 1 gián điệp nhị trùng, nghĩa là làm việc cho CIA nữa.

 Trúc Giang

Minnesota ngày 20-10-2011
image031 image032 
image033 image034 
image035 image036
image037 image038 

About these ads

Điệp Viên Cộng Sản Nằm Vùng

VIỆT BÁO 09/11/2014

Đỗ Xuân Tê


Với bút hiệu Xuân Đỗ và bài “Hắn và cuốn Nhật Ký Đặng Thuỳ Trâm…” tác giả đã nhận giải danh dự Viết Về Nước Mỹ 2008. Ông định cư tại Mỹ theo diện H.O. và hiện là cư dân Riverside, nam California. Bài mới của tác giả là chuyện kể liên quan tới vụ án Huỳnh Văn Trọng, một điệp viên cộng sản nằm vùng leo tới chức Phụ Tá của Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu. Theo ghi chú của tác giả, đây là chuyện có thật, người kể chỉ thay đổi tên nhân vật.

* * *


Ông Trịnh và ông Tâm thân nhau từ hồi di cư vào Nam. Họ quen nhau thế nào người ta không rõ, nhưng hai gia đình đều cùng về ngụ cư tại thành phố Đà lạt, nơi ông Trịnh làm nhân viên cho Sở Địa dư của Pháp còn ông bạn trồng rau bỏ mối cho các tiệm ăn vùng Chi Lăng. Gia cảnh hai ông tạm đủ ăn, con cái học chung trường mấy đứa đều giỏi. Hai bà vợ tần tảo cũng hạp tính nhau, cuối tuần cho tụi nhỏ ăn chung, cho hai ông chồng bữa nhậu thịnh soạn sau khi họ cùng đánh mấy ván cờ tướng mà ông Trịnh thường trên cơ người bạn.

Ít năm sau, ông Trịnh bị thôi việc vì Pháp họ rút về nước, cơ quan ông giải thể, các con đã lớn, gia đình dọn xuống Sài gòn. Ông Tâm ở lại vẫn trồng rau nhưng cơ ngơi có khá hơn vì mua được miếng đất hoang mấy năm sau đã lên giá. Họ vẫn giữ liên lạc. Ông Trịnh ít trở lại thành phố sương mù, nhưng ông Tâm có dịp hay về Sài gòn, lần nào cũng ghé nhà bạn mình ở chơi mấy bữa.

Tôi cũng dân di cư, nhà nghèo nên ở cùng hẻm với con ông Trịnh. Cùng lứa tuổi nên học chung trường, tôi và anh em thằng San đều dân Chu văn An. Thằng anh giỏi toán thi nhảy tú tài còn đậu hạng cao, sau vào quân y học ngành bác sĩ, thằng em kém tôi hai tuổi rất giỏi hai môn lý hóa sau vào Sư phạm 4 năm đưa đẩy thế nào về trường dạy lại. Còn tôi chẳng giỏi môn gì, lại thích văn chương, cuối cùng đi lính được kéo về làm ngành viết lách.

Ông Trịnh có cô con gái vai trưởng nữ, anh con rể là một sĩ quan tác chiến ngành TQLC, đánh giặc quanh năm nhưng mỗi khi dừng quân hay về hậu cứ anh lại sáng tác, bài hay đăng trên mấy báo văn học ở Sài gòn, có một tác phẩm được in nhiều người biết tiếng và coi anh như một nhà văn quân đội.

Ông Trịnh rất quý các bạn con ông, nhờ bà vợ kế (bà lớn đã mất vì trọng bệnh) có sạp thịt heo ở chợ gần nhà nên anh em chúng tôi cứ ra nhà là có cơm ăn, học khuya ngủ lại không sao. Tôi chú ý có một ông người Bắc hay từ Đà lạt xuống, đám nhỏ hay kêu Bác Tâm. Lúc đầu tưởng là họ hàng sau biết họ là bạn của nhau. Ông khách hay ngủ lại trên gác sép, uống cà phê chơi vài ván cờ rồì lại xin phép chủ nhà đi có việc. Người chở ông thường là một tay xe ôm, đi đâu cứ đến khuya mới về. Có điều lần nào từ Đà lạt về cũng có một bao tải rau quả, trùng dịp tết có cả cành đào, nhưng bảo ăn cùng nhau bữa tối thì lại hay khước từ. Ông Trịnh cũng nể bạn chẳng hề thăc mắc cũng chẳng nghi ngờ hay bạn mình có đi mây về gió gì chăng, chỉ biết nếu ai để ý tay chở Honda lần nào cũng cùng khuôn mặt và hình như họ có biết nhau.

Lúc này chiến tranh đã đến hồi cao điểm, Việt Cộng khống chế các con lộ dẫn từ cao nguyên về Sài gòn. Đường Đà lạt ngang Định quán hay bị giật mìn, việc đi lại bằng xe đò hên xui may rủi. Ông Tâm vẫn ghé thăm người bạn già, có điều lạ là sau Tết Mậu Thân đi lại có vẻ thường xuyên hơn, ông đi máy bay của Air Vietnam, hình như ông có kết hợp mua ít hàng tạp hóa vì lúc này rau quả ế ẩm. Ông vẫn đi Honda ôm, chiều đi khuya về, có sẵn chỗ nằm cho ông trên gác sép như mọi lần. Ông Trịnh thấy bạn hơi khác trước, ít nói chuyện tay đôi dù thời gian ghé thăm có khi tới mấy ngày, đặc biệt ít đả động chuyện chính trị, hình như hạp nhau chuyện đánh cờ nhưng quan điểm chính trị dù cùng Bắc kỳ di cư nhưng ông bạn tỏ ra ghét Mỹ nhiều hơn là cộng sản.

Bẵng đi cả nửa năm không thấy ông Tâm ghé nhà, ông Trịnh tưởng bạn chắc đau ốm nên biên thư thăm hỏi. Không thấy hồi âm hai bên liên lạc tạm gián đọan. Sài gòn lúc này đang bàn tán vụ báo đăng liên quan đến ổ tình báo lớn của cộng sản nằm trong Phủ Đầu Rồng, ông Trịnh vốn hay quan tâm chuyện chính trị nên theo dõi rất sát. Mỗi lần tôi ra nhà là thế nào ông cũng bảo tôi ngồi riêng hai bác cháu trao đổi vụ Huỳnh Văn Trọng, viên cố vấn của ông Thiệu là người của phía bên kia. Biết tôi làm ở cơ quan trung ương được đọc nhiều tin tức mật, bố thằng San khai thác triệt để, hay làm vài món nhậu dã chiến hai bác cháu ngồi uống chung. Các con ông ông chỉ cho đánh cờ tay đôi, ít khi ngồi uống chung, lúc này cao thủ cờ tướng đã xuống tay nhiều ván chịu thua em thằng San.

Một hôm khoảng giữa năm 69, vừa đi làm về, thằng San gọi điện thoại bảo tôi ra nhà gấp. Vào nhà cảnh nhà như đưa đám. Tưởng ông cụ mất hóa ra ông mới bị cảnh sát khám xét nhà và bắt đi từ tối qua. Tội gì không thấy nói, giam ở đâu không biết, hỏi gạn ông tổ trưởng thì hình như nhà ông Trịnh có chứa…cộng sản nằm vùng. Việc của tôi lúc này là xem ông bị đưa đi đâu đề còn thăm nuôi và hỏi ra sự tình. Ông cụ lại cao máu không có thuốc men cũng dễ đột tử.

Tôi có quen mấy bạn làm bên an ninh, trong số này có anh bạn nhà văn Thảo Trường, nhờ anh tìm dùm manh mối. Ông Trịnh bị đưa về cảnh sát đặc biệt của Tổng nha đường Nguyễn Trãi, không cho thăm gặp vì còn trong vòng điều tra liên quan đến một vụ gián điệp lớn. Bó tay.

Nhưng mười ngày sau họ cho thăm và bảo người nhà tiếp tế thuốc cao máu. Thằng San lúc này là sinh viên năm cuối của quân y được nhà cử đi thăm. Mặc đồ sĩ quan, mấy tay cảnh sát có sự thông cảm dù không khí có căng thẳng. Thằng con không nhận ra bố, ông cụ chắc bị ăn đòn trông như cái mền rách. Quả thật ông Trịnh than bị hỏi cung tra tấn đau quá, dặn con về gặp cậu Tê (tên nhà hay gọi tôi) kiếm chỗ chạy để họ đừng đánh, chứ không chắc bố chết mất. Thằng San sót ruột thấy bố mình có tội gì đâu lại bị tai bay vạ gió, ông cụ buột miệng cũng tại…bác Tâm.

Tại ai cứ để đó, lúc này phải lo cứu ông. Cả nhà thì bối rối nhưng tôi tin tôi làm được. Biết người phụ trách mảng điều tra này là trung tá Nguyễn Mâu, vừa là phụ tá về cảnh sát đặc biệt của tổng nha, ông được quân đội phái sang, rất có uy tín và trở thành hung thần của các mạng lưới nằm vùng của cộng sản. Vụ Huỳnh văn Trọng đổ bể ông được Tông tông giao cho chấp pháp, không ai có quyền xin sỏ can thiệp vì ông này rất sạch. Cũng cần nói không có con mắt tinh tường của Nguyễn Mâu, nhạc sĩ phản chiến TCS đã vào hộp từ lâu và số phận sẽ phải chờ đến tháng tư đen.

Tôi gặp ngay xếp lớn của tôi nguyên là giám đốc cảnh sát đô thành thời tướng Loan, kể lể sự tình và xin ông gọi phôn giới thiệu cho gặp Nguyễn Mâu, chủ yếu là xin nhân viên của ông đừng…đánh bố thằng San, không xin gì thêm. May mắn là ông cho chúng tôi gặp. Ba thằng tôi, một là con đẻ, một con rể, một là bạn của gia đình. Tôi mở lời và đi thẳng vào vấn đề, được ông hứa sẽ chỉ thỉ cho nhân viên chấm dứt việc đánh đập và yêu cầu ba đứa tôi làm đơn bảo lãnh sinh mạng chính trị cho ông Trịnh. Từ đây tôi có thiện cảm với NM dù không ưa cái lối tra tấn kiểu cộng sản của nhân viên dưới quyền.

Lần thăm gặp sau, ông Trịnh cho biết đã được chuyển phòng, không bị đánh, tự viết lời khai và chờ ngày ra tòa, xét cho cùng tội tình gì chưa rõ, ông Trịnh vẫn chỉ là con tép riu. Họa vô đơn chí ít tháng sau con rể của ông trong một cuộc hành quân trực thăng vận tại rừng dừa Bến Tre, anh đã anh dũng hi sinh được quân đội truy tặng cấp tá và gắn bảo quốc huân chương trên quan tài.

Con cá lớn là bác Tâm đã vào rọ, không ngờ ông lại là móc xích quan trọng trong đường dây tình báo chiến lược của cộng sản gài vào nam từ hồi 54. Ông hay về Sài gòn là để họp và nhận chỉ thị. Ông chọn chỗ ông Trịnh vừa thân vừa an ninh, cảnh sát ít nhòm ngó vì dân nhà binh chúng tôi hay lui tới. Ông bị bắt vì vụ Huỳnh Văn Trọng (điệp viên cộng sản gài lại, leo cao tới chức phụ tá Tổng Thống Thiệu). Kẻ tố cáo lại là người hay đến nhà ông Trịnh đón ông đi bằng xe ôm mỗi khi ông về Sài gòn. Vậy là mối quan hệ giữa ông Tâm với ông Trịnh đổ bể.

Ông Trịnh thì tình ngay lý gian, cảnh sát cho ông là ngoan cố, chứa bạn cả chục năm mà cứ khai không biết hành tung, khổ nỗi là ông không biết thật cho nên càng quanh co càng dễ lãnh đòn đau. Thêm một chi tiết về lý lịch bản thân ông không nói cho các con là bác của thằng San tức anh trai ông Trịnh đã thoát ly theo kháng chiến từ thời đầu, về sau làm tới thứ trưởng bộ trưởng giáo dục của miền Bắc (ai quê Hải Dương đều biết ông này),. Cảnh sát dò tìm được mối liên hệ này và càng tin ông Trịnh là cảm tình viên của ông Tâm hoặc chính ông cũng là một tay trong.

Hôm tòa xử, mấy con ông và tôi có dự. Ông bị kêu án nhẹ nhất 5 năm, bác Tâm 18 năm. Trừ thời gian tạm giam ông thọ án thêm hai năm nữa. Ông được đưa về Chí Hòa, tiện cho việc thăm nuôi, số còn lại những người cộng sản thứ thiệt bị đưa ra Côn Đảo.

Từ ngày ông về nhà tôi ít liên lạc với gia đình, một phần thằng San đổi đi xa mãi Sư đòan 23 ở Ban Mê Thuột, anh con rể nhà văn thì đã biệt xa, chú em đã có gia đình ra ở riêng, bản thân ông thì bác cháu cũng khó nói chuyện, có cái gì vô hình làm ông và tôi ngăn cách.

Rồi tháng Tư 1975 ập đến, thằng San cùng vợ nhanh chân xuống tàu di tản, chú em kẹt lại nhưng vài năm sau cũng vượt biển sang Cali, tôi chậm chân uống nước đục đi tù không án ra mãi miền Bắc.

Nghe nhà tôi kể lại, gia đình ông Trịnh lại lên hương, bỗng dưng được kể là có công với cách mạng. Nhưng ông lúc này cũng già lại bệnh tật và hệ lụy hồi bị tra tấn nên chẳng tham gia gì ngoài chân tổ trưởng miễn cưỡng phải nhận, bà vợ vẫn bán thịt heo bọn cai thuế có sự nể vì. Chỉ ba cô con gái con bà sau lúc này đẹp như trăng rằm, nhờ lý lịch gia đình lần lượt ba chị em đều vào trường Y thành phố, nói cho ngay tụi nhỏ cũng có dòng xưa nay anh em nó đều học giỏi, khả năng chúng nó trội hơn nhiều so với bọn con ông cháu cha quyền chức đỏ.

Mười hai năm sau tôi từ nhà tù trở về thành phố, vật đổi sao dời người xưa cảnh cũ quay đi ngoái lại cũng chẳng còn ai. Bà vợ tôi nhắc tôi đi thăm ông Trịnh lúc này ông đang bị ung thư thời kỳ chót. Lần đầu gặp ông, ông rất vui vì chắc ông nhớ lại thời các con ông và tôi chơi chung học chung nay thì chúng đã nghìn trùng xa cách. Lần sau thì ông đã quá yếu, thăm hỏi xong bỗng ngoắc tôi lại gần, vừa ngó quanh xem không có ai, ông thều thào, anh nên tìm đường mà đi, sống với chúng nó không nổi đâu. Tôi gật đầu ra dấu tôi hiểu. Cảm xúc ngay lúc đó tôi nhận biết ông còn quí tôi và điều làm tôi nhẹ mình là ông vẫn không phải là người của phía bên kia. Người sắp chết bao giờ cũng nói thật và chí tình. Tôi cúi xuống hôn ông như một người con giống lần từ giã bố tôi. Mấy ngày sau ông mất.

Năm năm sau khi sang được Cali bằng con đường người Mỹ tìm dùm cho anh em chúng tôi những cựu tù cộng sản, tôi học lại chuyện này với mấy cậu con, các bạn tôi hình như giờ này mới thực sự hiểu bố. Quả thật trong chiến tranh cốt nhục tương tàn, người Nam kẻ Bắc kẹt giữa hai lằn đạn ngay cha con cũng khó hiểu nhau.

Có một chi tiết mà sang đây tôi mới được em thằng San cho biết, bác Tâm sau 75 từ Côn Đảo trở về, bác được tiếp đón linh đình cùng nhóm Võ Thị Thắng, sau về Đà lạt được sắp xếp vào chức phó thị ủy thành phố, có điều hai gia đình đã hết thân hình như ông Trịnh còn ấm ức điều gì đó với ông bạn mà tôi ngờ rằng vốn đã biết chẳng cùng chung lối mà sao chỗ bạn hiền nỡ tâm để họa cho nhau.

Đỗ Xuân Tê

CUỘC DI TẢN CỦA KHÔNG QUÂN VNCH hay Ngày Chim Vỡ Tổ

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Bảy Năm Phục Vụ Không Quân Việt Nam Cộng Hòa 1968-1975 của Đào Hiếu Thảo –  PEN Vietnam

Ngày Chim Vỡ Tổ:

Tập ‘Quân sử Không Quân’ trang 199 ghi lại: ‘Về Không Quân VNCH, ngoài một số nhỏ quân nhân và gia đình được di tản bằng phi cơ C130, C141 của KQHK từ ngày 20/4, đa số còn lại chỉ di tản sau ngày 28/4/1975, khi Bộ Tư lệnh KQ không còn hoạt động theo đúng chức năng của một Bộ Tư lệnh nữa.

Số lượng phi cơ của KQVN bay thoát được sang Utapao, Thái Lan, do các tác giả đưa ra, không thống nhất, theo Robert Miskesh trong ‘Flying Dragons: the South Vietnamese Air Force thì tổng cộng vào khoảng 132 chiếc, gồm khoảng 25 F-5, 27 A-37, 11 A-1, 13 C-47, 6 C-130, 3 AC-119, 5 C-7 và 45 UH-1., theo Wayne Muntza trong “The A-1 Skyraider in Viet Nam”: The Spad’s Last War, và Ralph Wetterhahn trong ‘Escape to Itupao thì con số máy bay được cho là 165 chiếc, thêm vào đó là các U-17 và O-1, ngoài ra không kể vài phi cơ dân sự của Air VN.

Cũng vào ngày cuối cùng, một số trực thăng đã bay ra đáp xuống các chiến hạm của HQHK, con số này được ước lượng là khoảng 100 chiếc, đa số là UH-1 và CH-47. Cũng có những chiếc tuy bay được ra biển nhưng do trục trặc kỹ thuật, hoặc hết nhiên liệu đã rớt xuống biển. Con số này được ước lượng là khoảng 18 chiếc.

37 năm sau ngày 30/4/1975, các tài liệu quân sự được giải mật và những bài hồi ký, bút ký của nhiều tác giả trong cuộc đã giúp ‘vẽ lại’ toàn cảnh (có thể chưa hoàn toàn chính xác) về cuộc di tản hay đúng hơn là ‘tự tan hàng’ của KQ VNCH.

Cuộc di tản chiến thuật, rút bỏ Quân Đoàn II vào ngày 6/3/1975 đã bỏ lại tại Pleiku 64 phi cơ các loại.

Ngày Quân Đoàn I tan hàng tại Đà Nẵng (30/3/1975), 180 phi cơ đã bị bỏ lại, trong số này có 33 phi cơ vận tải C-7 Caribou đang bị đình động còn bọc kin trong bao tồn trữ.

Trong những tháng cuối cùng của cuộc chiến, khả năng chiến đấu của KQ VNCH càng ngày càng bị giới hạn do không còn một hệ thống chỉ huy và kiểm soát hữu hiệu. KQ VNCH không có những phi cơ trang bị hệ thống chỉ huy, dẫn đạo không trợ bay trên vùng cần yểm trợ hành quân (theo phương pháp của KQ HK: dùng các C-130 làm trạm chỉ huy trên vùng). Trong khi đó sự kiện bị mất các đài Kiểm Báo và Không Trợ như Trung Tâm CRC (Combat Report Center), Panama Đà Nẵng, các Trạm CRP (Combat Report Point) Peacock PleiKu, Pyramid Ban Mê Thuột đã khiến Hệ thống Kiểm Báo Chiến Thuật trở thành tê liệt, vô hiệu. Tuy Trung Tâm CRC Tân Sơn Nhất vẫn còn hoạt động nhưng nhiệm vụ chinh lại không phải là để điều hành các phi vụ yểm trợ chiến trường, hoặc hướng dẫn oanh tạc các mục tiêu dưới đất. Các phi vụ oanh tạc tùy thuộc vào các phi cơ quan sát FAC (Forward Air Controller = Điều Không tiền tuyến) và tùy phi công có mặt trên vùng, nhận định mục tiêu bằng mắt thường.

Vào thời điểm của trận Xuân Lộc: KQVNCH còn 1492 phi cơ các loại, trong đó có 976 chiếc hoạt động được, 135 chiếc hư hỏng không bay được và 381 chiếc kể như phế thải. Lực lượng phi cơ chiến đấu gồm 169 chiếc A-37 (trong đó 92 chiếc khả dụng) và 109 F-5s (93 chiếc khả dụng).

Những phi vụ hành quân cuối cùng của KQ VNCH trên không phận Sài Gòn:

Trong những ngày cuối cùng của VNCH, KQVN vẫn còn hoạt động với một số phi vụ yểm trợ bộ binh và chống pháo kích. Đ/úy phi công Trần văn Phúc PĐ 518 ghi nhận một số phi xuất trong những ngày 28 và 29/4 như:

PĐ 518 với phi vụ Phi Long 51 do một phi tuần gồm 2 Skyraiders (một do Đ/úy Phúc và một do Th/tá Trương Phùng) bay vào sáng 29/4. Phi cơ của Th/tá Phùng bị phòng không cộng quân bắn hạ. Ông đáp xuống ruộng gần cầu Bình Điền, bị bắt và sau đó bị cộng quân hành quyết vào ngày 30/4.

PĐ 514 với một phi tuần 2 Skyraiders cất cánh từ Cần Thơ để bay trên không phận Sài gòn vào sáng 29, do các Th/tá Hồ ngọc Ân và Đ/úy Nguyễn Tiến Thụy điều khiển.

Những phi vụ Tinh Long của các AC-119 như Tinh Long 06, Tinh Long 07:

Tinh Long 07 (sáng 29/4) do Tr/úy Trang văn Thành điều khiển đã bị SA-7 của cộng quân bắn hạ, phi cơ gẫy làm đôi và rơi ngày tại vòng đai phi trường. Phi hành đoàn gồm 9 người, 8 hy sinh ngoại trừ nhân viên nhảy dù thoát được.

Theo Đ/úy Phúc: ‘Ngoài Tinh Long 07, còn có thể có thêm 2 AC 119 khác bị bắn hạ (?) (một rơi tại đường Ngô Quyền và một rơi tại Tân Tạo)’.

Sáng 30/4, một phi xuất A-37 (Tr/úy Nguyễn Mạnh Dũng PĐ 526 lái) từ Cần Thơ, phối hợp với O-1 (Đ/úy Mai Trí Dũng PĐ112 lái) từ Đồng Tâm, bay yểm trợ khu vực Hoàng Hoa Thám ngay trước giờ Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng. Đây có thể là phi vụ hành quân cuối cùng của KQ VNCH.

(Xin xem bài: Những Phi vụ hành quân sau cùng của KQ VNCH, của Trần Lý)

Những giờ phút cuối cùng tại Bộ Tư lệnh KQVNCH
Chiều 28/4, CSBV đã dùng 4 A-37 (lấy được từ Phan Rang) oanh kich phi trường TSN, gây tổn hại cho 3 chiếc C-119 và nhiều C-47.

Tối 28/4: một sự kiện ‘kỳ lạ’ đầy bí ẩn đã xẩy ra tại TSN: Tác giả Thiên Lôi Ngô Đức Cửu trong ‘Chuyện 30 năm trước’ (website bgkq.net/hoiky) ghi lại như sau:

… ‘8 giờ tối 28/4/1975, tôi trở về ụ đậu phi cơ đầu phi đạo 07 phải, nơi tạm trú của 3 Phi đoàn 524, 534 và 548 di tản từ các căn cứ về. Bước xuống xe, tôi thấy các nhân viên phi đạo đang bận rộn kéo các A-37 trang bị đầy bom đạn từ trong vòm trú ẩn ra đậu hàng ngang dài phía trước, cách ụ 50 feet. Tôi bước đến hỏi trưởng phi đạo tại sao dời phi cơ khỏi ụ ? Anh ta trả lời: “Theo lệnh Trung tá kỹ thuật và Bộ CH Hành quân.” Tôi vào phòng trong ụ, nhắc điện thoại gọi Trung tâm Hành quân, thì sĩ quan trực cho biết hình như lệnh của Bộ Tư lệnh KQ hay Bộ TTM gì đó ? Tôi hỏi: “Anh có biêt là hồi chiều phi đạo 07 vừa bị dội bom không ? Tôi liên lạc với Đ/tá Ước, nhưng không được. Trở lại bãi đậu, tôi yêu cầu trưởng phi đạo di chuyển phi cơ trở lại ụ nhưng không được.

Tôi tự hào trong hàng ngũ phi công khu trục KL VNCH, nhất là Không Đoàn 92 có các PĐ 524, 534, và 548 cho đến giờ phút này, 22 giờ 18 tối 28/4,  tât cả phi công đều có mặt ứng chiến, không thiếu một ai.

Suốt đêm tất cả anh em 3 phi đoàn chờ đợi, điều động cất cánh nhưng tuyệt nhiên không một tiếng điện thoại reo.

Nửa đêm, VC bắt đầu pháo kích và hơn 50 chục A-37 bị phá hủy. Giờ đây hơn trăm phi công chiến đấu bằng tay không ư?

6 giờ 15 sáng 29/4, tất cả phi công lên xe chạy về Bộ Chỉ huy KĐ 33. Đ/tá Thảo chạy vào rồi chạy trở ra. Đến nơi các phòng vắng lặng, không còn ai cả. Trở lại sân cờ KĐ 33, Đ/tá Thảo tuyên bố tạm thời tan hàng, anh em rán tự tìm lấy phương tiện di tản.

Mọi người xuống xe, nhưng chạy về đâu bây giờ ? Tan hàng, nghe thảm thiết quá. Một trong những đơn vị chiến đấu kiên cường nhất của QL VNCH, giờ đang bị bó tay. Lệnh ai cho sắp trên 50 chiếc A-37 hàng ngang, cánh liền cánh, xăng nhớt bom đạn trang bị đầy đủ để hủy diệt? Nếu không cho chúng tôi chiến đấu thì cũng để chúng tôi có phương tiện ra khỏi phi trường chứ ? Chúng tôi đâu có rã ngũ. 

Sự kiện phi cơ bị ‘tự hủy'(?) này cũng được ghi nhận trong ‘Can trường trong Chiến bại’ của Tướng Hải Quân Hồ văn Kỳ Thoại, trang 306-307′ như sau:

… ‘Tới đêm 28/4, tại căn cứ Duyên đoàn ở Vũng Tàu, một sĩ quan KQ cấp tá xin vào gặp tôi và cho biết có một số trực thăng đang đậu tại Vũng Tàu, có Tướng Huỳnh Bá Tính, Sư đoàn trưởng SĐ 3 KQ muốn đến gặp tôi, cần trình bầy một sự kiện quan trọng.

Tướng Tính vào căn cứ duyên đoàn gặp tôi và các tướng lãnh khác (Nguyễn duy Hinh, Trần văn Nhựt…) kể chuyện xẩy ra, rất bi thảm Ông không biết lịnh từ đâu… bỗng nhiên một số phi cơ phát nổ, sau đó được biết có lệnh của Saigon, cho phá hủy các phi cơ của KQ ?

Tướng Tính phân vân, không muốn về trình diện Bộ TLKQ khi ông chưa biết ai ra lệnh hủy phi cơ thuộc SĐ của ông ? Chúng tôi thuyết phục ông Tính liên lạc trực tiếp với Tướng Minh Tư Lệnh KQ.

Đêm 28 rạng sáng 29/4, cộng quân bắt đầu pháo kích vào phi trường TSN, phá hủy nhiều phi cơ.

Khoảng 8 giờ sáng, Tướng Phan Phụng Tiên, Sư đoàn trưởng SĐ5 KQ, đến gặp Tướng Minh, và sau đó bỏ đi.

10 giờ 30 phút sáng 29/4, sau khi họp riêng với Tướng Minh Tư lệnh KQVN, Tướng Nguyễn Cao Kỳ (không có một chức vụ chính thức nào trong Chính Phủ cũng như trong Quân lực VNCH) bay trực thăng riêng về Bộ TTM. Thấy không còn ai. Tướng Kỳ gặp Tướng Ngô Quang Trưởng đang ngồi không nên rủ Tướng Trưởng lên trực thăng, theo đoàn tùy tùng bay ra USS Midway đang đậu ngoài khơi Vũng Tàu.

Khoảng 11 giờ, Trung tướng Nguyễn văn Mạnh Cựu TMT Liên quân cùng với Trung tướng Dư Quốc Đống vào gặp Tướng Minh. Không thấy HK liên lạc như đã dự trù, Tướng Minh cùng các tướng tá Bộ binh và KQ tùy tùng đã di chuyển sang DAO để chờ di tản.

Từ 1 giờ trưa, Trung Tâm Hành quân KQ coi như bỏ trống. Các Phi đoàn trưởng ra lệnh tan hàng. Phi công bay đi đâu hoặc chạy đâu, tự ý quyết định.

Riêng SĐ 4 KQ tại Trà Nóc Cần Thơ, còn hoạt động (cho đến sáng 30/4 một số phi vụ vẫn từ Cần Thơ bay lên yểm trợ chiến trường quanh Sài Gòn) và Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Tần, Sư đoàn trưởng có thể được xem là vị Tư lệnh sau cùng của KQ VNCH (?)

Trong bài bút ký ‘Giây phút nát lòng’ (Lý Tưởng Tháng 4/2002) Tác giả Không Quân Liệt Lão, Chỉ huy trưởng Phòng vệ BTLKQ đã kể lại những giây phút tan hàng tại Tân Sơn Nhất với những đoạn tạm trích như sau:

… ‘ Tôi lên trình diện Tư lệnh bộ, toan phúc trình tình hình phòng thủ, nhưng chẳng ai bận tâm. Người người nhìn nhau đăm chiêu dường như trong thâm tâm ai cũng muốn buông rơi tât cả. Ai cũng thần sắc không còn, dũng khí tiêu tan như ‘đại bàng xệ cánh’. ‘Tôi trông chờ một lệnh họp khẩn cấp, duyệt xét tình hình chung, lấy quyết định tối hậu ‘Chiến’ hay ‘lui’ Chiến thì chiến ra sao ? Lùi thì lùi thế nào ? Có tuần tự, trước sau, không bỏ một ai hay hỗn loạn mạnh ai nấy chuồn ? Tôi chờ lệnh, nhưng không có lệnh!

Bài viết có thêm những chi tiết di tản của một số Tướng KQ và BB như:

… ‘ Tôi đưa tay chào nghiêm túc theo quân cách, Cửu Long (danh hiệu của Tướng Minh, Tư lệnh KQ), chào trả, ngập ngừng chân bước, ái ngại nhìn tôi và đột nhiên dứt khoát:
– Toa ở lại, đi sau với Lành (Tướng Võ Xuân Lành) nghe.

… ‘ Tôi mỉm cười, quay bước vào phòng tình hình, lúc này chỉ còn ông Linh, ông Lành. Ông Lượng đã đi đâu lúc nào tôi không biết. Được một lúc khoảng 10 giờ gì đó, Đ/Tá Vũ văn Ước đáp trực thăng trên sân banh, chạy vội vào gặp ông Lành, xong cùng ông Lành trở ra, kéo luôn theo tôi, miệng nói:
– Đi mày.
Tôi nhìn Lành, quay qua hỏi Ước: – Đi đâu ?
– Qua Tổng Tham Mưu (TTM) xem tìmh hình ra sao ?
Ước nói và nắm tay tôi lôi đi. Tôi, Ước, và Linh lên trực thăng qua đáp tại sân cờ trươc tiền đình Bộ TTM. Linh và Ước chạy lên văn phòng TTM trưởng.Tôi không theo.

Đảo mắt chỗ khác thấy trực thăng Tướng Kỳ. Đàn em trước kia của tôi hiện là cận vệ ông Kỳ, từ trực thăng nhảy xuống, chạy đến tôi nói nhỏ: – Trực thăng sẽ bay ra Blue Ridge. Ông hảy lên, cùng đi.Tôi hỏi: – Tướng đâu ?- Họp trên văn phòng TTM Trưởng.

Tôi bước lại trực thăng, nhìn vào thấy Đ/tá Hà Xuân Vịnh ngồi trên đó từ hồi nào. Tôi leo lên ngồi cạnh. Đang miên man suy nghĩ cho mạt vận của đất nước, mạt kiếp của mình thì ông Linh từ bộ TTM chạy ra một mình đến bên trực thăng có tôi và Vịnh đang ngồi đăm chiêu, mỗi người một ý nghĩ. Ông Linh cứ loanh quanh ở dưới chẳng chịu lên. Tôi vội leo xuống, lại gần Linh nhỏ to: ‘ Linh! Kỳ sẽ rút ra Đệ Thất hạm đội. Lên đi, hết cách thôi.’
Linh có điều gì bất ưng, nhất định không lên tàu.Tôi hỏi: Sao ? Linh nói: “Thiếu gì máy bay.” Tôi vội báo động: “Máy bay nào ? Còn duy nhất chiếc này thôi.” “Chiếc kia kìa.” Linh vừa nói vừa chỉ tay về chiếc trực thăng mà tôi, Ước và Linh vừa đáp hồi nẫy. “Tàu còn đó, hoa tiêu bỏ đi rồi.” Tôi nói với Linh vì thấy họ phóng xe jeep ra khỏi TTM.
Linh nhất định không lên tàu. Tôi đành ở lại bên anh. Tôi còn đang phân vân bàn thảo với Linh những bước kế tiếp thì ông Kỳ từ đại sảnh bộ TTM bước ra, đi về hướng trực thăng và dẫn theo số đông tướng lãnh, bay đi cùng Ước, để lại tôi và Linh tự quyết định lấy phận mình.

Tôi và Linh, cùng với Đặng Duy Lạc (Đ/tá Không Đoàn trưởng KĐ 62) không biết từ đâu chui ra, yêu cầu Quân Cảnh TTM hộ tống chúng tôi về lại Bộ TL KQ. Xe rồ máy phóng đi trực chỉ cổng Phi Long.

Tinh cầu trên vai, Linh cho lệnh mở cửa. Quân ta phớt tỉnh… không nghe. Đặng Duy Lạc vẫn ngồi yên như khúc gỗ. Tình hình thực gây cấn. Thấy ông Linh hết ‘linh’, tôi bước xuống xe tiến thẳng đến chỗ anh KQ bất tuân thượng lệnh, điềm đạm ra lệnh mở cổng. Anh líu ríu vâng lời.

Chúng tôi vào Bộ Tư lệnh KQ gặp ông Lành. Niềm tự hào của KQ đang ở chỗ này: Tướng Lành trước thế quân tan vỡ, quân binh đang đua nhau bỏ ngũ, ông vẫn trầm tĩnh, kiên trì thủ đài Chỉ huy Hành quân Chiến cuộc KQ. Ông giữ vững liên lạc với SĐ 4 KQ, SĐ KQ duy nhất còn hăng say chiến đấu trong khi nhiều đơn vị đã tự ngừng nghỉ.

Ông Linh tóm lược tình hình bên Bộ TTM cho ông Lành rõ. Ông Linh đề nghị rút khỏi Tân Sơn Nhứt. Tướng Lành nói với Linh trươc sự hiện diện của tôi và Đặng Duy Lạc:
– Moa chưa có lệnh..
Ông vẫn đợi lệnh. Chúng tôi vẫn đợi, vẫn chờ… nhưng chờ lệnh ai đây ? Mọi người đã bỏ đi cả rồi, tội cho ông Lành vẫn ngồi chờ lệnh, mà lệnh của ai đây ? Tôi buột miệng:- Ông chờ lệnh ai ? Còn ai đây nữa mà ra lệnh cho mình?Ông Lành trầm ngâm không nói, chúng tôi lặng yên chờ (lại chờ) quyết định của ông, chợt Tướng Lê quang Lưỡng (Nhảy dù) xịch xe jeep đến, thấy tụi này còn đương nhìn nhau, hỏi:- Tụi toa định làm gì đây ?Ông Lành ngượng nghịu chưa biết phải nói sao cho đỡ khó nói? Tôi nhìn thẳng Tướng dù nói nhanh:- Tụi này zulu đây. Ông có theo thì cùng đi ?- Zulu ? Zulu bỏ mấy đứa con (ý nói quân dù) lang thang. Sao đành!
Ông Lành hỏi:- Toa còn mấy đứa con ?- Sáu đứa chung quanh đô thành.

Lúc này trực thăng TQLC Mỹ đổ bộ và bốc người loạn cào cào trên không phận SàiGòn. Tôi đỡ lời ông Lành:- Tân sơn Nhất không giữ được. Không Quân chúng tôi phải rút khỏi tầm pháo địch trước đã.Ông Lưỡng vội hỏi: – Tụi toa định rút đi đâu ?Tôi nhanh nhẩu: – Có thể vùng 4… Có thể đi luôn!- Chờ moa một chút, cho moa về thu xếp với mấy đứa con cái đã.
Nói xong, ông Lưỡng lên xe jeep về sư đoàn Dù.

Trong khi chờ Tướng Dù trở lại, các sĩ quan cấp Không đoàn và Tham mưu Bộ Tư lệnh KQ hiện diện cùng với một số binh sĩ thuộc Tổng hành dinh KQ vội tập họp quanh chúng tôi tại tiền đình Bộ TL nghe ngóng tình hình. Tôi nói thẳng:- Dưới áp lực của pháo Cộng, Bộ TLKQ buộc phải rút khỏi đây. Ai muốn đi theo, hãy sẵn sàng. Kể từ giờ phút này, các anh không còn trách nhiệm gì với KQ nữa. Các anh có thể rời đơn vị, lo cho sự an nguy của vợ con càng sớm càng tốt.

Cùng trong lúc đó, Tướng Dù đã trở lại. Chúng tôi thảo luận kế rút đi. Sau k hi xét kỷ lại nghề bay trong chúng tôi, không có ai là hoa tiêu vận tải. Tướng Lành, Thảo nâu, Duy Lạc… đều là hoa tiêu phóng pháo. Ông Linh đề nghị qua DAO. Tôi hỏi nhỏ ông Linh: – SĐ 5 KQ thì sao ? Linh thở dài trả lời:
– Các hoa tiêu đã tự ý rút cả rồi.Sau phút suy tính, vị chỉ huy đoạn hậu BTLKQ cho lệnh rút. Tất cả lên 3 xe jeep trực chỉ cơ quan DAO. Tới cổng DAO, một dân sự Mẽo, mặc áo giáp, M17 cầm tay chặn lại và hách dịch ra lệnh:- Generals only.

Hai Tướng KQ, một Tướng Dù bước vào trong hàng rào kẽm gai. Tôi lắc đầu quay ra, tự tay gỡ kẽm gai bước khỏi vùng phân ranh Mỹ-Việt. Anh Mẽo gác cửa chẳng hiểu tại sao cái anh phi hành đã vào rồi lại bỏ ra trong khi nhiều người muốn vào lại không được.

Tác giả sau đó, cùng một số sĩ quan cấp Tá quay lại BTL KQ để tìm phương cách khác tự di tản.

(Ghi chú: Danh sách một số Tướng, Tá và chức vụ tại Bộ TLKQ, trong những ngày cuối cùng của VNCH

  • Trung Tướng Trần văn Minh, Tư lệnh KQVN
  • Thiếu Tướng Võ Xuân Lành, Tư lệnh phó
  • Chuẩn Tướng Võ Dinh, TM Trưởng
  • Ch/Tướng Đặng Đình Linh, TM Phó Kỹ thuật/Tiếp vận

Bác sĩ Phạm gia Lữ trong bài ‘Tân sơn Nhất trong giờ hấp hối’ (Lý Tưởng, tháng 4/2002) kể lại một số diễn biến tại Trung Tâm Y Khoa KQ..với nhiều tiết khá chua chát của một đơn vị hầu như bị… bỏ quên ?

…’Chiều thứ Hai 28/4, lệnh giới nghiêm 24/24 bắt đầu. Cổng Phi Long đóng cửa. Phi trường TSN vừa bị A-37 oanh kích trước đó.

Khoảng nửa đêm, Th/t L. nhào vào bô bô nói: – Tình hình thế này mà các cậu ngủ được thì lạ thật. Đàn anh biến đi đâu hết rồi.(hắn ám chỉ các anh lớn của KQ). Họ đang lập cầu không vận đi Côn Sơn kia kìa. SĐ5 KQ đang tổ chức di tản cho thân nhân binh sĩ thuộc sư doàn đi Côn Sơn.

Đêm 28/4, CQ pháo kich vào phi trường gây thiệt hại cho nhiều máy bay.

Khoảng 7 giờ sáng 29/4, trong lúc quanh quẩn tại BCHHKQ, tôi gặp Đ/tá H Giám đốc Trường Chỉ huy và Tham mưu Trung cấp KQ trước cửa văn phòng ông, vẻ buồn bã lộ trên nét mặt. Tuy thuộc cấp chỉ huy nhưng không có cánh, máy bay không có trong tay, nên cũng chẳng xoay sở gì được. Đ/tá Th. Chỉ huy trưởng Trung Tâm Kiểm báo, cũng là người rất kỷ luật, cứ nằm lỳ trong đơn vị để làm gương cho thuộc cấp nên cũng bị kẹt trong cơn hấp hối của TSN.

Khoảng 10 giờ, cùng Th/t Vũ BH thuộc trường CH/TM lái xe đi thăm tình hình.Trên đường chạy ra phi đạo, một dẫy dài xe hơi bỏ trống, nối dài từ cửa chính vào văn phòng Tư lệnh ra đến ngoài đường. Tôi gặp chiếc Falcon màu vàng nhạt của Th/tá Khoa (đen), vẫy tay ra hiệu cho anh ngưng lại và hỏi: – Đi đâu bây giờ ?Khoa trả lời vắn tắt: – Theo moa.Vừa khỏi vòng rào BTL, Khoa quẹo phải rồi quẹo trái, thì ra anh ở nhà cũ của LCK. Sau khi vợ con hành lý lên xe, chúng tôi nối đuôi nhau trở ra phi đạo. Trạm canh ra phi đạo không còn quân cảnh canh gác.

Bay đi Utapao:

Để thoát khỏi Việt Nam, các phi cơ vận tải, phản lực nếu đủ nhiên liệu có thể tự bay sang Singapore ( 590 miles về phia Tây-Nam) hoặc gần hơn là sang Utapao, Thái Lan (350 miles phia Tây-Bắc). Đa số các phi cơ vận tải và phản lực đã chọn Utapao, chỉ một số rất ít C-130 bay đến Singapore.

Bài viết chinh thức về cuộc di tản của các phi cơ VNCH đến Utapao trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến VN: Escape to Utapao của Tác giả Ralph Westerhaan đã được đăng trên Tập san Air and Space/ Smithsonian Số Dec-Jan 1997.

… ‘ Vài ngày trước khi có cuộc di tản của KQVNCH ra khỏi Sài gon, Tướng KQHK Harry Aderholt, Chỉ huy trưởng Phái bộ Quân viện HK tại Thái Lan (MAC-Thai) đã gửi Đại úy KQ Roger L YoungBlood bay đến Phi trường Trat, nằm sát biên giới Thái-Miên. Bay trên một chiếc phi cơ AU-23 của Không lực Thái Lan (AU -23 là một phi cơ cải biến từ loại Pilatus PC-6, có khả năng đáp được xuống những phi đạo thật ngắn) YoungBlood bay vòng vòng trên không phận Thái Lan cùng một phi công phụ VNCH. Phi công phụ này giữ tần số vô tuyến và hướng dẫn các phi cơ VN bay về Utapao.’

Skyraiders A-1:

11 chiếc Skyraiders đã đến được Utapao, gồm 5 A-1E, một A-1G và 5 A-1H. Trong số này 7 chiếc thuộc Phi đoàn 514, 3 chiếc thuộc PĐ 518 và 1 thuộc PĐ 530:

Chiếc Skyraider A-1H, số hiệu 139606 thuộc PĐ 518 là chiếc Skyraider sau cùng bay khỏi VN đến Utapao, phi công đã chở cả gia đình ‘nêm’ chật cứng trong phòng lái (danh từ lóng của KQ Mỹ gọi đây là một hell hole).

Trên một chiếc A-1E, phi công (Th/tá Hồ văn Hiển PD 514) đã cất cánh, chở theo 15 người, nhét cứng trong..’blue room’. Tác giả Phi Long 51 trong bài ‘Chuyến bay định mệnh’ (trên Diễn đàn Cánh thép) ghi lại:

… ‘ Sáng 29/4, tôi trở lại Bộ chỉ huy Hành quân KQ sau 10 giờ và khám phá ra PĐ 518 đã cất cánh đi Cần Thơ. Tôi gặp Tr/tá NCP trong BCH và tìm phi cơ để đi. Do cơ trưởng Lợi huớng dẫn, chúng tôi tìm được một AD-5 (chiếc này có 2 chỗ ngồi lái và một phòng trống khoảng 3x4x3 feet cao ở phía sau ghế pilot). Phi cơ trang bị đầy bom đạn. Sau khi thay bình điện, phi cơ rời ụ và tuy quá tải cũng cất cánh được. Không liên lạc được với đài kiểm soát, phi cơ bay đi Cần Thơ xin đáp nhưng bị từ chối, sau đó đành bay ra An Thới (Phú Quốc), thả bớt bom xuống biển. Tại An Thới, phi cơ được bỏ bớt đạn đại bác, bị tạm giữ không cho cất cánh. Đến 10 giờ sáng, sau khi có lệnh đầu hàng, phi cơ bay đi Utapao cùng với 15 người trên phi cơ.

Số Skyraiders bị bỏ lại là 40 chiếc, trong đó 26 chiếc bỏ lại ở TSN.

F-5s:

Trong số 26 chiếc F-5s bay thoát khỏi VN (gồm 22 chiếc F-5E và 4 chiếc F-5A/B), có 2 trường hợp đặc biệt được Anthony Tambini ghi lại trong F-5 Tigers over Việt Nam:

Một chiếc F-5F (loại 2 chỗ ngồi), đã chở theo 4 phi công trong 2 phòng lái, bằng cách tháo bỏ các dù, hạ ghế xuống thấp hết mức, một phi công ngồi và phi công thứ nhì đứng khom lưng đối mặt, lưng dựa vào cockpit. Phi cơ cất cánh khi phi trường đang bị pháo kích. Lúc đầu, phi cơ định bay lên với hệ thống thắng để mở. Cảm nhận được tình hình không thể bay lên, phi công đã phải mở dù ‘drag chute) để làm chậm vận tốc, sau đó đóng hệ thống thắng để phi cơ bay lên được và bay đi Thái Lan. Tuy nhiên, có lẽ hệ thống thắng đã bị hư hại khi bị pháo kích nên không còn sử dụng được. Phi cơ đáp xuống một phi dạo thô sơ và chật hẹp. Không ngừng được nên đâm vào cây và phát nổ, gây tử thương cho cả 4 phi công (Th/tá Mai Tiến Đạt, Nguyễn Đức Toàn, Ngô văn Trung và Đ/úy Lê Thiện Hữu.)

Một F-5A khác, cất cánh với 3 phi công, cất cánh ngược hướng bay, bay qua đầu các phi cơ đang đậu trên phi đạo chờ đến lượt bay lên. Phi cơ đến được Utapao.

Số F-5 bị bỏ lại gồm 87 chiếc, trong đó có 27 F-5E

A-37s:

Gần 50 chiếc A-37 đã bị hủy diệt trong đợt pháo kich đêm 28/4 (xem phần trên) và Đ/tá Thảo (KĐ trưởng KĐ 33) đã cho lệnh tan hàng vào khoảng 8 giờ sáng 29.

Th/tá Ngô Đức Cửu đón được một L-19 và về đáp Trà Nóc (Cần Thơ). Tại đây ông trình bày tình hình của Bộ Tư lệnh KQ Sàigòn (đã bỏ ngỏ) và hướng dẫn các PĐ A-37 còn lại bay đi Utapao: … ‘Từ Bình Thủy đi Utapao, hướng 300, khoảng 45 phút là đến. Anh em nên lấy bản đồ ra kiểm soát lại và ghi các chi tiết tần số tower.’
10 giờ sáng 30/4 sau khi có lệnh ‘đầu hàng’, căn cứ Bình Thủy cũng tự động tan hàng. Bãi đậu phi cơ vắng lặng, không còn quân cảnh, không còn chuyên viên kỹ thuật.

… ‘tôi rất thán phục anh em A-37 Cần Thơ, có nôn nóng nhưng rất trật tự, có thể nói là lịch sự. Tôi lên tiếng vì nhu cầu, tất cả hoa tiêu A-37 phải rời VN, anh em bắt cặp lấy, mỗi phi cơ phải đi được 3 người, không dù không hành lý. Ngoại trừ phi công bay ghế trái phải đội helmet để liên lạc. Tất cả phi cơ phải bay ở 12 ngàn bộ, không cần dưỡng khí.’

Đa số bình điện của các phi cơ yếu, Th/tá Cửu và Th/tá Kim (Liên đoàn trưởng Kỹ thuật) đã dùng APU khởi động từng phi cơ theo thứ tự. Th/tá Cửu lên chiếc sau cùng rời phi đạo để hợp đoàn với gần 30 chiếc A-37, bay về hướng Utapao.

Đây có thể được xem là ‘chuyến di tản’ trật tự và ‘thành công’ nhất của KQ VNCH.

Ngoài ra, còn có một A-37 đáp xuống một xa lộ gần căn cứ KQ Korat, phía Bắc Bangkok, gần một trường học, bom đạn còn đầy dưới cánh và Tướng Aderholt đã phải gửi một Đ/úy phi công Mỹ đến để bay chiếc này về căn cứ Udorn.

Theo thống kê 27 chiếc A-37 đến được Utapao. 95 chiếc bị bỏ lại VN.

Phi cơ vận tải:

Tân Sơn Nhất là căn cứ tập trung của nhiều phi đoàn vận tải của KQVNCH. Cuộc di tản cũng rất hỗn loạn, nhiều phi cơ bị bỏ lại vì không có phi công, không người đổ xăng. Có những trường hợp phi cơ không cất cánh nổi do quá tải, hay do quá vội. Một số phi cơ vận tải đã bay được sang Utapao vì đã ở sẵn và cất cánh từ Côn đảo. Tất cả đều chở vượt quy định. Có những C-47 bay đến Utapao với cả trăm hành khách (bình thường chỉ chở 30 binh sĩ), bánh đáp bị gãy khi chạm đất.

Phi công Hungphan trong bài hồi ký ‘Những giờ phút sau Tinh Long 07’ ghi lại: Sáng 29/04/75

…’ Đồng loạt không ai bảo ai, chúng tôi tháo chạy về phia Không đoàn bộ (PĐ 437), bên cạnh là đại bản doanh của PĐ 435, chúng tôi đang ngơ ngác tìm nơi trú ẩn, thì thấy ông PĐ trưởng Tr/tá MMC bước ra, nhìn chúng tôi lên tiếng: ‘ Giờ này pilot quý lắm, ai ở phi đoàn nào về phi đoàn nấy.’ Chúng tôi im lặng rút sâu vào tầng dưới của SĐ bộ, thấy đủ mặt văn võ bá quan. T/Tá Vinh con 435, T/Tá Vinh Trô 437, Tr/Tá Dinh, Đ/úy Chư… đã có mặt từ lúc nào, gần giống một cuộc họp của Không đoàn.

Không biết thời gian nặng nề dai dẵng này kéo dài bao lâu, thỉnh thoảng có tiếng pháo kích như để phá tan bầu im lặng. Tiếng pháo vẫn vang lên bên ngoài, bỗng có tiếng điện thoại reo trên lầu, rồi im lặng. Tất cả khuôn mặt không dấu vẻ lo lắng đợi chờ. Tình hình căng thẳng, khoảng mười phút sau, tiếng chuông điện thoại lại reo lên. Chưa hết tiếng reo đột nhiên có tiếng của ai đó hét to: “Ra xe (chưa ai nghe điện thoại).” Không ai bảo ai, chúng tôi chạy nhanh lên xe.

Tôi cũng nhảy lên một chiếc Step van. Chạy được một quảng, 4, 5 anh phòng thủ với súng ống đầy mình, chạy ra chận xe lại. Có tiếng trong xe la lớn: ‘ĐM, lên xe luôn, giờ này mà chặn cái gì?’ thế là thêm đông. Đến parking, tôi chạy về chiếc GZA 027, Herky 027 mà tôi biết tàu tốt vì tôi mới bay về tối hôm qua. Trên phòng lái, có độ 10 ông pilot C-130 !!! Phí thật.

Chỉ một phút sau, chúng tôi take-off. Hai phút sau đã lên cao độ an toàn (T/Tá Nhân nhẩy vào ghế pilot thay Đ/úy Chuân, ngồi co-pilot là Tr/Tá Đinh).

(14 chiếc C-130 bị bỏ lại, 9 chiếc đến được Utapao, ngoài ra còn 1 chiếc đã đào thoát sang Singapore từ khoảng đầu tháng 4)

Tác giả ‘Không quân liệt lão’ trong bài ‘Giây phút não lòng’ (xem phần trên) ghi tiếp:

… “Thảo bảo tôi: “Mình ra khu trực thăng, moa thấy nhiều lắm, đậu phía gần phi đạo hướng Bà quẹo đó.” Đến khu trực thăng, lên chiếc nào mở máy cũng không nổ, tàu nào cũng khô ran (Tướng Tiên cho lệnh rút xăng khỏi tàu vì sợ các phi công… tự động tan hàng). Chọn trực thăng không xong, Thảo Nâu chở tôi trên jeep đi tìm Cessna. Gặp Cessna, Thảo leo lên, bảo tôi ngồi ghế phài. Thảo quay máy, máy nổ. Bỗng nhiên con tàu xao động dữ dội. Quan quân ở đâu đông thế đang dành nhau leo lên tàu. Cessna chỉ có 5 chỗ, làm sao chở nỗi cả chục người. Không ai chịu xuống.

Tôi tự quyết định, nhường chỗ, mở cửa buớc xuống leo lên jeep để lái đi. ,có QC Vân cùng bỏ Cessna lái đi..tìm xem còn chiếc nào để quá giang..

Trên đường rời khỏi SĐ 5KQ, ngang qua văn phòng Tư lệnh phó SĐ, thấy có ánh đèn, cửa mở, tôi đậu xe bước vào.. Gặp Đinh thạch On ngồi thẫn thờ sau bàn giấy..Tôi hỏi:

– On, sao còn ngồi đây? Tât cả bỏ đi hết rồi, anh cũng đi đi thôi.
On như người mất hồn: “C-130 tụi nó lấy trốn cả rồi.”
Tôi nhắc: “Còn C-47 mà.” On thở dài: Đã lâu lắm, tôi không lái C-47.

.. Sau khi ngồi chờ ông On lôi quyển kỹ thuật C-47 ra ‘ôn bài’, cả đám đi tìm C-47 để chạy. Đến bãi đậu, các phi cơ đều bất khả dụng: hoặc không xăng, hoặc bị trúng đạn pháo kích. Đang tuyệt vọng, cả đám tìm được một C-47 đang nằm trong hangar. khóa kín..Đó là chiếc phi cơ riêng của Tư lệnh Vùng II. Sau đó có thêm Đ/úy Qui chạy đến. Phi cơ chở đến gần 80 người cộng theo thiết bị linh tinh… cố gắng cất cánh… sau cùng đến được Utapao.

Nhóm của BS Phạm gia Lữ (xem phần trên) sau đó đến phi đạo C-47 để tìm máy bay di tản, có chiếc không khởi động được do bình điện yếu. Chiếc DC-6 ‘Bình Long Anh Dũng’ tuy nằm cạnh nhưng được canh giữ. Sau đó tìm được chiếc C-47 của Tư lệnh KQ, Kh bắn bể khóa. Tất cả leo lên tàu để bay ra Côn sơn. Sau những trục trặc như không có bản đồ phi hành, phi cơ hết dầu thắng (tìm được 2 gallon nơi đuôi phi cơ), phi cơ đáp được xuống Côn Sơn. Th/tá Khoa bay thêm một chuyến trở lại Saigon (TSN đã bỏ ngỏ) để đón thân nhân và bay lại ra Côn Sơn. Dùng nón sắt để chuyển xăng, phi cơ đã bay đi Utapao sáng 30/4 khi DV Minh ra lệnh đầu hàng.

Tác giả Nguyễn Cao Thiên trong bài ‘PĐ 314, Chuyến bay không phi vụ lệnh ‘(Đặc san Liên khóa 64SVSQ, 2009) ghi lại một số chi tiết mô tả tình trạng hoảng loạn, vô trật tự tại TSN khi phi trường bị pháo kich. Sau khi PĐ phó Tấn từ KĐ trở về cho biết ‘Trên đó có ai đâu ? vắng hoe ?’.. Mạnh ai nấy chạy tự tìm phi cơ để bay đi. Có phi cơ cất cánh quá vội, quên cả gỡ kẹp đuôi nên rơi ngay tại phi trường. Chiếc C-47 của PĐ 314 bay đến Utapao với trên 40 người.

(16 chiếc C-47, đủ loại kể cả EC, AC đến được Utapao. 38 chiếc bỏ lại.)

Ngoài ra cũng có 3 AC-119 và 6 C-7A Caribou đến Utapao, 37 chiếc AC-119 cùng 6 chiếc C-119 vận tải bị bỏ lại. Số Caribou lên đến 33 (trong tình trạng đình động)

Tại Utapao còn có:

– 14 chiếc Cessna U-17 Skywagon

– 12 chiếc UH-1

– 3 chiếc O-1 Bird dog

Bảng tổng kết của HK ghi nhận: số phi cơ của KQVN bỏ lại còn có 434 chiếc UH-1, 114 chiếc O-1, 32 chiếc CH-47 Chinook và 72 phi cơ các loại khác gồm U-17, O-2A, T-37, T-41 và cả U-6 Beaver..
Bay ra biển:

Các phi cơ trực thăng (UH-1 và Chinook) khi tự động tan hàng, đa số tìm đường thoát bằng cách bay ra biển để đáp xuống bất cứ tàu bè nào đang di chuyển ngoài khơi: đáp trên chiến hạm Mỹ, nếu có chỗ đáp là tốt nhất, đáp trên chiến hạm VN và trong tình trạng ‘bi thảm ‘nhất’ là đáp xuống biển, phi công tự thoát, nếu may mắn sẽ được tiếp cứu và vớt lên tàu.

Trường hợp đặc biệt nhất được ghi vào lịch sử KQ và HQ Hoa Kỳ là trường hợp đáp của một L-19 chở đầy ‘hành khách’ trên Hàng Không Mẫu hạm..

Sau đây là một số trường hợp được kể lại trong các bài hồi ký:

Phi đoàn Thần Tượng 215

Khoảng 10 giờ sáng 29/4, bộ chỉ huy Phi đoàn 215 đã dùng 3 trực thăng để ‘di tản ‘về Côn Sơn. Trên các trực thăng có Phi đoàn trưởng (Tr/tá Khưu văn Phát), PĐ phó (Th/tá Đức) và các phi đội trưởng. Tuy nhiên do hết xăng nên cả 3 chiếc sau khi gặp tàu chở dầu của hãng Shell đã cố gắng thả người (nhảy từ máy bay xuống sàn tàu từ cao độ chừng 3 m) và phi công còn lại sau cùng đã đáp xuống biển, bơi thoát khỏi chiếc phi cơ đang chìm và được canô vớt. Cả 3 phi công (Đ/úy Chín, Đ/u Vĩnh và Th/tá Lương) đều được an toàn. (Vĩnh Hiếu: Phi đoàn Thần tượng Giờ thứ 25)

Phi đoàn Lôi Vũ 221:

Phi đoàn di tản từ Biên Hòa về TSN trong đêm 27/4, khi phi trường bị pháo kích. Chiều 29/4, Tr/Tá Nguyễn văn Trọng, PĐT tuyên bố giải tán phi đoàn. 13 trực thăng của phi đoàn bay được ra hạm đội HK. Trong đoàn di tản còn có Đ/tá Phước, Đ/tá Vy (Sư đoàn phó SĐ 1 KQ) (Tâm tư Lôi Vũ -52, Van Nguyên).

Phi đoàn Lôi Thanh 237 (Chinook CH-47)

Ngày 29/4, lúc 4 giờ sáng, 4 trực thăng Chinook CH-47 đậu song song với nhau trước phi cảng Hàng Không dân sự. Các nhân viên phi hành chờ quyết định của Th/tá Nguyễn văn Ba, Phi đoàn phó, nhưng ông vẩn trì hoãn chờ PĐ trưởng (Tr/tá Ch.) còn đang kẹt ở Biên Hòa. Các sỉ quan tham mưu của PĐ đều vắng mặt. Sau đó, ông quyết định di tản 4 phi cơ khả dụng đi Vũng Tàu. Khi 4 phi cơ vứa đáp xuống Vũng Tàu thì phi trường này cũng vừa bị pháo kích. Chỉ 3 phi cơ bay về Cần Thơ, một chiếc đã tự tách khỏi hợp đoàn. Ba phi cơ đáp xuống Mỹ Tho, 1 bay trở lại Sàigòn để đón gia đình Khi trở lại Mỹ Tho, phi cơ bị trục trặc nên đành bỏ lại nơi bờ sông. Hai chiêc còn lại cất cánh lúc 2 giờ trưa, bay ra hạm đội HK, thả người xuống chiến hạm Kirk và phi công ‘ditching’ để sau đó được vớt (Chuyến bay cuối cùng – Nguyển văn Ba – Lý Tưởng Úc châu, số kỷ niệm Ngày Không Lực 1-7-2011)
O-1 Birđ Dog (L-19) đáp trên Hàng Không Mẫu hạm:

Một trường hợp đặc biệt nhất của cuộc di tản, được ghi vào quân sử Hoa Kỳ, phi cơ hiện được lưu giữ tại viện bảo tàng là trường hợp dùng L-19 đáp xuống Hàng không Mẫu hạm Midway của Thiếu tá Lý Bửng, Sĩ quan trưởng phòng hành quân của PĐ Sao Mai 114/ KĐ 62 CT/ SĐ 2 KQ.

Việc O-1 đáp trên Hàng không Mẫu hạm đang di chuyển là chuyện không thể tưởng tượng nổi, ngay cả với các phi công Hoa Kỳ và những chuyên viên thiết kế máy bay của hãng Cessna.
Điều gây ‘kinh ngạc’ hơn nữa là trên phi cơ còn có thêm 6 người (vợ và 5 đứa con) ngồi chật cứng trên ghế sau.
Phi công Lý Bửng kể lại như sau (Chuyến bay về vùng tự do của KQ Lý Bửng- Đặc san Lý Tưởng số 02/2010):

… ‘Sáng 29/4, tôi, Hường, và Nhị cùng bay chiếc O-1 này ra Côn Sơn. Vợ con tôi đã ra Côn Sơn bằng phương tiện trực thăng trước, hình như của PĐ 215. Chiếc O-1 này tình trạng máy tốt, chỉ có vô tuyến là không hoạt động được. Tôi cất cánh từ TSN trong lúc phi trường đang bị pháo kich. Chúng tôi quyết định bay ra Côn sơn vì không rõ tình hình Cần Thơ. Đêm nghỉ tại Côn Sơn, chúng tôi chưa biết chắc sẽ đi Thái Lan bằng phi cơ gì. 
Sáng 30/4, có lệnh đầu hàng. Tôi sắp xếp cho tất cả anh em PĐ 114 trật tự lên các C-123 và C-130 đi Thái Lan. Tôi và gia đình dự trù sẽ đi chiếc C-123 sau cùng nhưng chiếc này bị hư không cất cánh được. Khoảng 130 người còn lại đành chờ tàu HQ. Cảnh tượng xuống tàu rất hỗn loạn. Tôi quyết định dùng chiếc O-1 mà tôi đã bay ra Côn Sơn hôm qua để chở cả gia đình để bay đi nhưng chưa biết đi đâu? Trời rất xấu, mưa mù mịt, tôi bay rase motte trên mặt biển, khoảng từ 500 đến 700 bộ. Trong lúc bay, tôi thấy nhiều trực thăng bay ra biển, tôi cũng lấy hướng bay này cho đến khi thấy chiếc hàng không mẫu hạm.

Chiếc O-1 bị hỏng hệ thống vô tuyến nên tôi không thể liên lạc được với ai. Tôi dùng phương thức bay qua đài kiểm soat của chiến hạm, lắc cánh để cho biết hệ thống vô tuyến bị hỏng và xin đáp. Dưới mẫu hạm bắn hỏa pháo đỏ liên tiếp ra dấu cho biết là họ không chấp thuận cho hạ cánh có lẽ vì không còn chỗ ? Tôi lấy bản đồ, giấy tờ trong máy bay viết chữ xin hạ cánh vì phi cơ còn có vợ con và buộc vào botte để thả xuống sàn tàu. Sau đó nhân viên trên tàu xô một số trực thăng xuống biển và dọn các trực thăng khác để lấy chỗ cho tôi đáp. Phi đạo họ dành cho cho tôi đáp là cạnh ngắn, khoãng 150 feet…’

Sau một lần đáp thử để ước lượng các thông số kỹ thuật, như gió ngang, sự di chuyển của mẫu hạm. Phi công Lý Bửng đã đáp thành công xuống Mẫu hạm Midway trước sự kinh ngạc và thán phục của nhân viên thủy thủ trên tàu.

Trong ‘chiến dịch di tản’ Frequent Wind’:

Hàng không mẫu hạm Midway đã tiếp nhận khoảng 60 trực thăng của KQ VNCH, trong đó có chiếc UH-1 của Tướng Kỳ và cả vài trực thăng của Air America..

Chiến hạm USS Kirk, trong thời gian yểm trợ đoàn tàu di tản của HQ VNCH đã là nơi đáp cho 16 chiếc trực thăng của KQ VNCH. Sàn đáp của chiến hạm chỉ dành cho một trực thăng nên sau khi đáp, trực thăng phải đẩy xuống biển để lấy chỗ cho chiếc kế tiếp. Ngoài 16 chiếc UH-1, còn có 1 Chinook sau khi thả người trên sàn đáp đã phải đáp xuống biển, phi công được cứu thoát. Số người trên các trực thăng đáp xuống USS Kirk lên đến gần 200 người. USS Kirk chở được về Subic Bay 3 chiếc UH-1.

Các chiến hạm khác như Blue Ridge, Mobile (LK 115) đều tiếp nhận các trực thăng của KQVN.

Tài liệu của Air America ghi nhận một số trường hợp các phi công VN dùng súng ‘tạm mượn’ phi cơ của Air America để bay ra Hạm đội Hoa Kỳ: Chiếc UH-1H (69-16715) của Air America màng dấu hiệu ICSS (Ủy Ban Liên hợp 4 bên) đã do phi công VN bay ra đáp tại Chiến hạm Blue Ridge trưa ngày 29/4. Tất cả có 6 chiếc trực thăng bị phi công VN “mượn tạm”, trong đó 5 chiếc loại UH-1 và một chiếc Bell 204B (?), chiếc Bell này sau đó đáp trên USS Kirk. (Air America in South Viet Nam: The Collapse. Tác giả Joe Leeker)

Số phận những phi cơ… đến được Utapao:

Ngay khi các phi cơ của KQ VNCH đáp xuống Utapao, vừa ngừng bánh, tắt máy, các nhân viên phi đạo lập tức sơn lại cờ chuyển từ VNCH sang thành máy bay của Hoa Kỳ. Người Thái Lan không muốn ‘chứa chấp’ những người Việt vừa phải bỏ nước ra đi nên HK đã phải lập cầu không vận, dùng các C-141 để đưa người tỵ nạn sang Guam.

Một trục trặc nhỏ đã xẩy ra: 65 người, tất cả trên cùng một chuyến C-130 đến Utapao đã đòi trở về VN. Dưới sự lãnh đạo của Tr/úy Cao van Le (?), những nhân viên KQVN này khi bay khỏi TSN, không biết là họ sẽ phải biệt xứ trong khi gia đình còn kẹt lại tại VN… và dọa sẽ tự tử nếu không được như ý. Một Đại tá KQVN và một Tuyên úy quân đội HK đã giúp điều đình để giải quyết vấn đề, chỉ còn 13 người cương quyết đòi về. Sau cùng cả 13 người đã được chích thuốc ngủ để đưa lên C-141 đi Guam.

CSVN đã lên tiếng đòi hỏi chủ quyền về những máy bay tỵ nạn tại Thái. Hà Nội đã đòi đưa một phái đoàn đến Thái để kiểm kê các phi cơ. Chính quyền Thái do áp lực của Hà Nội đã đòi’ tạm giữ’ các máy bay đang ở Utapao. 
Tướng Aderholt cho biết’ các phi cơ này thuộc quyền sở hữu của HK theo một điều khoản có ghi trong Thỏa ước Viện trợ Quân sự Mỹ-Việt’ nhưng chưa chắc Thái Lan đồng ý nên ông tìm cách chuyển các phi cơ khỏi Thái càng nhanh càng tốt. Trước hết, Aderholt ‘tặng’ cho Tư lệnh KQ Thái Lan 5 chiếc F-5 để mua chuộc giới quân sự Thái (Thật ra Aderholt không có quyền nhưng trước chuyện đã rồi, HK khó lấy lại được 5 phi cơ này). Khi Hàng không mẫu hạm Midway ghé một căn cứ HQ Thái Lan gần Utapao ngày 5/5, khoảng 140 phi cơ đủ loại đã được chở ra khỏi Thái Lan (trong số này có lẽ gồm cả một số phi cơ, trong tổng số 93 chiếc của Không lực Kmer đã bay sang Thái khi Nam Vang thất thủ). Bốn chiếc Skyraiders được Aderholt cho bay đi, cất giấu tại Căn cứ Takhli. Mẫu hạm Midway đã chở về Guam 101 phi cơ của KQVN, trong đó có 21 chiếc F-5E.

Theo ‘Escape to Utapao’ một chiếc C-123K được đưa ra khỏi Thái (số đuôi 54-00592). Chiếc này hiện ở Phi trường Avra Valley và không ai biết về trường hợp này. (Theo danh mục trong Flying Dragons trang 164 thì chiếc này của KQVN)

Tài liệu của Hải Quân Thái Lan ghi nhận: Trong danh mục phi cơ thuộc HQ Thái Lan có một số phi cơ ‘cũ’ của KQVN như:

– C-47A (43-48101, VNAF)

– VC-47D (43-48777, VNAF ‘EY’

– AC-47D (43-49095, VNAF ‘EK’

– RC-47 (43-49701, VNAF) và (43-49925, VNAF ‘EF’) và (44-76418, VNAF ‘EB’)

– EC-47 P (45-1044, VNAF ‘WA’)

Ngoài ra còn 3 chiếc U-7 mang các số đuôi 71-1438; 71-1442 và 7-1455 được ghi là VNAF(?)
Trần Lý
(tháng 4/2012)

Chiến dịch Hồ Chí Minh và ngày 8 tháng tư năm 1975

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Không có mô tả ảnh.

Ngày 8 tháng 4 năm 1975, tại Lộc Ninh, Bộ Chỉ huy Chiến dịch Giải phóng Sài Gòn – Gia Định được thành lập với thành phần: Tư lệnh: Đại tướng Văn Tiến Dũng, Chính ủy: Phạm Hùng, các Phó Tư lệnh: Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Lê Đức Anh, Trung tướng Đinh Đức Thiện, Quyền Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền, sau đó bổ sung Trung tướng Lê Trọng Tấn làm Phó Tư lệnh và Trung tướng Lê Quang Hòa làm Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị. Có hai nhân vật lãnh đạo không phải là quân nhân tham gia là các ông Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt.


Ngày 14 tháng 4, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam gửi Bức điện số 37/TK cho Bộ Chỉ huy Chiến dịch Giải phóng Sài Gòn – Gia Định: “Đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh”.

Sau khi đã hoàn thành công tác chuẩn bị và tập trung một khối lượng rất lớn lực lượng và phương tiện trong thời gian ngắn nhất ở vùng kế cận Sài Gòn, chiều 26/4, chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn. Từ năm hướng các quân đoàn đồng loạt tiến công Sài Gòn.

Từ 26 đến 28/4, quân ta đã chọc thủng tuyến phòng ngự vòng ngoài, đập tan sự kháng cự của các sư đoàn địch, tiếp cận Sài Gòn. Địch bị rối loạn hoàn toàn về chiến lược. Từ chiều 28/4, các cánh quân ngụy không còn nhận được lệnh từ Tổng hành dinh và các tướng chỉ huy nữa vì đã tháo chạy ra nước ngoài.

Chiều 28/4/1975, Trần Văn Hương từ chức Tổng thống VNCH, tướng Dương Văn Minh lên thay. Tối 28/4/1975, Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh ra lệnh tổng công kích trên toàn bộ mặt trận.

Vào sáng ngày 29/4, các cánh quân của ta cùng tiến vào trung tâm Sài Gòn.

5 giờ sáng ngày 29/4/1975, các cánh quân của ta từ nhiều hướng đồng loạt đánh vào Sài Gòn. Với ưu thế áp đảo, quân ta ào ạt tiến công vừa bao vây tiêu diệt và làm tan rã bọn địch còn lại ở vòng ngoài, vừa nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm 5 mục tiêu đã định ở bên trong.

Sáng 30/4, Quân đoàn 1 đã chiếm được trung tâm hành quân Bộ Tổng tham mưu và khu Bộ Tư lệnh các binh chủng VNCH. Quân đoàn 3 chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và nhà làm việc của Bộ Tổng tham mưu VNCH. Quân đoàn 4 chiếm Bộ Quốc phòng VNCH và Cảng Bạch Đằng, Đài Phát thanh. Đoàn 232 chiếm Biệt khu Thủ đô và Tổng nha Cảnh sát VNCH.
Quân đoàn 2 chiếm Dinh Độc Lập, bắt gọn toàn bộ nội các mới của VNCH, kể cả Tổng thống Dương Văn Minh (vừa nhậm chức ngày 28/4).


Trên sóng phát thanh, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Đúng 11 giờ 30 ngày 30/4/1975, cờ Cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc lập, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch. Từ đây, đất nước thống nhất, non sông liền một dải sau 30 năm chia cắt.

Đằng sau những bức ảnh

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://phanba.wordpress.com/2019/01/01/dang-sau-nhung-buc-anh/

LTS – Vì tôn trọng sự thật nên THS2018 đăng bài viết này để trả lời một số tin tức sai sự thật đang đăng trên mạng nhân ngày 30 tháng tư sắp đến.

Tuyên truyền của chế độ cộng sản độc tài làm cho nhiều người mất cả khả năng tư duy độc lập, làm cho con người không còn cảm thấy thiếu những thông tin không bị kiểm duyệt hay thông tin trái chiều nữa. Một ví dụ điển hình là tấm ảnh của Larry Burrow mà tạp chí LIFE đăng trong số ra ngày 13 tháng 1 năm 1967, chụp ảnh một người lính Mỹ dường như đang đứng xem một người mẹ trẻ cho con bú.

Larry Burrow, LIFE số ra ngày 13 tháng 1 năm 1967

Tuyên truyền cộng sản mang tấm hình đó gắn kết vào câu chuyện của một người du kích Nguyễn Thị Tư được cho là chết năm 1972. Tấm hình trên được cho là chụp “trước khi đem Nguyễn Thị Tư ra xử bắn”. Vậy mà vẫn có không biết là bao nhiêu người tin. Tại sao bạn không tự hỏi, ông phóng viên người Mỹ ấy có mặt lúc “đem Nguyễn Thị Tư ra xử bắn” mà lại chỉ chụp có mỗi tấm hình ấy thôi? Sau lúc mang đi bắn và sau khi bắn lại không chụp một tấm nào? Mà quân đội làm gì được phép bắn chết thường dân? Vì như thế là tội phạm chiến tranh! Giả sử mà Nguyễn Thị Tư bị bắn chết thật và có mặt một phóng viên Mỹ ở đó, thì sự việc sẽ rùm beng cả thế giới. Thế nhưng thế giới… có biết gì đâu.

Larry Burrows (1926-1971) was born in London to a hardworking railway employee, and as Larry’s Britishness never waned, neither did his industry. Early on as he was learning his craft, he thought nothing of repeating an entire day’s work to get the job done right. Time spent in the museums of Europe served him well, honing his own artist’s eye—and a masterly appreciation for color—for his life’s work: the battlefield. From Suez to Lebanon, Cyprus to the Congo, he became versed in the cruelties of war. Then, in 1962, he began nine years of documenting a beautiful land seized by war: Vietnam. His images are nothing short of timeless. “One Ride with Yankee Papa 13” has been called perhaps “the greatest photo-essay ever made.” After Burrows’s death, LIFE Managing Editor Ralph Graves stated, “I do not think it is demeaning to any other photographer in the world for me to say that Larry Burrows was the single bravest and most dedicated war photographer I know of.”

Sự thật, như trong bài phóng sự đã viết, đây là con gái của một người thu thuế cho Việt Cộng (“cán bộ kinh tài”), thường hay đi theo cha để tống tiền người dân thường trong làng. Cô ta bị lính canh chừng và rồi bị giữ lại để tra hỏi. Sự việc hoàn toàn không dính líu gì tới một cô Nguyễn Thị Tư năm 1972 cả.

Một tấm hình khác nổi tiếng hơn rất nhiều là tấm hình của Nick Út chụp Kim Phúc, bức ảnh “em bé napalm”. Đây là một vụ ném bom nhầm lẫn hết sức tai hại. Nhưng ít người nào nghĩ thêm một ít. Tại sao Việt Cộng lại chiến đấu ở sát cạnh làng dân thường như vậy. Nếu thật sự thương yêu đồng bào vô tội, tại sao lại không “đánh Mỹ” ở một nơi cách xa làng dân? Hay việc núp trong làng bắn ra khiêu khích quân đội Mỹ là một chiến lược của Việt Cộng? Khiêu khích, vì biết chắc rằng người Mỹ sẽ phản ứng bằng bom máy bay và đạn đại bác tàn phá ngôi làng ấy và rồi việc đó sẽ làm cho người dân thêm “căm thù Mỹ Ngụy”? Có phải là Việt Cộng thí mạng người dân vô tội để thực hiện chiến lược, chiến thuật của mình hay không?

Trong giây phút hoảng loạn gần kề cái chết đó, tại sao em Kim Phúc tuân theo bản năng chạy về phía Quốc Gia? Tại sao không chạy về phía Cộng sản? Có phải vì bản năng biết rằng chạy về phía Quốc gia sẽ được cứu giúp hay không?

Và nói chung, suốt thời gian mấy chục năm chiến tranh, cho tới giờ phút cuối cùng, Việt Nam Cộng Hòa co cụm về tới đâu thì người dân chạy theo về tới đó. Sau “Mùa Hè đỏ lửa” 1972, sau Hiệp định Paris 1973 là đã có những “vùng giải phóng” khá rộng lớn. Tại sao người dân thường không đi tìm sự che chở ở đó vậy? Có bao nhiêu người đi vào những “vùng giải phóng” so với hàng triệu con người chạy theo bên Quốc Gia?

Hãy tự đặt ra câu hỏi cho mình! Hãy hoài nghi những thông tin được tung ra từ một phía! Khi bạn bắt đầu tự hỏi rằng việc này hay việc kia có đúng như thế không tức là bạn đã thoát khỏi cơn ảo mộng rồi đó!

Phan Ba

Đọc thêm về vụ bức ảnh “Em bé Napalm”: Toàn bộ câu chuyện của em bé napalm

Chiến lược khủng bố của Việt Cộng: https://phanba.wordpress.com/2018/12/09/khung-bo-la-mot-chien-luoc-cua-viet-cong/

Đà Nẵng những ngày cuối tháng Ba 1975!

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Bác sĩ Phùng Văn Hạnh

Sau khi thỏa hiệp Paris ký kết, Mỹ xuống thang chiến tranh. Dân sự bị thương cũng giảm. Các bác sĩ AMA giảm dần. Ban mê Thuột rồi Pleiku mất. Cao nguyên di tản. Quảng trị, Thừa thiên mất. Những ngày cuối tháng ba, 1975, Đà- nẵng đầy người chạy giặc. Cộng sản có biết tại sao mà lắm người sợ họ thế?

Ông bác tôi đã từng nếm mùi trại giam cộng sản, đã đứng tim chết khi nghe cộng sản trở lại. Cha tôi cũng thế. Lính khắp nơi ùn về đầy đường.

Tôi gặp một tiểu đội Địa phương quân. Họ vẫn còn kỷ luật lắm. Anh tiểu đội trưởng đi đầu, súng mang trên vai. Các đội viên đi hàng một, mũi súng chúc xuống đất. Chắc họ từ một đồn nhỏ ở ngoại ô vào thành phố. Mắt họ buồn và sợ sệt. Họ đi mất hút ở cuối đường. Có súng nổ lẻ tẻ. Xe tăng, súng ca-nông bỏ lại trên đường phố. Dân sự di tản từ Quảng Trị, Huế, Quảng Tín, Quảng Ngãi, ngủ trên lề đường.

Một thiếu phụ gia tài chỉ là đôi thúng gánh trên vai. Trong mỗi thúng là một em bé 2 đến 4 tuổi. Rất nhiều gia đình đã đi bộ vượt đèo Hải vân 20 km đường dốc núi. Bên Sơn Chà xe nhà binh nghẹt đường. Ngoài bờ biển, bến cảng mọi người ùn ra tìm ghe để có thể ra tàu lớn đậu ngoài khơi. Gia đình tôi lên phi trường.

Lúc gần đến, gặp cả đoàn xe cộ của một ông tướng sư đoàn cũng chạy giặc, phải tránh ra bên đường, nhường cho họ qua. Ngay cổng phi trường, xe dân sự sắp hàng dài hai bên đường. Chỉ đi bộ vào cổng. Một ký giả ngoại quốc chận tôi lại phỏng vấn. Tôi đã nói gì, bây giờ chẳng nhớ. Song một người bạn ở Thụy sĩ lúc đó có thấy tôi xuất hiện trên truyền hình. Máy bay hàng không dân sự đã ngừng bay. Một nhóm người thiện chí đứng ra liên lạc với Saigon. Họ tổ chức ra máy bay trong trật tự. Có hai chuyến cất cánh suông sẻ.

Song Việt cộng bắt đầu pháo kích vào phi trường. Mọi người tìm chỗ núp, rồi ùn ùn rời phi trường vì Saigon cho biết là máy bay không ra nữa. Chúng tôi đi bộ về nhà. Nửa đường gặp xe của một nha sĩ bạn. Anh ta chở gia đình tôi về đến nhà. Súng lính vất lại, nghẹt cả đường cống sâu trước nhà. Vào nhà, vợ tôi chia cho mỗi đứa con một xách áo quần và một ít tiền. Tất cả quì xuống trước bàn thờ Chúa. Nhà tôi dặn: “đang loạn lạc như thế nầy, chúng ta có thể bị ly tán. Nếu may ra các con đi chung với nhau, nhớ đứa lớn che chở đứa bé. Anh em nhớ yêu thương nhau”.

Thấy cảnh đau lòng, tôi rời nhà lên bệnh viện, định phi tang những bài viết chống cộng mà tôi bỏ lại ở văn phòng, trong ấy có một bài đả kích Hồ chí Minh. Vào hành lang, thấy người ta nằm la liệt. Kẻ thủng bụng, ruột lòng thòng. Người bể đầu, gảy tay chân, băng quấn sơ sài, đẫm máu. Một bạn giáo sư trung học, ôm chầm lấy năn nỉ:

“vợ tôi bị bắn thủng ruột đã 6 giờ rồi, chưa được ai chăm sóc”. Lúc ấy nhà thương không còn một bác sĩ nào cả. Tôi ghé văn phòng làm việc trống trơn, huỷ diệt bức thư điều trần, đưa kế sách cứu miền Nam, và những bài báo chống Cộng do tôi viết. Tôi xé nhỏ, bỏ vào nhà cầu và dội nước. Xong tôi vào khu giải phẫu. May sao nhân viên còn tại chỗ một nửa. Tôi cho mang vợ người bạn vào mổ.

Sau đó các ca khác lại tuần tự mang vào. Chiều hôm đó BS Phạm văn Lương vào phòng mổ thăm tôi. Tôi hỏi sao không lo trên BV Duy Tân mà xuống đây. Ông y tá trưởng nói nhỏ vào tai tôi là BS Lương nay làm thị trưởng, đi thị sát BV toàn khoa đó. Sau nầy tôi mới biết là BS Lương được tỉnh hội Phật Giáo đưa lên làm thị trưởng Đà-Nẵng trong những ngày cuối tháng ba, 1975(đài BBC có loan tin).

Một mình mổ đến chiều hôm sau thì ông y tá trưởng gỏ cửa phòng mổ và nói: “có ông sĩ quan cách mạng nói bác sĩ hãy ngừng mổ cho dân sự, và mổ cho các chiến sĩ cách mạng bị thương”. Hởi ôi, thế là cộng sản đã vào thành phố! Tôi nói với ông y tá trưởng là cứ ca nào nặng thì đem vào trước, không phân biệt dân sự, cách mạng. Đó là va chạm đầu tiên mà sau nầy tôi bị kiểm điểm là có lập trường nhân đạo chung chung, không có quan điểm cách mạng. Chừng 10 ngày sau, thì các bác sĩ cách mạng ở trên núi xuống tiếp thu bệnh viện. Lúc đó các ca cấp cứu đã giải quyết xong. Cả khu giải phẩu nhận giấy khen của Ủy ban quân quản Đà-nẵng là đã có công trong sự ổn định y tế thành phố.

Các bác sĩ bị kẹt lại dần dà đến nhận việc và được gọi là lưu dung. Xưa kia đi làm hơi tùy tiện vì đôi khi phòng mạch tư nhiều khách. Nay ai đến cũng đúng giờ. Bắt đầu là giao ban, toàn thể bác sĩ họp lại với bác sĩ giám đốc để trình bày phiên trực ngày hôm trước, nghe chỉ thị mới và phê bình những thiếu sót nếu có. Cách làm việc nặng phần trình diễn, phí phạm thì giờ. Sau giao ban, đi khám bệnh phòng rồi đi mổ những ca lên chương trình từ cuối tuần trước.

Có điều đặc biệt là bác sĩ cách mạng chuồn đâu mất lúc 10 giờ sáng. Tìm không ra. Sau nầy hỏi ra mới biết đó là thói quen đã có tự ngoài Bắc. Vì sáng không ăn, hoặc ăn ít nên 10 giờ đói, phải tìm chỗ kín nằm nghĩ. Có một bác sĩ thuốc mê đã được đào luyện ở Tiệp khắc, được nhân viên phòng mổ cho ăn xoài. Anh ta trầm trồ khen ngon hết lời vì chưa bao giờ nếm thứ trái cây ngon như thế. Một anh khác kể là ngày Tết được chia bồi dưỡng một gói tiêu nhỏ. Về nhà rủi làm đổ. Phải thắp đèn lên kiếm từng hạt. Họ nói ở ngoài Bắc nghe tuyên truyền là trong Nam cực khổ lắm. Bây giờ mới tỉnh ngộ. Vào Saigon chơi về, họ khoe là như ra ngoại quốc. Nói là phồn vinh giả tạo, song toàn là đồ thiệt đẹp và tốt.

Những ngày đầu tháng tư, 1975, các bác sĩ VC trên núi về, tiếp thu TTYTTK Đà-Nẵng và Bệnh viện Đức. Họ chỉ lo về hành chánh, chứ chuyên môn thì đợi các bác sĩ Hà-Nội vào. Về giải phẫu thì họ chỉ đứng xem Vài người tỏ ra hiếu học, vào phụ mỗ với các bác sĩ lưu dung. Tôi nhớ có Bác sĩ cấp bực Đại úy, vào phụ tôi để tái tạo một ống chân vỡ nát vì mìn. (Hắn ta là bác sĩ riêng cho thầy cũ Tám Trinh, nay đổi tên Nguyễn xuân Hữu, Phó bí thư đảng bộ Liên khu V. Phải mất ba giờ và nhiều cố gắng mới giữ được cái chân. Cuối ca mỗ, đáng lý nói: ca nầy khó ác liệt, tôi tự nhiên buông câu nói theo thói quen: ca nầy khó ác ôn côn đồ Việt Cộng. Anh ta nhìn tôi không nói gì. Các y tá quanh tôi đều sững sốt. Không biết anh ta có báo cáo gì không. Song sau nầy không thấy ai nhắc đến chuyện đó.

Trong suốt hơn một năm làm việc với CS, tháng ngày cũng qua nhanh, vì rất bận rộn. Những ngày đầu, mổ liên miên để giải quyết xong nhiều ca cấp cứu, Những tháng kế tiếp là mổ cho dân quê trở về làng khai khẩn nhưng đồng ruộng bỏ hoang trong chiến tranh, vướn phải mìn hay đạn ca- nông chôn dưới đất. Giải phẩu tái tạo tiếp theo cho những tật nguyền do vết thương chiến tranh gây ra. Ngoài ra nào giao ban, nào học chính trị mỗ tuần vài lần. Làm việc trong không khí u uất, vì nghe lắm lời phi lý, ngu xuẩn của bọn cán bộ, lắm chế độ hà khắc, kiểm soát tư tưởng, việc làm, những tranh cải lý thuyết v.v..

Bất hạnh thường không đến một mình. Đã buồn bực vì phải kẹt ở lại với CS, lại càng buồn thêm vì sự ra đi của người cha thân yêu. Ngày tôi chở vợ con lên phi trương để di tản, tôi đã năn nỉ cha mẹ tôi cùng đi, nhưng cha tôi một mực từ chối vì ông đã bị bại hai chân từ ba năm nay, hậu chứng xuất huyết não, và phải di chuyển trên xe lăn. Ông không muốn là gánh nặng cho tôi. Mẹ tôi thì chỉ chịu đi khi cha tôi cùng đi, vì bà phải săn sóc cha tôi tật nguyền. Khi chúng tôi không di tản được, từ phi trường trở về, hai ông bà đã khóc sướt, và lo cho tương lai chúng tôi. Hai ngày sau cha tôi chết êm thắm. Ông đã bị đứng tim trong giấc ngủ. Buổi sáng mẹ tôi mang sửa lại cho ông uống, thì thấy ông nằm bất động, tay chân lạnh ngắt. Cũng như bác tôi, cha tôi vì sợ quá, tim già đã ngưng đập khi nghĩ đến những hình phạt khủng khiếp trong tù CS. Mặc dù mới trải qua một cuộc đổi đời chưa hết bàng hoàng, tôi vẫn tổ chức ma tang thật chu đáo, với rất nhiều bà con thân thuộc theo linh cửu ra nghĩa địa. Tôi phải mướn nhiều xe ca, trong khó khăn hiện tại. Cha ơi, xin yên nghỉ bằng an trong nước Chúa.

Lúc say sưa làm việc những năm chiến tranh, theo lời khuyên của một bác sĩ Mỹ, tôi gom góp hồ sơ các ca chữa thương vơí đầy đủ phim, ảnh, ghi chú theo dõi. Ông cho tôi một máy ảnh, và tôi thuê một thợ chụp ảnh phụ tá cho tôi chụp hình bệnh nhân trước và sau khi mổ, diễn tiến bệnh khi nằm tại nhà thương và tái khám. Hồ sơ được lưu trử trong một căn phòng lớn của bệnh viện. Tôi định khi nào rảnh rổi sẽ viết bài, dựa trên nhận xét lâm sàng để rút ra những kết luận hữu ích. Hai tháng sau khi cộng sản vào, thấy rảnh, tôi xuống phòng lưu trữ hồ sơ thì thấy các hộc trống trơn. Hỏi ra mới biết là tổ nhà bếp trên núi xuống nấu cơm cho bệnh nhân, vì thiếu củi đun, nên lấy hồ sơ nhóm lửa. Bao nhiêu tâm huyết đổ sông. Xưa kia nhà thầu cung cấp cơm nước cho bệnh nhân. Họ đâu có nấu nướng trong bệnh viện.

Tôi có nhiều giấc mơ đơn giản. Song đều thất bại. Lúc còn hoạt động trong đoàn Sinh viên công giáo, có đọc thuyết “Kinh tế và nhân bản” ( économie et humanisme) của cha Lebret, có dự định cùng các bạn đồng chí hướng lập những đoàn thiện chí gồm nhiều chuyên viên về thôn quê chia xẻ đời sống của nông dân. Bác sĩ lo chữa bệnh, truyền bá vệ sinh. Kỷ sư nông nghiệp, cơ khí, chăn nuôi, tìm cách nâng cao sản xuất. Tổ chức hợp tác xã, tiếp xúc với công ty ngoại quốc, tìm thị trường, vốn đầu tư..mong cho dân giàu, nước mạnh. Song khi ra trường, thì chiến tranh tràn lan, thôn quê không còn an ninh. Cuối năm 1974, thấy tình hình miền Nam sắp có nguy cơ rơi vào tay Việt cộng, mà trí thức thì chơi mạt chược và trùm chăn quá nhiều, định đi khắp các tỉnh, diễn thuyết, kết hợp những người thiện chí, cố nổ lực tối đa để trong sạch hoá bộ máy chính quyền, tất cả mọi người có thể cầm súng được phải chia phiên nhau ra trận. Không có nạn con ông cháu cha. Trí thức phải xuống xã ấp, phá vòng vây nông thôn bao vây thành thị. Chính phủ tuyên bố tình trạng quốc gia lâm nguy, đóng cửa Trung học và Đại học. Đưa người qua Mỹ diễn thuyết hầu giành hậu thuẩn dân Mỹ. Nếu cần cầu viện Tây âu. Sắp xếp các ý tưởng, trình bày trong một bức thư điều trần gửi quốc hội và tổng thống với đề tài “Tổ Quốc lâm nguy, đề nghị biện pháp giải cứu”. Giáng sinh 1974, tôi vào Sài-gòn, đưa thư điều trần cho bạn bè xem, song không ai hưởng ứng, vì họ đoan chắc với tôi là Mỹ sẽ không bỏ miền Nam. Sau đó tình hình Miền Nam suy sụp quá nhanh. Tuy thế lúc Việt cộng vào, đã có người muốn lập công, đưa cho chúng tài liệu, nên bị hạch hỏi. Phải làm kiểm điểm vài lần, nhận có nêu lên vấn đề, song chưa phổ biến sâu rộng. Cuối cùng muốn viết vài bài về chuyên môn mình cũng không được, vì tài liệu đã bị đốt cháy ra tro.

Khi sang Canada, đi Mỹ chơi gặp một đồng nghiệp cũ ở Bệnh viện Đà-nẵng, nay hành nghề ở Westminster, Cali. Anh ta nói với tôi: “người chống cộng có hệ thống như anh, thì lại kẹt ở lại. Còn lè phè như chúng tôi, thì lại thoát. Oái ăm thiệt!”

Kể ra cũng tại số mình long đong, chạy trời không khỏi nắng. Tôi đã bỏ lở nhiều dịp may: năm 1973, cộng đồng người Hoa ở Đà-Nẵng muốn có một nhà thương riêng cho họ, nên dạm hỏi tôi có muốn bán đưỡng đường của tôi với giá 20 triệu. Vì đang làm ăn phát đạt tôi từ chối. Nếu tôi chịu bán, tôi sẽ trích ra độ một triệu, mua thông hành cho cả gia đình, lấy cớ đi Mỹ học rồi ở lại luôn. Một bác sĩ bạn tôi đã ra đi như thế.

Cuối 1974, nhân có người cháu, Đại uý lái phi cơ trưc thăng, đóng ở Cần thơ, chuyển về không đoàn I. Anh ta nhờ tôi xin về xưởng sữa chữa trực thăng, vì thấy đi bay, có nhiều hiểm nguy. Nhờ quen biết tôi đã thoả mãn cho anh ta. Nhận thấy miền Nam sắp mất, tôi bảo anh ta sữa chữa thật tốt một trực thăng, đổ đầy nhiên liệu, sẵn sàng chở gia đình anh ta với gia đình tôi đi Sài gòn hoặc Thái Lan, khi Đà- Nẵng có nguy cơ mất. Hôm 27-03-75, vì quen biết với gia đình Giám đốc Hàng không Việt Nam Đà-Nẵng, chúng tôi được họ mời chia xẻ một chuyến bay chót đặc biệt dành riêng cho gia đình họ. Trong khi chờ đợi máy bay từ Sài-gòn ra, tôi đến thăm người cháu gần đó, để xin ít nước uống cho các con tôi, vì đêm qua ra đi vội vã quên mang nước theo. Vào nhà tôi thấy gia đình nó chuẩn bị lên trực thăng mà tôi đã dặn để dành cho việc tẩu thoát, nếu Đà-Nẵng mất. Nó nói: “con có điện thoại lại nhà dượng, kêu dượng lên đi, nhưng không ai trả lời. Thế bây giờ dượng đi với chúng con?”. Tôi từ chối vì cho rằng đi máy bay tiện lợi hơn là trực thăng. Tôi trở lại với gia đình và ra ra sân bay, vì máy bay đã đáp xuống ở một chỗ hẹn trước. Nhưng chuyến bay ấy bị quân nhân phi trường tước đoạt. Cảnh súng bắn đì đoàng, người đạp lên người, chen lấn lên máy bay, làm cả hai gia đình chúng tôi đứng xa mà ngó. Cuối cùng máy bay cất cánh có cả người đeo tòn teng vào bánh xe, rụng rơi dần. Cùng lúc ấy, đạn pháo Việt cộng nổ gần phi đạo chúng tôi hoảng hốt dắt díu nhau chạy. Sau nầy gặp lại ở Mỹ, nó tiếc hùi hụi là hôm đó trực thăng nó trực chỉ Sài-gòn mà không có gia đình ông dượng ân nhân, có sáng kiến hay.

Cơ hội chót là ngày 29-03-75 vẫn còn một bác sĩ Mỹ, môn đồ Quaker, sang Đà-Nẵng làm từ lâu, với tư cách cá nhân, và anh ta không chịu di tản, chỉ ưng ở lại làm việc truyền đạo, chia ngọt bùi với bệnh nhân khu bài lao. Máy bay từ hạm đội Mỹ không ngại hiểm nguy đáp xuống trên nóc bệnh viện Việt Đức. Hai lính Mỹ vào mời bác sĩ ấy ra đi, nhưng anh ta một mực từ chối. Khi thấy tôi đi ngang qua, anh ta kéo tôi vào và năn nỉ tôi đi theo trực thăng ra tàu hạm đội Mỹ. Nhưng lúc ấy gia đình tôi không có mặt ở đó và tôi không muốn ra đi một mình, nên cũng từ chối. Nếu ngày ấy tôi ra đi. Sang Mỹ trở lại nghề và phát đạt, sẽ có phương tiện bảo lãnh cho gia đình qua sau, chậm lắm là vài năm sau và thoát đi tù cải tạo 12 năm. Nhưng đó chỉ là nếu, thực tế thì bi thảm vô kể.

Bác sĩ Phùng Văn Hạnh

Cuộc Di Tản đầy Máu và Nước Mắt

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

LTS: Đại Tá Trịnh Tiếu đã quá vãng, ông ở San Jose. Là trưởng phòng Hai (tình báo) của QĐ2, QK2 ông chịu trách nhiệm về cú lừa tình báo. Thoạt đầu ông không viết và ẩn dật, mãi đến khi nhà báo NPH đốc thúc ông nên nói rõ sự thật để ghi lại sử và sau khi Đại tá Lê Khắc Lý nói không đúng nhiều chuyện thì Đại tá Trịnh Tiếu bắt đầu viết. Tòa soạn gửi các bạn một trong những bài viết nhân tháng 3 “thất thủ Cao Nguyên”.

Đại Tá Trịnh Tiếu


Không phải mãi hai ngày sau người Mỹ mới biết lý do đằng sau vụ di tản rút quân bỏ miền Trung. Vào buổi tối ngày 17.3.1975, tại bữa cơm đãi một số Viên Chức cao cấp Mỹ và Việt Nam tại nhà ông Thomas Polgar, Trưởng CIA, ở Sài Gòn, Tướng Ðặng Văn Quang Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống Thiệu, đã lật trang sử khi giải thích quyết định của ông Thiệu. Rất giống người Nga tiêu diệt đội quân của Nã Phá Luân vào năm 1812 bằng cách bỏ đất để câu giờ hầu chấn chỉnh tổ chức quật ngược thế cờ, Tướng Quang cho rằng quyết định của ông Thiệu đi theo chiến lược đó sẽ đánh bại quân Bắc Việt. Tướng Quang nói ‘’Có thể mùa mưa sẽ giúp chúng tôi như thể Ðại Tướng mùa Đông đã giúp người Nga’’.


Tại Cao Nguyên Trung Phần, dân chúng không chờ giải thích. Họ thấy rõ quá rồi nên tự lo lấy.Khi quân Bắc Việt pháo kích Kontum, con đường dẫn xuống Pleiku tràn ngập dân di tản chạy trốn pháo kích. Trong khi các Ðơn Vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu rời các vị trí ở Pleiku và các phi cơ vận tải bay lên bay xuống phi trường suốt ngày đêm, người dân biết ngay đến lúc chạy theo Quân Ðội.


Vào đêm Chủ Nhật, một đoàn xe vận tải dài thòng âm thầm rời khỏi Pleiku từng cái một đèn sáng choang. Phóng viên Nguyễn Tư nghĩ nó ‘’giống như một đoàn xe đi chơi cuối tuần trở về nhà’’. Phía sau, những tiếng nổ lớn phát ra từ các kho đạn bị phá và bầu trời đen nghịt khói từ các bồn xăng đốt cháy.


Trong khi đoàn xe tiến về hướng Nam tung lên những đám bụi đỏ mờ mịt, từng đoàn người dân đi bộ dài như rắn bò hai bên Ðường Quốc Lộ song song với đoàn quân xa. Một vị Nữ Tu Công Giáo nhớ lại ‘’trẻ thơ và trẻ em được chất lên xe bò và người kéo đi. Mọi người đều hoảng hốt. Người ta cố thuê mướn xe bằng mọi giá’’. Trong ba ngày 16, 17, 18, tháng ba, cuộc di tản di chuyển êm thắm khỏi Pleiku và giữa các đoàn quân xa là hàng trăm dân sự đi theo cuộc di tản. Và cũng từ đó bắt đầu một đoàn công voa di tản đầy máu và nước mắt.


Ði được nửa đường tiến ra Duyên Hải, đoàn xe bị khựng lại để cho Công Binh Quân Ðoàn II cố làm xong chiếc cầu nổi ngang qua sông Ea Pa cách đèo Cheo Reo (Phú bổn) vài cây số. Tướng Phạm Văn Phú tiên liệu hai ngày sẽ sửa xong con Ðường số 7 nhưng mãi ba ngày vẫn chưa sửa xong cây cầu. Ðến chiều tối ngày 18.3, xe cộ và lính tráng đã đi được ba ngày và một đám dân tỵ nạn khổng lồ bị khựng lại dọc theo con đường và dồn cục tạm nghỉ ở chung quanh châu thành Tỉnh Phú Bổn. Cái châu thành nhỏ bé cheo leo này làm sao cung cấp đủ nhu cầu cho đoàn di tản này, nhiều người bỏ nhà ra đi chỉ có bộ đồ trên người.


Vì hoảng sợ, địch đe dọa phía sau, đói khát và có những băng lính không còn Cấp Chỉ Huy nữa sanh đạo tặc, đoàn người đòi cứ tiến đi không cần biết hậu quả ra sao. Trước tình thế hỗn quân hỗn quan này, các giới chức lãnh đạo không thể nào thuyết phục dân chúng và điều động xe cộ vũ khí thành một phòng tuyến phòng thủ. Và y như xảy ra khi quân Ðức bao vây khóa chặt Paris năm 1940, dân châu thành cũng chạy trốn, làm tắc nghẽn mọi con đường, Quân Ðội không thể nào di chuyển để bảo vệ họ trước kẻ địch. Tình hình đe dọa hỗn loạn. Cần phải có những bàn tay tổ chức. Nhưng Tướng Lê Duy Tất vẫn còn ở Pleiku với đoàn hậu vệ Biệt Ðộng Quân, trong khi Ðại Tá Lý bị kẹt ở giữa đoàn xe, đã phải bỏ xe đi bộ đến Bộ Chỉ Huy ở Cheo Reo.


Khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu di chuyển xuống Quốc Lộ số 7, Tướng cộng sản Văn tiến Dũng cũng đã bị đánh lừa theo kế hoạch của Tướng Phú. Trước khi khởi sự chiến dịch 275, Dũng đã chỉ vẽ nhiều lần cho tư lệnh sư đoàn 320 về những con Ðường Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không thể nào dùng nó như là lối thoát sau cùng. Tuy nhiên, sau khi nghe tin Tây Phương nói dân chúng đang bỏ Pleiku, các chuyến bay từ Pleiku về Nha Trang tấp nập và Hà Nội đánh tín hiệu ngày 16.3 báo cho biết Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II đã di tản về Nha Trang, Dũng mới bắt đầu nghĩ lại xem có con đường nào khác cho địch quân rút được không.


Ðến 4 giờ chiều cùng ngày, công điện của Hà Nội đến báo, tình báo Bắc Việt báo một đoàn xe dài từ Pleiku tiến về phía Nam xuống Ban Mê Thuột. Tin này làm cho Tướng cộng sản bối rối. Phải chăng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phản công hay là chạy trốn? Tình báo của Dũng cho ông ta câu trả lời ngay sau đó, đúng như tình hình diễn biến ở trên. Ðến lúc này bộ chỉ huy cộng sản mới dở bản đồ ra, chiếu đèn pin và dùng kiếng phóng đại dò tìm địch quân. Kiểm điểm lại, Tướng Dũng và Tướng Kim Tuấn, tư lệnh sư đoàn 320, mới biết bị Tướng Phú lừa ngay trước mắt, Tướng Dũng khiển trách Tướng Kim Tuấn, đồng thời phối trí các đơn vị di chuyển về tụ điểm Quốc Lộ 7 để tiêu diệt đoàn công voa di tản về Tuy Hòa.


Ðoàn xe Quân Dân miền Nam cầu mong sao cho thời gian chậm lại để đi kịp về miền biển không bị cộng sản tấn công. Nhưng không kịp nữa, khi màn đêm buông xuống ngày 18.3 lúc đoàn xe kẹt ở Cheo Reo, quân cộng sản bắt đầu pháo kích vào đám đông dân di tản. Họ hết còn bí mật nữa và kẻ thù ở trong tầm tay. Ðêm ngày 18.3, những đơn vị tiền phong của sư đoàn 302 đụng độ với đoàn xe Quân Ðoàn II ở Cheo Reo. Cùng lúc các đơn vị khác đụng độ với Ðoàn Quân hậu bị Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân ở Thị Trấn Thành An ngã tư Quốc Lộ 14 và Quốc Lộ 7. Ðại Tá Lý đi bộ mãi rồi cũng tới Bộ Chỉ Huy Cheo Reo kịp lúc để giúp điều động Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân vào vị trí phòng thủ chống các cuộc xung phong của quân Bắc Việt ở lối vào Thị Trấn phía Tây. Ðồng thời, pháo binh Bắc Việt rót vào. Ðoàn xe cái đầu ở Cheo Reo nhưng cái đuôi vẫn còn ở Pleiku. Việt cộng tha hồ pháo kích. Sáng hôm sau, xác chết và xác bị thương lính tráng và dân nằm la liệt trên Ðường Phố Cheo Reo (Phú Bổn) cùng với hàng trăm xe cộ bị phá hủy hoặc bỏ rơi. Một phi công trực thăng Không Quân Việt Nam báo cá ‘’Khi tôi bay thấp, tôi có thể nhìn thấy hàng trăm xác chết nằm rải rác dọc theo con đường cạnh các xe còn cháy’’.


Mặc dù lực lượng cộng sản đã chiếm được Phi Trường Phú Bổn, Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân vẫn còn giữ được lối vào châu thành và cây cầu phía Nam sửa xong. Ðây là một cú cải tử hoàn sinh, Ðại Tá Lý và các Cấp Chỉ Huy của ông có cơ hội ra lệnh cho đoàn xe lên đường trở lại với 2.000 xe nổ máy ầm ầm lăn bánh. Nhưng đoàn xe di chuyển không bao lâu, Tướng Phú cho trực thăng đến đón Ðại Tá Lý ra khỏi Cheo Reo. Thế là đầu không còn ai Chỉ Huy chỉ có Tướng Tất Chỉ Huy ở phía sau. Từ ngày 19 trở đi, Chỉ Huy đầu đoàn công voa là những Ðơn Vị Trưởng cấp Tiểu Ðoàn, Ðại Ðội mạnh ai lấy ra lệnh.


Bất kể hỏa lực của cộng sản, trực thăng của Không Quân Việt Nam bắt đầu đáp xuống bốc những người Lính và dân bị thương dọc theo con đường. Khi những người di tản được trực thăng chở đến Phi Trường Tuy Hòa, họ kể những chuyện khủng khiếp xảy ra cho họ. Ngày 19.3, đầu đoàn xe đã đến Sông Côn chỉ còn cách Tuy Hòa 40 km. Nhưng ở đoạn đuôi nửa đường giữa Cheo Reo và Sông Côn, quân Bắc Việt lại đánh ngang hông đoàn xe, lần này ở khoảng Thị Trấn Phú Túc. Không Quân Việt Nam được gọi đến oanh kích chặn tiến quân của địch nhưng đã nhầm lẫn bỏ bom xuống Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân (Làm tổn thất gần 1 Tiểu Ðoàn). Nhưng Liên Ðoàn này vẫn tiếp tục chiến đấu giữ cho con đường mở.


Ðoàn xe chạy qua Cheo Reo cho đến ngày 21.3 thì quân Bắc Việt chọc thủng các vị trí cố thủ của Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân, vượt qua chiếm châu thành và cắt đứt con đường. Trong số khoảng 160.000 người của đoàn xe di tản, nhiều người dân bị cô lập với Lính của Ba Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân. Theo lệnh Tướng Phú, Tướng Tất, vẫn còn ở phía sau đoàn xe, phải bỏ mọi vũ khí và quân trang nặng để chạy khỏi Phú Bổn càng nhanh càng tốt. Hàng ngàn người chạy vào rừng. Lính tráng với vợ con bên cạnh bị rượt bắt và tấn công nhiều lần. Một số ít giơ cờ lên được trực thăng đáp xuống bốc. Nhưng đa số cầm chắc bị đói và bị bắt.


Những người may mắn, các bà mẹ trẻ dính máu, các cụ già và phụ nữ người mặc áo dính bùn, và những người lính gào khóc, chân không, bước xuống trực thăng trước khi các phóng viên bủa ra hỏi thăm tin tức tại phi đạo Tuy Hòa. Các trực thăng bắt đầu chở thực phẩm và nước cho đoàn xe vẫn còn dài thòng di chuyển như con rắn vì đã có nhiều người đói.


Trong khi ở đuôi đoàn xe bị tấn công dữ dội và Tướng Tất cùng các Ðơn Vị còn lại cố chống trả bọc hậu, các Ðơn Vị đầu đoàn xe đã tiến vào ranh giới Tuy Hòa, trên con Sông Ba, cách Thị Trấn 20 cây số. Chiếc cầu nổi mà Tướng Cao Văn Viên hứa cũng đến kịp lúc, nhưng không kịp với lực lượng cộng sản đã đắp mô các ngã đường nằm giữa Sông và Tuy Hòa. Chiếc cầu không thể nào chở xe nổi đến chỗ Bắc nên phải mượn 4 phi cơ C-47 của Quân Ðoàn IV chở từng khúc đến.


Ngày 22.3, đúng một tuần sau khi đoàn xe di tản đầy máu và nước mắt rời Pleiku, chiếc cầu được bắc xong, đầu đoàn xe vội vã vượt qua con sông quá nặng làm chiếc cầu phao lật, người trong xe cộ phải lội sông. Nhưng đến cuối ngày, đoàn xe vẫn tiếp tục vượt qua khi chiếc cầu được sửa lật lại. Ngay cả đến thời thiết cũng tiếp tay cho cộng sản để làm cho đoạn cuối đoàn xe đến Tuy Hòa chưa hết nạn.


Trời nắng đột nhiên trở thành mưa gió lạnh lẽo cho người di tản. Không những thời thiết thay đổi xấu gây ra bệnh tật mà nó còn làm cho phi cơ quân sự không bay lên yểm trợ, chống trả những cuộc tấn công dưới đất của việt cộng. Từ ngày 22.3, Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân bị kẹt đánh trong một trận đánh bọc hậu vừa đánh vừa lui trước nỗ lực rượt theo rất rát của quân cộng sản. Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân đã thu góp xe tăng và pháo binh để bảo vệ con đường ở khúc quẹo thung lũng gần cầu nổi. Họ đánh câu giờ để cho người di tản và Lính kịp vượt qua sông.


Ðồng thời, những Ðơn Vị đi đầu đã vượt qua Sông Ba rồi phải phá mô việt cộng để tiến vào Tuy Hòa. Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân chỉ còn ít quân sống sót đã gom góp được hơn chục thiết giáp M-113 vừa đánh vừa ủi các mô tiêu diệt các vị trí cộng sản. Ðến ngày 25.3, vị trí cuối cùng của quân Bắc Việt bị tiêu diệt nốt, Biệt Ðộng Quân bắt tay được với Lực Lượng Ðịa Phương Quân ở phía Ðông Tuy Hòa.


Ðoàn xe khập khễnh tiến vào Tuy Hòa như một đoàn xe ma. Xấp xỉ 60.000 người dân đến đích, hai phần ba hay hơn 100.000 người bị bỏ lại dọc đường, chết sống không ai biết. Về phía Quân Ðội, 20.000 quân tiếp vận và yểm trợ, chỉ còn 5.000 người đến nơi. Sáu Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân 7.000 người, chỉ còn 9.00 đến Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Ðoàn II ở Nha Trang và đóng chốt bảo vệ Thành Phố. Một vị Tướng ở Bộ Tham Mưu đã buồn bã nói: ‘’70% lực lượng tác chiến của Quân Ðoàn II gồm Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, Biệt Ðộng Quân, Pháo Binh, Thiết Giáp, Công Binh Chiến Ðấu và các Ðơn Vị Truyền Tin đã bị tan rã từ ngày 10 đến 25.3’’. Vì thế chuyện phản công tái chiếm Ban Mê Thuột không thể giao phó cho Quân Ðoàn II.


Canh bạc Tướng Phú chọn Quốc Lộ 7 có thể đã an toàn nếu các cầu nổi được bắc kịp thời và Tướng Viên đổ lỗi cho vị Tư Lệnh Quân Ðoàn II. Tướng Viên tin rằng Tướng Phú phải hoãn cuộc di tản ít ngày để cho các Kỹ Sư Công Binh kịp bắc cầu. Tướng Viên cũng tin rằng hoãn lại cho phép điều động sắp xếp kỹ hơn nhất là kiểm soát dân chúng. Theo một vị Tướng Mỹ thông thạo các Sĩ Quan cao cấp Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lỗi lầm không những ở kế hoạch di tản của Tướng Phú mà ở ngay chính Tướng Phú và lỗi lầm đầu tiên và quan trọng nhất là để mất Ban Mê Thuột. Một vị Tư Lệnh Quân Ðoàn cương quyết hơn không cần phải rút quân như vậy. Một Sĩ Quan Tùy Viên Mỹ tuyên bố: ‘’Một vị Tư Lệnh mạnh như Tướng Toàn (Trước đó là Tư Lệnh Quân Ðoàn II) có thể phản công tái chiếm Ban Mê Thuột, sử dụng toàn bộ Hải, Lục, Không Quân có trong tay đã có thể kềm hãm quân Bắc Việt, cố thủ thêm một năm nữa’’.


Nhưng ngày 25.3.1975,không còn cơ hội đó. Cuộc di tản tự làm cho mình thất bại đau đớn, như lời Tướng Viên mô tả, hoàn tất, gây một cơn ác mộng tâm lý và chính trị to lớn cho ông Thiệu, cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cho dân chúng Việt Nam Cộng Hòa. Một dư luận đồn thổi khắp nước và cả ở những viên chức dân sự và quân sự cao cấp nói rằng: Tổng Thống Thiệu và người Mỹ, trong một thỏa hiệp mật của Hiệp Định Paris, đã cố kết với nhau cho cộng sản chiếm một phần lớn lãnh thổ Nam Việt Nam. Tại sao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu can trường suốt hai mươi năm không thua đột nhiên bị ra lệnh rút khỏi Cao Nguyên, bỏ Pleiku và Kontum không một tiếng súng giao tranh ?


Tinh thần đổ vỡ vì mất bốn Tỉnh trong ba tháng và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh nặng và vô ích không tái chiếm nổi Ban Mê Thuột đã làm cho dân chúng Nam Việt Nam hết còn tin tưởng Tổng Thống Thiệu có thể bảo vệ họ. Vậy ai khác có thể làm được? Phe đối lập ông Thiệu vô tổ chức, đứng ngoài chờ thời cơ và người Mỹ tiếp tục làm ngơ. Chỉ có ông Thiệu là người phải tìm ra cách nào để lấy lại tinh thần cho Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng trước khi ông tìm ra hướng đi hợp tình thế thì tin xấu từ Quân Ðoàn I bay về. Cũng lại di tản và cuộc di tản Quân Ðoàn I bi thảm không kém để kết thúc ngày 30.4.1975.

Đại Tá Trịnh Tiếu

Dũng Gạc Ma và nghĩa tình đồng đội

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Trần Đăng

Một trong hai người tên Dũng liên quan đến Gạc Ma đã ra đi vì căn bệnh hiểm nghèo cách nay 4 năm. 

Các cựu binh Trường Sa viếng Khu lưu niệm Gạc Ma tại bán đảo Cam Ranh

Các cựu binh Trường Sa viếng Khu lưu niệm Gạc Ma tại bán đảo Cam RanhNgười còn lại là Nguyễn Văn Dũng hiện ở Bãi Tiên, TP.Nha Trang (Khánh Hòa). Các anh không làm hổ danh tên “Dũng”, từng là lính Trường Sa!Cuối năm 2019, tôi ghé thăm Nguyễn Văn Dũng ngoài Bãi Tiên, cách trung tâm TP.Nha Trang 10 cây số về phía bắc. Thấy khách quen nhưng Dũng không “nghỉ tay” để tiếp khách mà liên tục chỉ huy tốp thợ hàn gấp rút hoàn thành “hội trường” 200 chỗ kịp đón đại biểu là lính Gạc Ma trong cả nước hoặc từng là lính Trường Sa quê Khánh Hòa và Phú Yên về họp mặt nhân kỷ niệm 32 năm ngày xảy ra trận Gạc Ma. Mấy ngày sau đó, Nha Trang phát hiện ca bệnh Covid-19 đầu tiên nên cuộc gặp mặt nói trên bị hủy trong hụt hẫng. “Tốn trên 200 triệu đó anh. Lại đến từ Trung Quốc!”, Dũng phân trần với tôi về câu chuyện gặp mặt lính Gạc Ma – Trường Sa phải gác lại mà không biết đến khi nào mới tổ chức được.Từ nhiều năm nay, ngôi nhà của Nguyễn Văn Dũng – cũng là nơi anh mở quán ăn mang tên Thiên Phước, đã thành chỗ đi về của những người lính Gạc Ma – Trường Sa. Chí tình với đồng đội, rộng lòng với bạn bè, thủy chung và ơn nghĩa với những người đã từng vì mình mà hy sinh… đó là phẩm chất của anh thương binh hạng 2/4 này.

Dũng Gạc Ma và nghĩa tình đồng đội - ảnh 1Anh Nguyễn Văn Dũng tặng quà cựu binh Trường SaẢNH: TRẦN ĐĂNG

Trận ốm định mệnh

Bao giờ cũng vậy, mỗi khi nhắc đến Phan Tấn Dư, giọng nói của người cựu binh Trường Sa này như chùng xuống: “Nếu tôi không có trận ốm đột xuất trước ngày ra Trường Sa 11.3.1988 thì Dư sẽ không phải nằm lại giữa vùng biển Gạc Ma ấy. Nhưng biết làm sao được, không phải tôi thì là Dư, không phải Dư thì là một người lính nào đó cũng sẽ ngã xuống trước sự bạo tàn của quân Trung Quốc xâm lược ấy thôi”. Dũng luôn gằn từng tiếng mỗi khi nhắc đến hai tiếng Trung Quốc trong bất cứ cuộc chuyện trò nào. Quen với Dũng lâu nay tôi biết vì sao anh lại luôn tỏ thái độ như vậy mỗi khi nhắc đến hai tiếng “nhạy cảm” kia. Vì 64 đồng đội của anh đã ngã xuống, vì hòn đảo mang tên Gạc Ma mà các anh đã đổi cả máu của mình giờ đã nằm trong tay kẻ khác hay vì điều gì khác nữa…, rất khó để cắt nghĩa rạch ròi. Nhiều lúc có cảm giác như Phan Tấn Dư, người bạn, người đồng đội đã ngã xuống thay Dũng ở đảo đá Gạc Ma luôn thầm thì vào tai anh rằng “Dũng ơi, đừng bao giờ quên mối uất hận ấy nhé” vậy.Đã 33 năm rồi mà Dũng vẫn nhớ không sót một chi tiết nào về trận ốm định mệnh nọ: “Đêm trước ngày ra Trường Sa, chúng tôi tập kết tại quân cảng Cam Ranh. Những ngày ấy, không khí rất căng thẳng do những tin tức từ Trường Sa điện về. Dù vậy, trước khi mang ba lô xuống tàu, anh em lính cũng tụ họp một trận ra trò, cùng hát những bài hát ra trận. Kết quả là tôi bị viêm họng và sốt. Lính thông tin, giữ điện đài liên lạc cho đơn vị mà nói không ra hơi như thế nên thủ trưởng ra quyết định nhanh: “Phan Tấn Dư thay Nguyễn Văn Dũng đi để trực điện đài. Dũng đi chuyến sau”. Tôi ngẩn ngơ không phải vì “tiếc” chuyến ra Trường Sa mà vì cảm thấy như mình hèn nhát. Ba ngày sau, tôi nhận hung tin, đau đớn thay, Phan Tấn Dư – người thay tôi trực điện đài nằm trong số 64 đồng đội vừa ngã xuống!”.

Má Niệm của Dũng

Rồi Dũng cũng ra Trường Sa sau đó không lâu. Một cú trượt chân khi anh leo lên đài quan sát đã khiến một bên chân bị giập nát. Đi khắp các bệnh viện trong Nam ngoài Bắc, Dũng mới giữ lại được chiếc chân thương tật ấy đến giờ. Ra quân khi một chân không còn nguyên vẹn, cơm áo của thời đất nước gian lao như đè nặng thêm lên đôi vai của anh thương binh này. Dũng chọn Bãi Tiên để làm rẫy, hết mùa chuối, mùa ngô thì anh xuống biển bắt ốc, đánh cá kiếm sống qua ngày. Thế rồi trời thương anh, con đường Phạm Văn Đồng của TP.Nha Trang bất ngờ xuyên qua rẫy chuối của Dũng. Mặt quay ra biển, lưng tựa vào núi, quán ăn Thiên Phước ra đời. Nó như chiếc phao cứu sinh của đời Dũng để anh có điều kiện thực hiện tâm nguyện của mình: đi tìm mẹ Phan Tấn Dư!Một dòng tin ngắn ngủi Dũng lưu vào bộ nhớ của mình về người bạn đã chết thay anh: má Lê Thị Niệm, quê ở Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Dành dụm được đồng nào từ cái quán ăn ấy, Dũng lận lưng để vượt trăm cây số ra Phú Yên tìm má Niệm. “Hồi đó – đầu những năm 2000 – đi lại vẫn còn khó khăn, đường về Tây Hòa quê Dư cũng không “trơn tru” như giờ. Mỗi lần đi là một lần cơ cực vì địa chỉ rất tù mù. Tôi phải lục tung tất cả các mối quan hệ để tìm cho bằng được nhà Dư”, Dũng kể về nỗi vất vả khi tìm nhà má Niệm từ hơn 20 năm trước mà ngỡ như vừa mới hôm qua.Cuối cùng rồi Dũng cũng tìm ra nơi cần tìm. Năm đó má Lê Thị Niệm đã ngoài 70 tuổi. “Có một mối linh cảm nào đó nên khi tôi vừa bước vào nhà là mẹ Dư đã ôm chầm lấy tôi như thể ôm đứa con đã bỏ bà đi biệt từ hơn 10 năm trước. “Từ nay, con sẽ là con của má nghe Dũng!”. Má Niệm ôm tôi trong giàn giụa nước mắt. Tôi thầm thì trước vong linh Dư: “Mình sẽ thay mặt bạn chăm sóc má đến phút cuối cùng. Mong bạn yên nghỉ”, Dũng kể, và anh đã giữ lời hứa ấy đến mãi ngày cận tết vừa qua, khi má Lê Thị Niệm trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 93!

Dũng Gạc Ma và nghĩa tình đồng độiNguyễn Văn Dũng thăm má Lê Thị Niệm, mẹ liệt sĩ Phan Tấn Dư tại Tây Hòa, Phú Yên

Nơi đi về của lính Trường Sa

Hằng năm, cứ đến ngày 14.3 là Dũng tổ chức thả hoa đăng ngay tại bờ biển trước quán ăn của anh. Hầu như những ai từng khoác áo lính ở Trường Sa đều có mặt trong những buổi tưởng niệm thiêng liêng đó. Quán Thiên Phước không chỉ là chỗ đi về của những cựu binh Gạc Ma và Trường Sa mà còn là nơi cưu mang rất nhiều thân phận. Tất cả những cháu nào con em của lính Gạc Ma hoặc lính Trường Sa đang gặp khó khăn, Dũng đều đón về nuôi dạy, vừa phụ giúp chú Dũng, các cháu vừa học việc. “Đã có trên 20 cháu “tốt nghiệp”, hiện còn 4 cháu ở quán đó anh”, Dũng khoe với khách.Đúng như nguyện ước của ông chủ khi đặt tên cho quán ăn của mình là “Thiên Phước”. Phước trời ấy đã mỉm cười với Dũng suốt 20 năm qua. Không giàu có gì nhưng số tiền kiếm được cũng đủ để Dũng thực hiện tâm nguyện của đời anh ngay từ thuở hàn vi sáng lên rừng chặt củi, chiều xuống biển mò cua: giúp đỡ hết lòng những đồng đội một thời. Mỗi năm đôi ba lần, nhất là dịp 14.3, đích thân Nguyễn Văn Dũng mang quà đến tận các gia đình liệt sĩ Gạc Ma hoặc cựu binh Trường Sa để thăm hỏi và trao tận tay họ. Hàng trăm triệu đồng mỗi năm như thế, kể cũng không phải là ít đối với một quán ăn thuộc diện “cò con” ở Nha Trang này.Tôi điện thoại hỏi Dũng: “Ngày 14.3 năm nay vẫn tổ chức chứ?”. Dũng nói như lạc giọng: “Tôi khấn các liệt sĩ Gạc Ma rồi anh. Những “chuyến hàng” sẽ không theo thuyền hoa đăng để ra Trường Sa với các bạn được. Dịch cúm có nguồn gốc từ Trung Quốc vẫn chưa buông chúng mình!”.Dũng nói thêm với tôi là anh chỉ chuẩn bị những phần quà để thăm các gia đình liệt sĩ Gạc Ma như những năm đất nước chưa có dịch mà thôi.

Sự đền tội của kẻ thủ ác Hoàng Cơ Minh, Chủ tịch Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam – Tiền thân của Đảng Việt Tân.

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

23 giờ ngày 18/7/1987, nhóm phản động Hoàng Cơ Minh lên đường, đi đầu là “Quyết đoàn Tiền phương”. Càng đến gần biên giới Thái – Lào, bọn chúng càng hoang mang, lo sợ vì chúng biết chuyến đi này không phải để dàn cảnh, quay phim, mà dữ nhiều, lành ít.

Hoàng Cơ MinhCách đây hơn 30 năm – ngày 28/8/1987, trên đường xâm nhập qua lãnh thổ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào để vào Việt Nam, nhằm thực hiện âm mưu bạo loạn, lật đổ chính quyền nhân dân, Hoàng Cơ Minh, nguyên Phó đề đốc quân đội Sài Gòn, kẻ cầm đầu tổ chức phản động gọi là “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam”, đã bị các lực lượng vũ trang cách mạng Lào phát hiện, truy đuổi và bắn bị thương tại vùng Bản Pon, tỉnh Xa La Van.

Sau đó, do lo sợ bị bắt, cũng như đoán trước được kết cục dành cho mình, Hoàng Cơ Minh tự sát.

Chiến dịch Đông tiến 2

Sau khi “chiến dịch Đông tiến 1” tổ chức hồi tháng 8/1986 thất bại, rồi bị cộng đồng người Việt hải ngoại vạch trần âm mưu bịp bợm vì thực chất của “chiến dịch” này, chỉ là đưa một nhóm tay chân về vùng rừng núi biên giới tiếp giáp giữa Thái Lan, Lào, dưới vỏ bọc công nhân liên doanh lâm nghiệp, và sau đó cho mặc quần áo rằn ri, vai đeo balô, tay cầm súng, lăn lê bò toài để quay phim, chụp ảnh, đưa về Mỹ tuyên truyền rằng, “mặt trận” đã thành lập được nhiều “khu chiến” bên trong lãnh thổ Việt Nam, thì Hoàng Cơ Minh, chủ tịch “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” (từ đây gọi tắt là Mặt trận Hoàng Cơ Minh) cùng đám tay chân thân tín nhận ra rằng, trò lừa đảo của “mặt trận” đang có nguy cơ đổ bể.

Nếu như trước kia, hệ thống “phở Hòa” – là cơ quan kinh tài của “mặt trận”, có chi nhánh trên nhiều tiểu bang của nước Mỹ, liên tục kêu gào cộng đồng người Việt vào… ăn phở để góp phần ủng hộ “kháng chiến”, thì nay dù thúc ép, thậm chí hăm dọa, họ cũng chẳng vào. Những cuộc biểu tình do “mặt trận” tổ chức, người tham dự cũng ngày càng thưa thớt.

Đã thế, trong nội bộ “mặt trận” lại xuất hiện sự chống đối, nhiều người thẳng thừng gọi tổ chức Hoàng Cơ Minh là “kháng chiến tái nạm béo”, Hoàng Cơ Minh là chủ tịch lừa.

Vì thế, tên trùm phản động quyết tâm tiến hành một chiến dịch nữa nhằm tạo tiếng vang và lấy lại uy tín, hầu dễ bề quyên góp tiền bạc. Đầu tháng 7/1987, y cho di chuyển khoảng 130 người (cả số đang còn nằm lại ở biên giới Thái Lan, Lào sau “chiến dịch Đông tiến 1”, lẫn số từ Mỹ sang), đến một khu rừng thuộc tỉnh U Bon – Thái Lan, rồi móc nối với bọn thổ phỉ người Lào để thuê bọn này dẫn đường vượt qua đất Lào.

Theo kế hoạch – được Hoàng Cơ Minh đặt tên là “chiến dịch Đông tiến 2”, nhóm phản động chia thành 4 bộ phận: Đó là “Quyết đoàn tiền phương”, gồm 40 tên do Phan Thanh Phương làm quyết đoàn trưởng (mỗi quyết đoàn lại chia thành nhiều dân đoàn, mỗi dân đoàn gồm 9, 10 tên), có nhiệm vụ mở đường. “Quyết đoàn Bắc Bình”, gồm 29 tên do Lê Đình Bảy làm quyết đoàn trưởng, đi giữa.

Bộ chỉ huy chiến dịch gồm Hoàng Cơ Minh, Nguyễn Huy, Trần Khánh, Võ Hoàng (là ủy viên trung ương mặt trận) cùng một số tên chóp bu khác.Nhóm phản động “tuyên thệ” trước khi xâm nhập.

Đi sau cùng là “Quyết đoàn Anh dũng” gồm 40 tên, do Khu Xuân Hưng làm quyết đoàn trưởng. Các quyết đoàn ngoài vũ khí cá nhân như súng AK, M16, lựu đạn, mìn claymore, còn có một hoặc hai khẩu B40, B41, và vài máy bộ đàm tầm hoạt động khoảng 3km.Tất cả những thứ ấy, bọn chúng mua lại từ các nhóm thổ phỉ Lào hoặc từ các chợ trời vũ khí dọc theo biên giới Lào, Thái Lan.

Riêng bộ chỉ huy của Hoàng Cơ Minh, còn được trang bị thêm 2 khẩu cối cá nhân M79. Quần áo, giày dép, mũ nón chúng sử dụng cũng vậy, hầu hết đều mua ở chợ trời biên giới với đủ chủng loại.Về lương thực, mỗi tên mang trên lưng 20 – 30 kg, gồm gạo, mì ăn liền, mắm muối, nồi niêu xoong chảo.

Bên cạnh đó, các quyết đoàn còn được cấp một ít tiền kíp để mua lương thực nếu đi ngang thôn bản người Lào. Riêng các quyết đoàn trưởng và các ủy viên mặt trận, Hoàng Cơ Minh giao cho mỗi tên từ 2 đến 5 lượng vàng, một số USD và đồng bạt Thái Lan để… hối lộ bộ đội Lào nếu bị bắt!

Theo kế hoạch, cả bọn sẽ vượt sông Mê Kông, sang tỉnh Xa La Van – miền Nam nước Lào rồi từ đó, dưới sự dẫn đường của 20 tên thổ phỉ Lào, chúng sẽ đi về tỉnh Sê Kông và xâm nhập khu vực ngã ba biên giới, thuộc tỉnh Kon Tum, Việt Nam. Tại đây, chúng sẽ lập căn cứ, tiến hành phục kích xe cộ, đặt mìn phá cầu, tấn công các đồn biên phòng Việt Nam để gây tiếng vang, tạo cơ hội cho bọn ở lại bên Mỹ, thúc ép cộng đồng người Việt góp tiền ủng hộ…

23 giờ ngày 18/7/1987, nhóm “kháng chiến” Hoàng Cơ Minh lên đường, đi đầu là “Quyết đoàn Tiền phương”. Càng đến gần biên giới Thái – Lào, bọn chúng càng hoang mang, lo sợ, nhất là những tên chỉ huy các quyết đoàn, dân đoàn vì chúng biết chuyến đi này không phải để dàn cảnh, quay phim, mà dữ nhiều, lành ít. Khi chỉ còn cách điểm tập kết là bờ sông Mê Kông ngăn đôi hai nước Lào, Thái Lan chừng 3km, Hoàng Cơ Minh sai “Quyết đoàn trưởng quyết đoàn Tiền phương” Phan Thanh Phương, cử một dân đoàn đi trinh sát.Thế nhưng, 9 gã trong dân đoàn ấy chỉ đi khoảng 300 mét, rồi lủi vào bụi rậm nằm chờ đến giờ quay về báo cáo.

Tuy nhiên lúc quay về, thì một tên trong “dân đoàn” bỗng dưng biến mất. (Do quá sợ hãi, gã vứt bỏ toàn bộ lương thực, súng ống, vạch rừng mò ngược trở lại rồi sau một thời gian sống chui lủi, khi nghe tin toàn bộ nhóm xâm nhập đã bị bắt hoặc bị giết, gã dạt về Campuchia, chạy xe ôm kiếm sống, cạch mặt “mặt trận” tới già).

Tin một gã “dân đoàn viên” bỏ trốn được Phạm Thanh Phương giấu kín vì sợ bị Hoàng Cơ Minh trừng trị mặc dù y rất lo gã kia ra hàng chính quyền, bộ đội cách mạng Lào. Trong suốt ngày thứ hai, rồi ngày thứ ba của cuộc xâm nhập, Phương đứng ngồi không yên, lúc nào cũng nơm nớp.Đám thổ phỉ Lào ở riêng một góc, lo sợ không kém vì chúng được trả tiền để dẫn đường, nhưng Hoàng Cơ Minh dùng dằng nửa đi, nửa ở khiến chúng như ngồi trên chảo lửa.

Chúng không biết Hoàng Cơ Minh đang chờ một bộ phận nữa, là “đoàn đặc nhiệm” do Nguyễn Quang Phục, biệt danh Hải “xăm” cầm đầu.Đoàn đặc nhiệm này chỉ gồm 7 tên nhưng hầu hết đã từng tham gia các sắc lính trong quân đội Sài Gòn nên dạn dày kinh nghiệm, được Hoàng Cơ Minh đặc biệt tin tưởng. Thế nhưng, lúc nghe tin Hải “xăm” không đến điểm hẹn vì bất ngờ lên cơn sốt rét, và cả “đoàn đặc nhiệm” còn cách nơi tập kết khá xa, nên Hoàng Cơ Minh đành ra lệnh cho Hải “xăm” khi nào hết sốt, sẽ dẫn quân đuổi theo các “quyết đoàn”.

Việc Hải “xăm” bị sốt ít nhiều gây hoang mang trong hàng ngũ, và có tin đồn truyền tai nhau, rằng sốt chỉ là cái cớ để Hải “xăm” được nằm lại.

Xẩm tối ngày 20/7/1987, Hoàng Cơ Minh cùng bọn phản động nhắm hướng sông Mê Kông thẳng tiến. Tại đây, nhóm thổ phỉ Lào đã thuê sẵn mấy chiếc ghe máy, mỗi chiếc có thể chở được 30 người nên việc vượt sông diễn ra êm ả. Nhưng ở bờ bên kia, là những vách đất cao, trơn trợt nên đám phản động phải mất hơn 10 phút mới trèo lên được.

Sau này, khi bị bộ đội cách mạng Lào bắt, nhiều tên phản động khai rằng, tinh thần của hầu hết các “dân đoàn viên” đã rệu rã ngay từ khi vượt sông, và chúng cầu mong chỉ vào sâu trong đất Lào chừng vài cây số để quay phim, chụp hình rồi rút về như “chiến dịch” trước. Thậm chí có tên trong khi trèo lên con dốc dựng đứng ở bờ sông, đã lén vứt đi mìn, lựu đạn và đạn.Có tên giả bộ ngã trặc chân để mong được cho ở lại. “Dân đoàn viên” Nguyễn Văn Náo khai: “Lúc vượt sông, lợi dụng trời tối không ai để ý, tôi thả xuống nước 2 băng đạn và 1 quả lựu đạn. Tôi tính nếu đụng trận, tôi sẽ tìm cách trốn về Thái Lan”.

Vượt qua được bờ dốc, Hoàng Cơ Minh cho cả bọn nghỉ đêm. Bên các bụi tre, chúng ngủ chập chờn trong tư thế ngồi co quắp. Mờ sáng, sau khi nhai trệu trạo nắm mì gói vì không dám nổi lửa, chúng đi ngang một trảng lớn, cỏ mọc lưa thưa rồi bắt đầu leo lên dãy núi đá, sườn núi đầy những bụi cây nhỏ lúp xúp.

Đến 9 giờ, khi bọn phản động đang ở ngang lưng chừng núi thì bất ngờ trên trời có tiếng động cơ máy bay, rồi một chiếc máy bay trinh sát xuất hiện khiến đám phản động đứa lủi vào bụi cây, đứa lăn ra đất nằm im như chết.

Thoạt đầu, Hoàng Cơ Minh cùng bộ chỉ huy nhận định đây là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nhưng khi thấy chiếc máy bay đảo đi đảo lại hai, ba vòng, chúng liền đặt câu hỏi, rằng đó chỉ là nhiệm vụ hàng ngày của Không quân cách mạng Lào trên vùng biên giới, hay chúng đã bị lộ?

Khoảng 10 phút sau, chiếc máy bay trinh sát biến mất, Hoàng Cơ Minh ra lệnh tiếp tục lên đường vì y tin rằng sự xuất hiện của chiếc máy bay chỉ là sự tình cờ. Các “quyết đoàn”, “dân đoàn” lầm lũi bước, mắt dáo dác nhìn chung quanh. Gần tối, khi đến cạnh một con suối lớn, Hoàng Cơ Minh cho dừng chân, bố trí đội hình phòng thủ và nấu cơm.Bữa cơm một phần ăn với mắm kem còn phần kia nắm lại, để dành hôm sau. Bốn năm gã – trong đó có Nguyễn Văn Dũng lén lút mang theo được mấy bi đông rượu từ đất Thái, giờ tụm lại dưới bụi cây, chuyền tay nhau tu. Bị “dân đoàn trưởng” là Đỗ Bạch Thố phát hiện, chửi bới, Dũng toan chụp khẩu M16, lia cho Thố một băng nhưng đồng bọn ngăn cản. Sau này khi Dũng kiệt sức, chính tay Đỗ Bạch Thố đã dùng dây giày, xiết cổ Nguyễn Văn Dũng đến chết để trả thù hành động Dũng định bắn mình.

Sáng ngày thứ 5 của chuyến xâm nhập, bọn phản động khởi hành sớm. Lúc mặt trời lên, chúng nhận ra địa hình đang đi khá trống trải và nếu xảy ra đụng độ, sẽ chẳng khác gì phơi lưng ra làm bia. Hỏi nhóm thổ phỉ Lào dẫn đường, thì chỉ nhận được câu trả lời là cứ đi tiếp. Y như rằng, khoảng 8 giờ sáng, ở cuối đội hình bọn phản động bỗng vang lên từng loạt súng.Trận chạm súng giữa bộ đội cách mạng Lào và nhóm phản động đi đoạn hậu diễn ra rất ngắn, cả hai bên không ai thương vong nhưng chứng tỏ rằng việc xâm nhập đã bị lộ và điều này khiến tinh thần của hầu hết bọn chúng đều hoang mang.

Bất lợi hơn nữa là theo kế hoạch, các dân đoàn, quyết đoàn sẽ tìm cách tiếp cận với những bản làng người Lào trên đường đi qua để mua thức ăn tươi, cũng như tìm hiểu tình hình.Nhưng nay cuộc chạm súng đã khiến chúng phải lùi sâu vào rừng trong lúc gạo, mì bắt đầu vơi dần.

Đã vậy, một số tên từ Mỹ, Pháp, Nhật về, do không quen với khí hậu, địa hình, không quen với cuộc di hành chỉ bằng đôi chân nên đâm ra cáu kỉnh. Hầu như lúc nào cũng có những cuộc cãi vã – không ở dân đoàn này thì cũng ở quyết đoàn khác. Hơn 100 tên xâm nhập nhưng chỉ có 1 y tá. Các vết lở loét ở chân do giày thấm nước, vết rách ở tay, ở cổ do đá cắt, gai cào, muỗi đốt, vắt cắn, chỉ được rửa ráy, băng bó sơ sài nên nhiều tên bị nhiễm trùng, bước đi phải có kẻ xốc nách hoặc chống gậy.

Sau cuộc chạm súng, Hoàng Cơ Minh hạ lệnh đi nhanh hơn. Đến 4 giờ chiều, lúc lên tới một triền núi và khi nhóm phản động chuẩn bị dừng chân qua đêm, thì vài gã dân đoàn viên thuộc “Quyết đoàn Anh dũng” mò xuống những bụi tre phía dưới kiếm măng tươi. Chỉ vài phút sau đó, đột ngột tiếng súng AK nổ từng loạt dài, cùng tiếng la hét inh ỏi.

Lúc bọn lấy măng tháo chạy về, kiểm điểm lại thấy mất Nguyễn Văn Náo. Theo lời bọn chúng, một toán bộ đội cách mạng Lào đã bí mật bám theo, rồi bất ngờ tập kích, bắt sống Nguyễn Văn Náo.

Điều này rất nguy hiểm vì Hoàng Cơ Minh nhận định, nếu Náo bị bắt, toàn bộ kế hoạch xâm nhập cũng như lực lượng và trang bị vũ khí của cả đoàn, coi như hoàn toàn bị lộ.Đã đâm lao thì phải theo lao.

Quay về cũng dở mà ở cũng không xong, Hoàng Cơ Minh ra lệnh đi tiếp. Đường đi càng lúc càng khó vì phải leo lên những tảng đá, tảng nọ chồng tảng kia. Sẩm tối, khi toán đoạn hậu báo cáo không thấy dấu hiệu bộ đội cách mạng Lào đuổi theo, Hoàng Cơ Minh mới dám cho dừng chân nấu cơm gần một con suối.

Để đề phòng, y chỉ thị cho các quyết đoàn trưởng, là từng dân đoàn lần lượt cử người xuống suối lấy nước chứ không đi đồng loạt. Lúc này, nhiều bếp lửa đã được nhóm lên, “dân đoàn viên” Trần Văn Thảo đang ngồi hong khô đôi giày thì phát hiện bóng người thấp thoáng. Gã hỏi lớn: “Ai đó?”. Phía bên kia đáp lại một chữ ngắn gọn, nghe như tiếng Lào, rồi lập tức, hàng loạt đạn AK quạt xối xả vào đội hình bọn phản động, kèm theo những tiếng nổ tức ngực của đạn B40. Một quả B40 nổ ngay cạnh bếp cơm của “dân đoàn viên” Nguyễn Văn Hòa khiến gã bật ngửa, đầu tung tóe máu.

Đến lúc ấy, cả nhóm “kháng chiến” vẫn không hay biết, rằng chúng đã bị một tổ dân quân Lào tuần tra biên giới phát hiện ngay từ khi chúng đang vượt sông Mê Kông. Và bởi vì lực lượng ở khu vực đó mỏng, hơn nữa chưa rõ nhóm phản động vượt sông có phải là nhóm đi đầu mở đường cho những nhóm tiếp theo hay không, nên bộ đội cách mạng Lào quyết định chỉ cử một toán nhỏ bám theo, trinh sát, tìm cách bắt tù binh đưa về khai thác, điều tra…

Sau trận chạm súng đầu tiên kể từ khi nhóm “kháng chiến” đặt chân lên đất Lào, dẫn đến việc dân đoàn viên Trần Văn Náo bị bắt, rồi tiếp theo là cuộc tập kích khiến dân đoàn viên Nguyễn Văn Hòa bị thương, Hoàng Cơ Minh cùng bộ chỉ huy “chiến dịch” hiểu rằng yếu tố bất ngờ đã không còn nữa.

Những kiểu chết yểu trên đường xâm nhập

Điều nguy hiểm nhất là từ sự khai báo của Nguyễn Văn Náo, bộ đội cách mạng Lào hẳn sẽ biết rõ sự có mặt của Hoàng Cơ Minh, cũng như nhóm phản động gồm bao nhiêu người, vũ khí trang bị có những gì, tình hình lương thực ra sao.

Dĩ nhiên, họ cũng sẽ thông báo cho chính quyền Việt Nam biết về mục đích của nhóm phản động và như vậy, Hoàng Cơ Minh bị đặt vào thế “lưỡng đầu thọ địch”.

Một điều bất lợi nữa: Theo hợp đồng thì nhóm thổ phỉ Lào sẽ chỉ dẫn đường cho bọn phản động đến địa phận tỉnh Xa La Van, tiếp giáp tỉnh Sê Kông vì chúng không dám đi vào sâu hơn. Nghe chúng trao đổi với nhau, Hoàng Cơ Minh biết rằng chỉ nội ngày mai, nhóm thổ phỉ Lào sẽ rút.

Tuy nhiên, từng là Phó đề đốc trong quân đội Sài Gòn, Hoàng Cơ Minh ít nhiều cũng hiểu về binh pháp. Tiến hành họp với bộ chỉ huy, y vạch ra chiến thuật “tương kế tựu kế”: Đó là cho Nguyễn Văn Hòa cùng “chủ tịch mặt trận quốc nội” Nguyễn Thế Minh, theo nhóm thổ phỉ Lào quay lại Thái Lan.Động tác này có thể khiến toán trinh sát của bộ đội cách mạng Lào tưởng lầm là bọn phản động đã từ bỏ ý đồ xâm nhập, và sẽ chỉ bám theo, tấn công nhóm thổ phỉ chứ không tiếp tục truy đuổi.

Như thế, nhóm thổ phỉ và Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Thế Minh sẽ trở thành mồi nhử, thành bia đỡ đạn cho cuộc “đông tiến”.Hoàng Cơ Minh họp bàn cùng đồng bọn trước ngày xâm nhập

Đêm hôm đó, bọn phản động không dám nổi lửa nấu cơm, mà chỉ nhai mì sống cầm hơi. Mờ sáng, khi sương mù còn dày đặc, cả bọn lên đường, khiêng theo Nguyễn Văn Hòa trong tình trạng nửa mê, nửa tỉnh vì mất máu. Đến trưa, tên cầm đầu nhóm thổ phỉ sau khi cùng Hoàng Cơ Minh xem lại bản đồ, thì gã đồng ý cho Nguyễn Văn Hòa, và “chủ tịch mặt trận quốc nội” Nguyễn Thế Minh theo chúng, quay lại biên giới Lào, Thái.

Nhưng rất nhiều năm sau đó, chẳng ai còn nghe được bất cứ một tin tức gì về Minh và Hòa.Mãi đến năm 1998, một thông tin nhỏ mới được tiết lộ trên một tờ báo của người Việt ở Mỹ. Ấy là một nông dân Lào khi vào rừng chặt cây làm nhà, đã gặp bọn phỉ đang rút lui. Nghe chúng nói chuyện, rằng tự dưng lãnh cái của nợ phải khiêng là Nguyễn Văn Hòa, nên chúng giết y chết. Mà nếu đã giết Hòa chết, thì dĩ nhiên phải giết cả Nguyễn Thế Minh.

Trở lại chuyện xâm nhập, khi bọn thổ phỉ vừa đi khỏi, Hoàng Cơ Minh cho các “quyết đoàn” rải ra, hình thành những cụm phòng ngự với mệnh lệnh súng ống trên tay sẵn sàng chiến đấu, không nấu cơm, không ra suối lấy nước, không giăng võng hay dựng lều. Suốt buổi chiều rồi cả đêm, bọn phản động thức trắng trong tâm trạng lo âu vì sợ bị tập kích.Gần sáng, nghĩ là đã đánh lừa được toán truy đuổi, cả bọn lục tục kéo nhau lên đường.

Đi khoảng 30 phút, Quyết đoàn trưởng Quyết đoàn Anh dũng là Khu Xuân Hưng nhận được tin báo, rằng dân đoàn trưởng Hà Hoài Hùng đã bỏ trốn cùng với chiếc balô đựng tiền, vàng của quyết đoàn.Đây là trường hợp bỏ trốn thứ hai khiến Khu Xuân Hưng rất hoang mang vì từ lâu, Hà Hoài Hùng vẫn được Hoàng Cơ Minh tin cậy.

Vì thế, một mặt, gã cử người lên bộ chỉ huy báo cho Hoàng Cơ Minh. Mặt khác, gã sai 4 dân đoàn viên quay lại tìm Hùng với mệnh lệnh “nếu không gọi về được thì lấy chiếc balô rồi bắn bỏ”.Nhưng 4 gã dân đoàn viên vừa quay lưng, thì có tiếng AK và B40 nổ dồn dập ở phía xa. Điều này chứng tỏ bộ đội cách mạng Lào vẫn bám theo nhóm phản động, và Hà Hoài Hùng trên đường bỏ trốn, đã gặp họ.

Từ đó cho tới khi bị đánh tan tác, không còn ai nghe được tin gì về Hà Hoài Hùng. Đã là ngày thứ 10 của cuộc xâm nhập, mà nhóm phản động vẫn chưa đến được tỉnh Sê Kông vì thiếu người dẫn đường, sự di chuyển dựa vào những tấm bản đồ do quân đội Mỹ vẽ từ năm 1972. Vì thế, có những đoạn chỉ cần lội xuống khe rồi đi vòng chừng 6 tiếng là đã vượt qua được dãy núi, nhưng chúng lại phải leo trèo suốt 2 ngày.

Lương thực càng lúc càng cạn, bữa cơm 1 phần gạo thì có đến 3 phần củ rừng. Quần áo không giặt nên bốc mùi hôi hám. Hầu hết đều bị ghẻ do muỗi đốt, vắt cắn.Việc Hà Hoài Hùng bỏ trốn – rồi sau đó súng nổ khiến Hoàng Cơ Minh hiểu rằng kế ly gián đã thất bại. Trước ngày lên đường, tin tình báo của nhóm thổ phỉ Lào cho biết trên địa bàn tỉnh Xa La Van, bộ đội cách mạng Lào có khoảng 1 trung đoàn, chưa kể dân quân, du kích địa phương.

Quân số của một trung đoàn khoảng gần 3.000 người, được trang bị, tiếp tế đầy đủ trong lúc nhóm phản động chỉ hơn 100 tên nên nếu chạm nhau trực diện, thì chết là cái chắc.

Sáng ngày thứ 12 trong lúc các dân đoàn viên, kẻ loay hoay tháo võng, kẻ nấu cơm thì bất ngờ, có tiếng súng nổ dồn dập từ phía quyết đoàn đi đoạn hậu. Lợi dụng lúc bọn phản động đang chuẩn bị di chuyển, toán trinh sát bộ đội cách mạng Lào bất ngờ tập kích rồi nhanh chóng biến mất.

Kiểm điểm lại, chỉ có Huỳnh Văn Tiến bị thương nặng vì mảnh B40.Y tá Lý Hổ được gọi đến nhưng trước khi đến, “ủy viên trung ương mặt trận” Nguyễn Huy kéo Lý Hổ ra một góc, nói nhỏ vài câu. Băng vết thương cho Tiến xong, Lý Hổ chích cho gã một mũi thuốc. Vài phút sau, Tiến nấc lên, mắt trợn ngược.

Lúc này, cả nhóm phản động thuộc Quyết đoàn Anh dũng đều biết rằng Nguyễn Văn Tiến đã bị chích thuốc cho chết, để khỏi trở thành gánh nặng cho cả đoàn. Xác Nguyễn Văn Tiến bọc trong mảnh nylon, kéo lá rừng phủ lên vì chẳng còn thời gian đào huyệt. Tài sản của Tiến, mỗi gã lấy một vài món. Riêng phần cơm mà lẽ ra sẽ chia cho Nguyễn Văn Tiến ăn bữa sáng, thì dân đoàn viên Thạch Chen bỏ ngay vào trong balô.

Sau khi bị tập kích, bọn phản động được lệnh đi nhanh hơn nhưng tốc độ xem ra cũng chỉ được khoảng 3km mỗi giờ. Một phần vì địa thế hiểm trở, phần nữa vừa đi vừa dò dẫm. Suốt buổi sáng, tình hình yên tĩnh nhưng đến giữa trưa, đột ngột từng loạt đạn súng cối nổ tung giữa đội hình Quyết đoàn Anh dũng. Lúc này, bọn phản động đang ở trên một đỉnh núi.Trong những ngày cuối cùng của “chiến dịch Đông tiến 2”, nhóm phản động Hoàng Cơ Minh chỉ còn chưa đầy 40 tên, hầu hết đều bị thương hoặc kiệt sức vì đói. Lương thực mang theo cạn kiệt nên nhiều tên dù muốn trốn, cũng chẳng biết về đâu. Hơn nữa, các bản án tử hình mà Hoàng Cơ Minh thi hành với đồng bọn khi phát hiện âm mưu đào ngũ đã làm bọn chúng kinh sợ.

Ngày tàn của bọn xâm nhập

Trước khi “chiến dịch Đông tiến 2” bắt đầu, Hoàng Cơ Minh quyết định giết bác sĩ Nguyễn Hữu Nhiều, Ngô Chí Dũng vì cho là chống đối, giết Trần Tuyết Ánh, A Hừng, Bùi Duy Hiền, Lưu Tuấn Hùng, Võ Sĩ Hùng, Đào Văn Lâm do nghi ngờ bỏ trốn, giết Thạch Kim Ca, Trần Tự Nhiên… vì nghi là nội gián.

Trên đường hành quân, Hoàng Cơ Minh còn cho các quyết đoàn trưởng, dân đoàn trưởng được quyền giết những tên thương binh như Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Anh Điền, Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Văn Hòa…, hoặc bỏ mặc nằm chết giữa rừng để khỏi phải khiêng, cáng. Ngay cả Lê Hồng (bí danh Đặng Quốc Hiền), cựu trung tá nhảy dù quân đội Sài Gòn, được Minh phong làm “thiếu tướng, tư lệnh quân kháng chiến”, cũng bị Hoàng Cơ Minh giết vì đã dám chất vấn Minh về những mờ ám trong việc sử dụng tiền.

Sáng 24, nghĩa là đúng 1 tháng 6 ngày kể từ khi “chiến dịch Đông tiến 2” bắt đầu, bọn phản động tiến gần đến bản Phón, thuộc tỉnh Xa La Van. Đêm hôm trước, lại có thêm 3 tên bỏ trốn là Phạm Hoàng Tùng, Hà Văn Lâm và Đặng Quốc Hùng.

Trốn khoảng nửa ngày, chúng gặp Nguyễn Văn Thông, cũng đang trốn nên cho đi cùng. Lúc đi hái măng, Phạm Hoàng Tùng bị lạc rồi bị bộ đội cách mạng Lào bắt sống. Hai ngày sau, 3 tên còn lại cũng vào trại giam.

Trở lại chuyện bản Phón, từ trên đỉnh núi nhìn xuống thấy mấy nóc nhà, Đinh Văn Bé, khi đó được đưa lên làm “quyết đoàn trưởng”, đã đề nghị Hoàng Cơ Minh cho 2 dân đoàn viên vào bản mua lương thực với mệnh lệnh “không mua được thì cướp”.

Tài sản duy nhất mà chúng còn lại là 5 chỉ vàng, do Hoàng Cơ Minh giữ, được lấy ra đưa cho Trần Văn Yên và Huỳnh Văn Miền. Cũng cần nhắc lại khi thành lập “mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam”, bên cạnh hệ thống kinh tài là một chuỗi những tiệm “phở Hòa”, Hoàng Cơ Minh và bọn cầm đầu như Hoàng Cơ Định, Phạm Văn Liễu, Nguyễn Kim còn tổ chức nhiều đợt quyên góp trong cộng đồng người Việt hải ngoại dưới chiêu bài “ủng hộ kháng chiến”.

Và nếu ai không đóng góp, thì bị bọn chúng chụp cho cái mũ “cộng sản nằm vùng”, rồi cho tay chân hành hung, hăm dọa, thậm chí ám sát mà cụ thể là giết vợ chồng nhà báo Lê Triết khi Triết cho đăng loạt bài vạch trần sự bịp bợm của “mặt trận Hoàng Cơ Minh”.

Tổng số tiền bọn Hoàng Cơ Minh thu được, theo số liệu của Cục Điều tra liên bang và Sở Thuế Mỹ sau này, là khoảng 10 triệu USD. Phần lớn số tiền ấy ngoài việc chui vào túi bọn cầm đầu, chúng còn dùng để ăn chơi, du hí ở Nhật, Pháp, Thái Lan, Đức bằng hình thức “đi công cán”, cũng như để mua lương thực, vũ khí, mua vàng cho các “chiến dịch Đông tiến”.

Sau khi “chiến dịch” bị đánh tan nát, Hoàng Cơ Minh phải đền tội, một số tên cầm đầu còn lại lặng lẽ lấy tiền chia nhau, mua cổ phần trong những công ty chứng khoán, hoặc lập những đội tàu đánh cá, và nó nghiễm nhiên trở thành tài sản riêng.

Cầm 5 chỉ vàng, Trần Văn Yên và Huỳnh Văn Miền xuống núi. Nhưng mới đi chưa được 50 mét, một loạt AK vang lên đanh gọn, khiến Trần Văn Yên chết ngay. Cùng lúc, tứ bề súng nổ giòn, cả tiếng AK lẫn tiếng đạn cối, đạn sơn pháo. Huỳnh Văn Miền lủi vào một hốc đá, giơ khẩu M16 lên đầu, bắn bừa.

Ở phía trên, Hoàng Cơ Minh lăn xuống khe suối cạn, cánh tay trái máu tuôn xối xả vì mảnh đạn cối ghim phải. Trên ghềnh đá bên bờ suối, dân đoàn viên Tạ Hoàng Thiện lãnh nguyên một trái M79 nổ tung vào mặt.

Lẫn trong tiếng súng nổ, là tiếng quát gọi hàng của bộ đội cách mạng Lào.

Trần Đế, Quyết đoàn phó Quyết đoàn Cải Cách dẫn 4 dân đoàn viên, vừa bắn loạn xạ, vừa lùi xuống khe suối cạn nơi Hoàng Cơ Minh đang nằm lăn lộn.

Chưa kịp đặt chân xuống lòng suối lổn nhổn đá củ đậu, dân đoàn viên Nguyễn Văn Sĩ ngã bổ ngửa ra, máu từ ngực phun thành tia, còn dân đoàn viên Ngô Tấn Nghiêm, chân phải đứt tới háng, chỉ còn dính lại bằng mẩu da lủng lẳng.

Cạnh đó, “ủy viên trung ương mặt trận” Trần Khánh nằm chết.Khoảng 40 phút sau, tiếng súng im hẳn. Bọn phản động chết 6, bị thương 3, còn vài tên bỏ trốn hoặc chạy lạc. Thuốc men hầu như chẳng có gì nên cánh tay Hoàng Cơ Minh chỉ được băng bó bằng một miếng giẻ, xé ra từ chiếc khăn rằn quấn cổ.

Kiểm điểm lại, chúng chỉ còn 26 tên trong đó 4 tên không vũ khí vì chúng đã vứt bỏ khi tháo chạy.Đạn dược cũng thế, mỗi tên chỉ còn chừng 3 băng với vài quả lựu đạn. Bên bờ suối, tiếng rên của Ngô Tấn Nghiêm lúc nghe như con lợn bị chọc tiết, lúc chỉ ư ử trong cuống họng nhưng chẳng tên nào còn đủ tinh thần để kết thúc nỗi đau đớn cho mình.

Cái chết của Trần Khánh khiến Hoàng Cơ Minh mất tinh thần. Đây là lần đầu tiên, bọn phản động nhìn thấy Hoàng Cơ Minh mặt tái mét, tay run rẩy, mắt mở trừng trừng nhìn xác Trần Khánh. Là nhân vật thứ hai – chỉ đứng sau Hoàng Cơ Minh trong “chiến dịch Đông tiến”, phụ trách tâm lý chiến, Trần Khánh còn có bí danh là Trần Thiện Khải, một thời gian dài chỉ huy và điều hành đài phát thanh “kháng chiến” đặt trên đất U Bon, Thái Lan.Tự nhận là mình có họ hàng với nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, tức ca sĩ Nhật Trường, Khánh đã sáng tác một số bài hát nhằm lên dây cót tinh thần đồng bọn. Những gã bị bắt sau này cho biết, Trần Khánh có tác phong quân phiệt, thường xuyên la hét, đánh chửi “chiến hữu”.

Trong suốt thời gian thực hiện “chiến dịch Đông tiến 2” cho đến khi chết, Khánh đã trực tiếp hạ lệnh cho các dân đoàn, quyết đoàn giết chết ít nhất là 7 tên đồng bọn bị thương, đồng thời bỏ rơi hàng chục tên khác khi thấy chúng kiệt sức.

Trời bắt đầu đổ mưa, cơn mưa càng lúc càng nặng hạt. Lợi dụng thời tiết, Hoàng Cơ Minh ra lệnh cho bọn phản động nhanh chóng rời con suối lúc này đã ngập nước, bỏ mặc 3 tên bị thương nằm lại với đất trời.

Xẩm tối, chúng phát hiện ra một hang đá, cả bọn chui vào ẩn náu. Nếu không kể những tên từ Mỹ, Pháp, Nhật, Đức về, thì hầu hết dân đoàn viên đều là những tên vượt biên – trong đó không ít là các sắc lính quân đội Sài Gòn, vào trại tị nạn Sikhiu ở Thái Lan, rồi được Hoàng Cơ Minh tuyển mộ với lời hứa “sẽ cho đi định cư tại Mỹ” sau khi hoàn thành nhiệm vụ.–

Nhưng đến giờ phút này, chẳng tên nào còn nghĩ đến giấc mơ được tới nước Mỹ, mà chỉ mong thoát khỏi vòng vây của bộ đội Lào. Trước lúc lên đường, chúng bóp nhỏ những gói mì, nhét xuống đáy ba lô. Thịt gà, thịt heo, chúng xé nhỏ, rang thật mặn rồi ém chặt. Bây giờ vét kỹ, còn được vài nắm nên chúng hứng nước mưa, nấu thành một thứ canh lõng bõng, chia nhau húp.

Mưa suốt cả ngày hôm sau. Và có lẽ cơn mưa cũng gây khó khăn cho bộ đội cách mạng Lào, nên chúng tạm thời yên ổn. Đói quá, một vài tên liều mạng bò ra ngoài, hái mấy mớ rau rừng về luộc. Tâm trạng tuyệt vọng khiến cả bọn hầu như chẳng còn suy nghĩ gì nữa. Chúng đốt lửa sáng rực, vừa để hong khô những bộ quần áo, vừa đỡ lạnh.

Vết thương trên cánh tay nhiễm trùng khiến Hoàng Cơ Minh lên cơn sốt. Y nằm co quắp trong một góc, chẳng “chiến hữu” nào còn để ý đến y. Tất cả chỉ lo cho mạng sống của mình. Nhiều tên thì thào với nhau, rằng nếu bộ đội Lào đánh vào, chúng sẽ đầu hàng hết.

Sáng 28/8, trời tạnh. Khoảng 9 giờ, Hoàng Cơ Minh ra lệnh lên đường. Trước lúc di chuyển, y nói với đám tàn quân, rằng ai có thể quay về đất Thái thì cứ về. Chẳng phải y tốt lành gì nhưng có lẽ y nghĩ đến phát súng “ân huệ” của đồng đội khi cánh tay y sưng to vì nhiễm trùng, đi phải chống gậy. Nhưng về thế nào được nữa khi tấm bản đồ duy nhất, đã nằm cùng với xác Trương Ngọc Ny.

Cả bọn dò dẫm ra khỏi cửa hang. Sau cơn mưa, vắt xuất hiện nhiều vươn mình bám chặt vào những ống chân khẳng khiu, ghẻ lở, nhưng chẳng tên nào còn tinh thần đâu mà gỡ.

Võ Hoàng, “Tổng thư ký hội văn nghệ sĩ mặt trận” kéo “dân đoàn trưởng” Võ Văn Tuấn lùi lại phía sau, vừa bước vừa hỏi nhỏ “Nếu quay lại Thái Lan thì đi đường nào, mất bao nhiêu ngày?”.Tuấn dáo dác nhìn quanh như sợ có người nghe thấy, rồi vẫy “dân đoàn viên” Nguyễn Linh lên: “Hồi trước nghe nói mày có đi khai thác gỗ ở Lào phải không?”. Linh gật đầu: “Dạ. Em đi tuốt tới gần biên giới Thái Lan, rồi em chạy qua đó xin… tị nạn luôn” – “Vậy mày còn nhớ đường không?” – “Nếu đi đường từ Quảng Trị lên thì em nhớ, chứ đường này lạ quá. Thái Lan nằm ở phía Tây, là sau lưng mình…”.

Võ Văn Tuấn gừ gừ trong cuống họng: “Thôi, nghe thì biết vậy thôi. Hó hé ra là mày chết trước. Từ bây giờ, mày đi sát với tao”.

9 giờ 30 sáng, trời không có nắng nên quang cảnh vẫn âm u. Đám tàn quân nặng nề lê bước nhưng không phải là tản ra theo đội hình vừa đi, vừa sẵn sàng nổ súng như những ngày đầu, mà co cụm lại với nhau. Qua một trảng cỏ tranh trống trải, chúng cũng chẳng buồn ngụy trang vì đối với nhiều tên trong bọn, cái chết lúc này chính là sự giải thoát, còn bị bắt thì coi như được sinh ra lần thứ hai.

Mặc dù Hoàng Cơ Minh đã tuyên bố cho phép đám phản động được trở lại đất Thái, nhưng chẳng tên nào dám công khai quay lưng bởi lẽ đường sá không rành, lương thực không có, lại thêm bộ đội cách mạng Lào lúc ẩn lúc hiện nên chúng chẳng còn cách nào khác hơn là bám theo bầy đàn.

Sau này, trong trại giam, “dân đoàn viên” Nguyễn Văn Đức kể lại: “Kể cả Hoàng Cơ Minh, chẳng ai còn tinh thần và cũng chẳng ai có một tí hy vọng gì về cuộc “Đông tiến”.

Trước lúc lên đường, ông Minh nhiều lần thao thao bất tuyệt về các “khu chiến quốc nội”, về các “đường dây xâm nhập”, về các “trạm dưỡng quân” đã được thiết lập từ nhiều năm trước. Thực tế cho thấy Hoàng Cơ Minh chỉ giỏi nói dóc, đánh lừa…”.

Đi được chừng 1km, lúc cả bọn đang dò dẫm bước xuống những tảng đá trơn trợt, thì súng lại nổ. Võ Hoàng – “tổng thư ký hội văn nghệ sĩ mặt trận” bị một quả M.79 vào đầu. Nguyễn Văn Đẩu, tên còn khỏe nhất, đeo balô đựng quần áo, tài liệu của Hoàng Cơ Minh lĩnh nguyên một loạt AK vào bụng. Quyết đoàn phó Trần Đế vừa giương súng bắn bừa, vừa kéo Hoàng Cơ Minh, xuống con suối cạn, là điểm tiếp giáp giữa hai ngọn núi. Dân đoàn trưởng Đinh Văn Bé, có nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Cơ Minh và Nguyễn Tấn Phát, “dân đoàn viên” nhỏ tuổi nhất, mới có 16 tuổi cũng vội vã lao theo.

Bộ đội cách mạng Lào tràn xuống tiếp tục bắn Dân đoàn phó Nguyễn Vĩnh Lộc trúng đạn, giãy đành đạch, dân đoàn trưởng Võ Văn Tuấn ngã gục như thân chuối bị phạt ngang. Biết là chẳng còn làm gì được nữa, Hoàng Cơ Minh rút khẩu súng ngắn Browning đeo bên mình, kê lên thái dương bóp cò tự sát. “Ủy viên trung ương” Nguyễn Huy cũng tự sát. Riêng Lưu Minh Hưng, “ủy viên mặt trận” khi vừa buông chốt quả lựu đạn ra, định ném thì bất ngờ lựu đạn nổ. Cả nửa thân trên của Hưng chỉ còn là nhúm thịt bầy nhầy…

* * *

Sáng ngày 1/12/1987, Tòa án nhân dân TP HCM đã mở phiên xét xử những tên phản động trong nhóm Hoàng Cơ Minh do Chính phủ nhân dân Cách mạng Lào chuyển giao vì mục tiêu của chúng là xâm nhập, bạo loạn lật đổ Nhà nước Việt Nam.

Chúng đã lĩnh án từ 3 năm tù đến chung thân. Tổng cộng trong số 130 tên xâm nhập, có 83 tên chết. 19 tên bị bắt, số còn lại bỏ trốn khi đang trên đường xâm nhập.

Năm 1990, khi tình hình Liên Xô và các nước Đông Âu có nhiều biến động, hí hửng tưởng rằng thời cơ đã tới, “quyết đoàn trưởng mặt trận Hoàng Cơ Minh” là Đào Bá Kế, nguyên sĩ quan Binh chủng nhảy dù, quân đội Sài Gòn, đã dẫn 30 tên mở cuộc “Đông tiến 3”.

Nhưng cũng như nhóm phản động do Hoàng Cơ Minh cầm đầu, “chiến dịch Đông tiến 3” bị đánh tan tác. Nhiều tên chết, nhiều tên bị bắt trong đó, Đào Bá Kế lĩnh án tù chung thân

Nguồn Gốc Tiếng Việt

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

THS2018 – Lượm trên NET

Tĩnh Túc

Không có mô tả ảnh.

Tiếng nói là nhịp cầu cảm thông để trao đổi tư tưởng trong sinh hoạt xã hội giữa con người cùng dòng giống xứ sở. Có con người là có ngôn ngữ. Ngôn ngữ văn tự có ảnh hưởng rất lớn và quan hệ mật thiết đến sự hưng vong của giống nòi. Dân tộc có một trình độ văn hóa cao, càng văn minh thì họ lại càng chú trọng đến ngôn ngữ văn tự.

Dân tộc ta, ngót năm ngàn năm lịch sử, có cùng chung một gốc, cùng chung một tiếng nói. Từ Bắc chí Nam, ngoại trừ một số dân thiểu số còn dùng thổ âm và một số địa phương dùng phương ngữ hay phát âm có đôi chút sai biệt, chúng ta đều nói, nghe và hiểu một thứ tiếng, đó là tiếng Việt Nam.

Vậy tiếng Việt có tự bao giờ!?

Tiếng Việt bắt nguồn từ đâu!?


Tiếng Việt có phải tự ngàn xưa đã là một tiếng nói thật sự thuần Việt hay là một kết quả của sự hỗn hợp trại lẫn của nhiều tiếng nói khác nhau ?!

Trước khi tìm về cội nguồn tiếng Việt, việc phải làm đầu tiên là ta phải đi ngược dòng thời gian để tìm ra gốc tích của tổ tiên Việt Nam. Qua đó, ta mới có thể truy nguyên được tiếng nói của dân tộc. Vì thời gian lịch sử xa xăm mù mịt, vấn đề nguồn gốc Việt Nam, cũng như nguồn gốc tiếng Việt thật khó mà khẳng định một cách chính xác. Kê cứu theo sử ký, truyền thuyết, giả thuyết và nhất là những ý kiến, lập luận, ức thuyết của các học giả, sử gia Việt, Pháp, Tàu thì vấn đề này càng rẽ ra trăm mối, bất nhất và mâu thuẫn. Tuy nhiên, tôi cũng ghi chép lại những điều đã đọc để các bạn rộng đường thảo luận và kính xin các bậc thức giả sửa sai hoặc góp ý giùm cho.

Nguồn gốc dân tộc Việt

Tiếng Việt vào thời đại sơ cổ:


Kể từ trời mở viêm bang
Sơ đầu có họ Hồng Bàng mới ra
Cháu đời Viêm Ðế thứ ba
Nối dòng Hỏa Ðức gọi là Ðế minh
Quan phong khi giá Nam hành
Hay đâu Mai Lĩnh duyên sinh Lam Kiều
Vụ Tiên vừa nở đào yêu
Xe Loan nối gót, tơ điều kết duyên
Dòng thần sánh với người tiên
Tinh anh nhóm lại, thánh hiền nối ra
Phong làm quân trưởng nước ta
Tên là Lộc Tục, hiệu là Kinh Dương
Hóa Cơ dựng mối luân thường
Ðộng Ðình sớm kết với nàng Thần Long
Bến hoa ứng vẻ lưu hồng
Sinh con là hiệu Lạc Long trị vì
(1)

Theo truyền thuyết (tục truyền) thì khai mở họ Hồng Bàng (2879 – 258 tr. CN) là Lộc Tục, con trai vua Ðế Minh. Sau Ðế Minh nhường ngôi lại cho con trưởng là Ðế Nghi làm vua phương Bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, lấy quốc hiệu là Xích Quỷ. Bờ cõi nước Xích Quỷ phía bắc giáp Ðộng Ðình Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Ðông hải. Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào khoảng năm Nhâm tuất (2879 tr. CN) và lấy con gái Ðộng Ðình Quân là Long Nữ đẻ ra Lạc Long Quân Sùng Lãm.

Lạc Long Quân lấy con gái vua Ðế Lai tên Âu Cơ, sanh được 100 con trai. Chia 50 đứa con theo mẹ lên núi, 50 đứa con theo cha xuống bể Nam Hải. Lạc Long Quân phong cho con trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương, tức Quốc tổ của dân tộc Việt Nam ngày nay. (2)

Tuy nhiên, theo sách Ðại Việt Sử Lược do Tiền Hi Tộ đời nhà Thanh hiệu đính, có ghi một đoạn rất quan trọng như sau:

“Ðến đời Trang Vương nhà Chu, năm 696-682 tr. CN, ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật, áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu nước là Văn Lang… Truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương.”(3)

Như vậy là Hùng Vương đã xuất hiện ở thế kỷ thứ 7 tr. CN. Từ đó cho tới năm 257 tr. CN thì nước Văn Lang bị Thục An Dương Vương thôn tính. Tính ra họ Hùng trị vì được 439 năm, nếu đem ra 18 đời, thì mỗi đời trung bình từ 25 tới 30 năm. Như thế có phần xác thực hơn là nói họ Hồng Bàng và họ Hùng cai trị cả mấy nghìn năm như truyền thuyết ghi chép.

Thế nhưng trong truyện số 10 của Lĩnh Nam Chích Quái nói về chim Bạch trĩ, lại thấy ghi rằng: về đời vua Thành Vương nhà Chu, Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là họ Việt Thường đem chim trĩ sang cống hiến. Vì ngôn ngữ bất đồng, Chu công phải dùng ba lần thông ngôn mới hiểu nhau được. Căn cứ vào sử ký của Tư Mã Thiên, bộ sử xa xưa nhất của Trung Hoa có ghi chép như sau:

“Năm Tân Mão thứ 6 (nhằm năm 1110 tr. CN) đời Thành Vương nhà Chu, phía nam bộ Giao Chỉ có họ Việt Thường, qua ba lần sứ dịch, dâng chim trĩ trắng.”(4)

Nếu đúng như vậy thì họ Hùng Vương đã trị vì ít nhất là trên 800 năm. Không đúng theo sử ký của Tiền Hi Tộ, trong Tứ Khố Toàn Thư của nhà Thanh. Lại càng không đúng với Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim hoặc của truyền thuyết.

Ðó là chiếu theo sử ký và tục truyền để tìm ngọn ngành tổ tiên dân Việt, mà chúng ta cũng đã thấy nhiều điều không trùng khớp hoặc bất đồng kiến với nhau. Nhưng cũng nhờ qua tài liệu quan trọng nêu trên, ta có thể chắc rằng dân tộc Việt bấy giờ có một ngôn ngữ riêng biệt. Chính vì thế mà vua Chu đã phải ba lần kiếm tìm người thông ngôn mới có thể hiểu nhau được.

Về gốc tích của dân Việt, theo sự ghi chép của ông Trần Trọng Kim, dựa vào lập luận của các nhà nghiên cứu nước Pháp, viết rằng:

“Theo ý kiến của những nhà kê cứu của nước Pháp, thì người Việt Nam và người Thái đều ở miền núi Tây Tạng xuống. Người Việt theo sông Hồng Hà lần xuống đông nam, lập ra nước Việt Nam ta bây giờ. Còn người Thái thì theo sông Mê kông, lập ra nước Tiêm La (Thái Lan) và các nước Lào.”

Lại có nhiều người Tàu và người Việt cho rằng, nguyên khi xưa đất nước Tàu có giống dân Tam Miêu ở, sau đó giống Hán tộc ở phía Tây bắc đến đánh đuổi, chiếm giữ vùng sông Hoành hà lập ra nước Tàu, rồi lấn dần xuống phương nam. Người Tam miêu phải lẩn tránh vào rừng núi hoặc đào tị xuống miền Việt Nam ta bây giờ. (5) Tuy nhiên, ngay chính ông Trần Trọng Kim cũng không tin vào giả thuyết này.

Trong quyển Văn Phạm Việt Nam của Bùi Ðức Tịnh (tr. 171 – 188) khi viết về lịch sử tiếng Việt, ngay câu đầu tiên ông Bùi Ðức Tịnh tán thành thuyết của các học giả cho rằng Việt ngữ là một thứ tiếng thuộc về dòng Thái. Vì dòng tiếng Thái có hai đặc điểm: giọng trầm bổng như tiếng Trung Hoa, vừa có ngữ pháp đặt xuôi của loại tiếng Ấn độ – Mã Lai. Nhà bác học Schmidt cho rằng dòng tiếng Thái thuộc về tông-chi rộng-rãi bao trùm các ngôn ngữ của những thị tộc Ðông Nam Á và Ðại dương châu thời sơ cổ, và đề nghị đặt tên cho tông chi ngôn ngữ này là ”tông chi Úc – Á”. Nhưng thuyết của ông không được chứng minh một cách đầy đủ. Bác sĩ Rivet, trong đại hội các nhà tiền sử học họp tại Hà Nội vào năm 1932 cũng có đưa ra một ức thuyết: Từ miền nam châu Á hoặc từ Nam dương quần đảo, vào một thời đại tối cổ, đã có những đoàn di dân tản mác đi theo hình rẻ quạt, vượt trùng dương đến ở những đảo rải rác trên Thái bình dương và Ðại tây dương … Người ta thường gọi chung họ là các giống Ðại dương nhân (Océaniens). Ðó là những người Ne’gritos, Me’lane’sien (Australien), Indone’sien và Mông cổ. Theo các nhà nhân chủng học, có lẽ trước tiên, tại bán đảo Ðông dương có hai giống người Me’lane’sien và Indone’sien. Do đó, có thể ức đoán rằng vào thời sơ cổ, đã có những thị tộc người Indone’sien ở vùng trung châu Bắc Việt và miền bắc Trung Việt. Một mặt khác, trước đời nhà Chu (khoảng 1050 đến 771 tr. CN) khắp vùng lưu vực sông Dương Tử, từ miền Vạn Huyện tỉnh Tứ Xuyên cho đến dọc miền biển cũng đã có chi nhánh của chủng tộc Indone’sien, mà sử gia Tàu gọi họ là giống Man di. Những phần tử Việt tộc này đã di cư lần xuống miền Nam theo đường sông hoặc đường biển.

Theo Ðào Duy Anh, có lẽ nhóm Việt tộc ở miền bờ biển Phước Kiến, hằng năm dùng thuyền gỗ hoặc mảng tre giăng buồm, nhân gió bấc vượt biển đến các miền duyên hải phương nam, đại khái vùng Hải nam, vùng trung châu sông Nhị và sông Mã phía Bắc Việt ngày nay. Ðến mùa gió Nồm, họ lại vượt biển trở về nguyên quán. Thế là ngay từ những ngày rất xưa, đã có sự tiếp xúc người Indonesian ở dọc theo bờ biển nước Bắc Việt với những người Indonesian, chi nhánh Việt tộc, ở vùng Phước Kiến. Khi nước Việt bị nước Sở diệt (333 tr. CN) làn sóng Việt tộc tràn xuống miền nam càng nhiều. Nhóm Việt tộc vùng Phước Kiến di cư vào miền bắc Việt nam, là nơi đã quen biết trước. Họ đem theo cái thị tộc cũ là Lạc, và một nền văn hóa tuy có chỗ tương đồng với thổ dân trước nhưng đã chịu ít nhiều ảnh hưởng của giống Mongolic ở phương Bắc. Sở dĩ có tên Lạc Việt ấy là vì trong các cuộc vượt biển hàng năm, nhóm Việt tộc vùng Phước Kiến đi và về đồng thời với một giống hậu điểu thuộc loại ngỗng trời gọi là chim Lạc. Có lẽ họ đã nhận giống chim ấy là vật tổ .(6)

Theo nhà sử học người Pháp, ông Léonard Aurousseau, căn cứ vào tài liệu sử sách Trung Hoa, thì dân tộc Việt Nam chính là một trong các dân Bách Việt gốc ở tỉnh Chiết Giang (Trung Hoa) vào khoảng thế kỷ thứ 5 tr. CN, rồi lần xuống phía nam, hợp với dân bản xứ, nhờ vào điều kiện địa dư thuận tiện, đã chống lại sự xâm lăng của Tần Thủy Hoàng. Dưới đời Triệu Ðà, nhờ chế độ cai trị dễ dãi mà Triệu Ðà khôn khéo biệt lập, tự củng cố địa vị ở phía nam xứ Trung Hoa, tránh được ảnh hưởng của người Tàu .(7)

Nhưng lập luận này đã không đứng vững khi ông Phạm Quỳnh xét về phương diện ngôn ngữ đã chất vấn trong bài ” Xét về cội rễ tiếng Việt Nam” như sau: (8)

“Bọn dân Việt hồi đó, rợ Bách Việt là thủy tổ cho dân Việt Nam đó, nói tiếng gì? Nếu là tiếng Trung Hoa thì không hiểu làm sao mà biến mất hẳn đi mà xuất hiện ra một thứ tiếng khác hẳn tiếng Trung Hoa. Nếu không phải là tiếng Trung Hoa, thì các rợ Bách Việt ấy tất phải có một hay nhiều thứ tiếng thổ âm riêng. Như vậy thì sao trong suốt các rợ Bách Việt ấy duy có người Việt Nam, tuy sau này còn phụ thuộc Trung Hoa đến ngàn năm nữa mà vẫn giữ được tiếng nguyên âm, còn thời các rợ khác ở Nam Phương nước Tàu bỏ mất hết đi để nói tiếng Trung Hoa cả? Nếu ta thừa nhận cái thuyết của ông Léonard Aurousseau, thì cái vấn đề tiếng nói tưởng cũng khó giải quyết vậy”.

Theo ông Lê Ngọc Trụ (9) thì dân tộc Việt Nam đã có từ lâu đời sinh sống tại đồng bằng Bắc Việt. Còn nhóm người Việt (Câu Tiễn) miền Chiết Giang, sau thời loạn Xuân Thu bị nhà Sở thôn tính (333 tr. CN) đã di cư xuống miền nam theo đất liền đến chung sống với các dân tộc khác như Việt-Ðông-Hải vùng Ô Châu, Mân-Việt vùng Phúc Châu, Nam-Việt vùng Quảng Ðông, Âu-Lạc-Việt vùng phía nam tỉnh Quảng Tây và Bắc Việt Nam, một lớp vào tới cả Thanh Hoá (Cửu Chân). Nhưng họ chỉ là nhóm người thiểu số và bị đồng hóa, chứ họ chẳng phải là gốc tích tổ tiên Việt Nam như ông Léonard Aurousseau đã nêu ra. Ngoài ra, ông Lê Ngọc Trụ còn cho rằng(10), tổ tiên dân tộc Việt đã cư trú ở những vùng triền núi từ sông Ðà (Hắc giang) tới Quảng Bình, sống chung hoà với dân tộc Mường. Cho nên đến ngày nay, tiếng nói ở những vùng này có nhiều chỗ tương tợ tiếng Mường. Dân Mường là dân miền núi, cho nên họ rút lần rải rác vào sâu dãy Hoành Sơn, do đó họ không bị ảnh hưởng văn hoá của các đại cường quốc Ấn Tàu, và chính vì thế họ vẫn giữ được các cổ tục và tiếng nói của họ cũng không bị thay đổi nhiều. Nên khi so sánh hai thứ tiếng Mường Việt, ông cho rằng tiếng Việt và tiếng Mường có lẽ từ một nguồn gốc mà ra. Thí dụ:


Mường Thạch Bi Hà Tĩnh Hà Nội
ka Ga Gà
kảy Gái Gái
kốk kộk Gốc
ka?w Ga.w Gạo


Tiến sĩ Hương Giang Thái Văn Kiểm cũng có cùng quan điểm lập luận như giáo sư Lê Ngọc Trụ và cho rằng, dân Bách Việt phát xuất từ miền Duyên hải miền nam Trung Hoa và giống dân Lạc Việt sinh sống lâu đời tại đồng bằng miền Bắc Việt Nam hoàn toàn không cùng chủng tộc. Sau nhiều cuộc xung đột, hai giống tộc này đã chịu hòa đồng chung sống với nhau như một đại tộc. Về sau, người Mường, cũng là sắc dân Lạc, đã chạy vào ẩn núp trong núi rừng, cao nguyên, để tránh sự xâm lăng đô hộ của người Tàu. Nhờ đó, họ vẫn giữ nguyên được ngôn ngữ, phong tục tập quán và kỹ thuật đúc trống đồng mà trước thời kỳ Bắc thuộc đã được đúc tại miền duyên hải Bắc việt và lưu vực sông Mã (nền văn hoá thạch khí Hòa Bình và Bắc Sơn với nền văn hoá đồng đen Ðông Sơn). Do đó các nhà nhân chủng học cho rằng: ” người Mường là Tiền-Việt” (proto Vietnamiens)(11) , vì trong ngôn ngữ, tục lệ có nhiều điểm tương đồng với người Lạc. Ông có tìm được bản văn Mường-Việt nói về sự tích của sông Pờ (sông Bờ, tức sông Hồng ngày nay) trong quyển Cours de Langue Annamite của A. Cheon, do nhà in F-h Schneider, xuất bản tại Hà Nội năm 1899-1901 (nguyên văn):

“Khây khước măng pâu pô. Khi trước nghe người ta nói rằng cỏ mống ông, thên hốp là rằng có một ông tên gọi là ông Tùng, mà cở hai bợ chồng; ông Ðồng, mà cở hai bợ chồng nã rú ra tế nã lấp cải nó rủ nhau để nó lập cái ksông Pơ. Nã tan lẽ ksông sông Bờ. Nó toan lấy sông Pờ pao tất Thạch Bi. Bơ nã Bờ vào đất Thạch Bi. Vợ nó mê, ti lê ksú tê, nã lấp mới đi lấy đá, để nó lấp ksông. Lòng klởi skinh tha sông. Lòng trời sinh ra mốch ông hốp là ông Sách; một ông gọi là ông Sắt; me thuỗng mê thếch pât bởi mói xuống mới thách vật với ông Tùng. Nã me pao lò, nã ông Ðồng. Nó mới vào lò; nó tỏ ming nã pât ông Tùng đỏ mình nó mới vật ông Ðồng. Ông Tùng mê chẩi hết mìng, ông Ðồng mới cháy hết mình, mê chết. Cho đên cải ksông mới chết. Cho đến cái sông dỉ chăng lấp ản, mê dênh cải cấy chẳng lấp được, mới nên cái Thác pờ dỉ. Thác bờ ấy.”

Ðọc đoạn văn trên, ta thấy tiếng Việt được chuyển dịch xen kẽ lẫn vào bản văn tiếng Mường, rất tối nghĩa. Cho nên tôi mạo muội viết ra hai bản Mường và Việt rõ ràng để quí vị dễ đọc và so sánh:


Bản văn tiếng Mường:

“Khây khước măng pâu pô, cỏ mống ông thên hốp ông Ðồng, mà cở hai bợ chồng nã rú ra tế nã lấp cải ksông Pơ. Nã tan lẽ ksông Pờ pao tất Thạch Bi. Bơ nã mê, ti lê ksú tê nã lấp ksông. Lòng klởi skinh tha mốch ông hốp là ông Sách me thuỗng mê thếch pât bởi ông Ðồng. Nã me pao lò, nã tỏ ming nã pât ông Ðồng. Ông Ðồng mê chẩi hết mìng, mê chết. Cho đên cải ksông dỉ chăng lấp ản, mê dênh cải cấy cái Thác pờ dỉ.”


Bản văn dịch sang tiếng Việt:

“Khi trước nghe người ta nói rằng, có một ông tên gọi là ông Tùng, mà cả hai vợ chồng nó rủ nhau để nó lấp cái sông Bờ. Nó toan lấy sông Bờ vào đất Thạch Bi. Vợ nó mới đi lấy đá, để nó lấp sông. Lòng trời sinh ra một ông gọi là ông Sắt mới xuống mới thách vật với ông Tùng. Nó mới vào lò, nó đỏ mình nó vật ông Tùng. Ông Tùng mới cháy hết mình, mới chết. Cho nên cái sông ấy chẳng lấp được, mới nên cái Thác bờ ấy.”


Khi nhắc đến nguồn gốc của Việt ngữ, ông Phạm Thế Ngũ cũng có nêu giả thuyết là người Việt có cùng tông tổ với người Mường, vì các nhà khảo cổ, khi xét về phong tục, lịch sử cũng như ngôn ngữ của người Việt, đã thấy có rất nhiều điểm giống với người Mường. Hiện nay, trong tiếng Việt có rất nhiều tiếng tương tự với tiếng Mường, và có thể xem đó là hình thức tối cổ của tiếng Việt tương đương, thí dụ :(12)

một Hai ba trời đất núi sông trâu gà tằm ăn lá dâu

móc Hai pa tlòy tất nủy không tlu kà thảm ăn lá tô


Thứ tiếng cổ ấy, về sau, trong ngôn ngữ người Việt, thâu nhận thêm những yếu tố vay mượn của các chủng tộc lân cận mà trở thành tiếng Việt. Và ông kết luận rằng: “dân tộc Việt Nam là kết quả tạp chủng và lai lẫn với các dân tộc đã sinh sống trên bán đảo Ðông dương, và tiếng Việt là kết quả trại lẫn của nhiều thứ tiếng của các dân tộc ấy.” (13)

Trong quyển Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam(14), ông Bình Nguyên Lộc đã có một số nhận định và chứng minh khoa học cụ thể về vấn đề nan giải nêu trên.

Theo ông, viết thượng cổ sử khác xa với viết sử. Vì viết sử chỉ cần sử liệu, còn viết thượng cổ sử thì cần phải chứng minh bằng khoa học, do đó muốn tìm tòi về các chủng tộc ta phải vận dụng kiến thức khoa học chính xác của ngành Chủng Tộc Học (Anthropologie physique). Riêng về nguồn gốc của một chủng tộc thì khoa học chỉ nhìn nhận 3 chứng tích sau:

Khoa Chủng Tộc Học

Khoa KhảoTiền Sử

Khoa Ngôn Ngữ Tỷ Hiệu (Études comparatives des Langues)
Theo ông trên thế giới ngày nay không còn chủng tộc nào là thuần chủng. Ngay cả trên cao nguyên của nước ta có người Thượng mà ta cứ ngỡ là thuần chủng, nhưng thực sự họ đã lai giống đến nhiều lần rồi. Về vấn đề nguồn gốc dân Việt, ngôn ngữ Việt, từ lâu đã có những nhà bác học Pháp thuộc viện Bác Cổ Viễn Ðông, các sử gia, ngữ học gia, giáo sư Việt Pháp khổ công tìm tòi nghiên cứu, nhưng vẫn chưa tìm được một giải đáp thoả đáng. Và họ đã đưa ra một số ức thuyết khá hỗn loạn:

Ông Kari Himy cho rằng tiếng ta có bà con với tiếng Môn

Ông H. Maspe’so bỏ Việt Ngữ vào chung với Thái ngữ

Ông E. Souvignet cho rằng tiếng Việt có liên hệ với Mã Lai

Bs. Reynand nhấn mạnh về ngữ vựng Miên Việt giống nhau quá nhiều

Gs. Lê Ngọc Trụ và Sử gia Nguyễn Phương khẳng định tiếng ta là tiếng Tàu

Sg. Phạm Văn Sơn kết luận Việt ngữ + Việt chủng là một chủng tộc, một ngôn ngữ riêng biệt

Từ năm 1920 nhờ những cuộc phát kiến ngẫu nhiên của dân chúng vùng Ðông Sơn tỉnh Thanh Hóa đã khai quật được một số cổ vật đồng pha kế tiếp nhau ở cách lưu vực sông Nhật Lệ, sông Gianh, sông Cả, sông Mã, sông Ðà, sông Nhị, sông Lệ. Nghiên cứu sơ khởi cổ mộ Ðông Sơn, người ta tìm thấy người chết có đồ tùy táng, trong đó có trống bằng đồng thau khá rực rỡ. Ước tính theo số tuổi cổ vật, mộ này ắt đã được chôn trước thời Hai Bà Trưng (40- 43) đến 32 năm. Nhưng qua đó vẫn chưa xác định được người dưới mồ là người bản xứ, vì rất có thể họ là dân tộc khác sang nước ta rồi sau khi chết được mai táng tại đó. Mãi về sau, khi khai quật được nhà bằng gỗ và tre đã hoá thạch, các nhà nghiên cứu khảo cổ đưa ra được một kết luận quan trọng. Nhà ấy có lối kiến trúc giống như hình nhà khắc trên trống đồng trong cổ mộ. Bấy giờ mới chắc chắn được là người có trống chôn theo là người bản xứ. Hợp kim của trống khai quật được phân chất và kết quả đưa ra đó là hợp kim đặc biệt, khác hẳn với hợp kim của Tàu, Ấn Ðộ hay của Tây phương thời đó. Các nhà bác học gọi người trong mộ táng được khai quật thuộc chủng tộc Indone’sien. Indone’sien, thuật ngữ của ngành Chủng Tộc học có nghĩa là Cổ Mã Lai, chứ không thuần nghĩa thông thường được chú giải trong các tự điển ngôn ngữ hiện nay là người dân của xứ Nam Dương quần đảo. Mặc dù các dân tộc Nam Dương, Mã Lai Á đều từ gốc chủng tộc Cổ Mã Lai mà ra nhưng đã không còn thuần giống.

Chủng Cổ Mã Lai phát tích từ Tây Tạng, hay nói rõ hơn là tại chân cao nguyên Tây Tạng, vùng đất quanh chân núi Himalaya (Hi-Malaya có nghĩa là núi của người Malaya).

Từ 6000 năm trở về xưa hơn, dân Cổ Mã Lai từ quanh cao nguyên Tây Tạng xuống chiếm đất Ấn Ðộ, đẩy lui thổ dân kém cỏi nơi đó lên vùng đồi núi và hợp chủng với chủng tộc Melane’sien đã có mặt từ lâu trên đất Ấn (Chủng Melane’sien chẳng những là thổ trước trên đất Ấn mà còn tìm thấy di tích ở khắp đất Trung Hoa và Ðông Nam Á). Nền văn minh của họ tồn tại được một ngàn năm thì bị dân Aryen xâm lăng đánh đuổi. Vì vậy, một mặt giống dân Indone’sien di cư về hướng Nam, đến bán đảo Mã Lai Á, sang Nam Dương quần đảo, rồi từ đó sang Madagascar đến tận Phi Luật Tân. Mặt khác họ di dân sang Ðông Ấn, rồi từ Ðông Ấn họ đi sang Hoa Nam (Trung Hoa), hoặc đi bằng đường biển sang Ðông Pháp (danh từ cổ chỉ các nước Cổ Việt Nam, Ai-Lao, Cao Miên).

Vào khoảng 2500 năm sau, dân từ các vùng đất quanh núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya) dưới sự thống lãnh của Xy Vưu tới Hoa Bắc (Trung Hoa). Nhóm dân này được gọi là Cửu Lê gồm 9 nhóm, làm bá chủ Hoa Bắc không được bao lâu thì bị người Tàu từ Tây Bắc dưới quyền của Hiên Viên xâm nhập. Dân Cửu Lê thua và bị đánh đuổi, chia làm hai: chi Âu và chi Lạc. Toàn thể chi Âu vượt Hoàng Hà để nam thiên, còn chi Lạc thì lại chia hai, một số cũng vượt Hoàng Hà, số kia theo đường biển sang Ðại Hàn, Nhựt Bổn, Ðài Loan và Ðông Nam Á. Rời đồng bằng Hoa Bắc thì dân chi Âu chiếm địa bàn núi rừng ở Hoa Nam , còn dân chi Lạc thì chiếm địa bàn sông ngòi ở Hoa Nam và ở các vùng đất mới. Nơi đây, họ đã gặp các dân thổ trước nhưng đồng chủng cho nên đã sống chung hòa không gây chiến tranh lấn đất. Người Tàu dùng danh từ Việt để chỉ bất kỳ thổ dân nào từ sông Dương Tử đổ xuống, tức nhiều nhóm dân gốc Cổ Mã Lai nhưng khác chi. Theo sử Tàu thì có ba nhóm Lạc: Lạc bộ Trãi bị gọi là rợ Ðông Di, có địa bàn ở sông Bộc, tỉnh Sơn Ðông lên đến Hà Bắc; Lạc bộ Chuy bị gọi là rợ Khuyển Nhung, có địa bàn vùng sông Lạc (Thiểm Tây Ba Thục, ngày nay con sông Lạc này được đổi viết thành bộ Thủy); và Lạc bộ Mã, bị gọi là rợ Nam Man chỉ dân Việt ở Hoa Nam. Về phía Nam, đất Ngũ Lĩnh là địa bàn của các quốc gia Bách Việt trong đó có Ðông Âu, Mân Việt và Tây Âu nhưng không có Cổ Việt. Mặc dù về mặt chủng học tộc, ta thuộc về Bách Việt nhưng không phải là dân của ba nước kể trên. Trong ba nước này, Tây Âu là một quốc gia cường mạnh nhất, gồm ba quận Nam Hải (Quãng Ðông), Quế Lâm (Quãng Tây) và Tượng Quận (phần đất giữa Quãng Tây và Vân Nam). Theo bức dư đồ ngôn ngữ Ethnolinguistico Groups of Mainland Southeast Asia do Human Relations Area Files Yale University xuất bản thì Tây Âu là địa bàn của người Thái, một dân tộc thuộc chủng Mã Lai mà người Tàu xưa gọi là dân Âu. Thái là một danh tự xưng của họ khi bị Hoa tộc lấn đất dữ dội. Nhà Tần tiêu diệt cả ba quốc gia Bách Việt này và họ lại phải nam thiên xuống thượng du Bắc Việt và Thái Lan ngày nay. Thái có nghĩa là ” tự do, thoái khỏí’. Trước đó họ xưng là Ngu hoặc Ngê-U. Tiếng Quan thoại phiên âm danh tự đó cũng là Ngê-U. Duy chỉ các nhà nho đọc sai ra là Âu, chứ người Mường họ vẫn đọc đúng là Ngu. Người Thái ở miền thượng du Bắc Việt ngày nay đã khác hẳn với người Thái Lan, vì ngưởi Thái Lan đến bờ biển lập quốc cả hàng trăm năm và theo văn hóa của Ấn Ðộ và Phật giáo. Còn người Thái thượng du Bắc Việt còn giữ nguyên văn minh cổ thời của họ. Theo như trên thì truyền thuyết Âu Cơ và Lạc Long Quân rất tương đồng với bối cảnh lịch sử của dân Cửu Lê, khi bị Hiên Viên xâm lăng thì phải chia hai, chi Âu chiếm địa bàn núi rừng (Âu Cơ là Tiên đem con lên núi) và chi Lạc chiếm địa bàn sông ngòi, ven biển (Lạc Long Quân đem con xuống biển). Cả ba Lạc này đều có mặt tại Cổ Việt Nam nên ngôn ngữ của ta mới hỗn hợp tiếng Mã Lai nhiều đợt. Ðịa bàn phương đông của chủng dân Cổ Mã Lai bị dân Tàu lấn đất, họ đành phải nam thiên. Tới vùng đất mới, họ lại bị Tàu xâm lăng lần nữa, chẳng hạn như ở Cổ Việt bị nhà Hán chinh phục. Lần bị chiếm đất này, họ không còn đất lánh thân, nên một số ở lại chịu văn hóa Tàu, còn một số khác rút lên rừng núi, rồi vì khí hậu và phong thổ không ưu đãi, thiếu thốn phương tiện canh tân nên nhóm người này bị thái hóa. Do đó người Thượng trên cao nguyên vẫn còn giữ nhiều phong tục văn hóa của chủng Cổ Mã Lai hơn dân ta, kẻ ở lại đồng bằng đã khác xa, nhất là khi bị ảnh hưởng văn hóa mới và hợp chủng với dân xâm lược.


Sau đây là những dấu vết Mã Lai còn sót lại trong xã hội Việt Nam ngày nay:

1. Trống Ðồng:


Dân ta vẫn duy trì phong tục của Lạc Việt, như tả nhậm, xâm mình, nhuộm răng, búi tóc, chít khăn, tục thờ thần Âm Dương Vật và cả tục thờ Thần Trống Ðồng.

Sau thời gian dài nghiên cứu về thời đại đồng thau xưa ở Bắc phần Việt nam các nhà khảo cổ cho thấy rằng người Việt Nam thời xưa đã đạt được một trình độ luyện kim và chế tác kim loại khá cao để đúc được nhiều loại trống đồng. Do số lượng trống đồng tìm thấy được tại miền Bắc Việt Nam quá nhiều và đủ loại cho nên các nhà khảo cổ đã nghĩ rằng Việt nam phải là quê hương của trống đồng. Tuy rằng cũng có tìm được một vài trống đồng rải rác tại vài nước Ðông Nam Á hoặc vùng Nam Trung Hoa giáp ranh giới Việt Nam nhưng số lượng ít ỏi và kém mỹ thuật, nhất là các tầm vật này nằm trên những lộ trình xuyên biên giới Việt-Hoa, nên đã làm các nhà khảo cổ nghĩ rằng đó có thể là những trống thâu lượm từ Việt Nam đem về.

Trong sách Ðại Nam Nhất Thống Chí(15) ghi: “Núi Ðồng Cổ: có tên nữa là núi Khả Lao ở cách huyện Yên Ðịnh 16 dặm về phía tây …. Phía tả núi có đền thần, trong đền có một cái trống bằng đồng, nặng chừng 100 cân, đường kính phỏng 2 thước một tấc, chiều cao phỏng 1 thước 5 tấc, một mặt trống rỗng, một mặt có chín vòng tròn, ở giữa mặt trống có rốn tròn, chung quanh lưng trống là hình hồi văn chữ ‘vạn’, bên cạnh có văn chữ như hình văn tự khoa đẩu. Tương truyền cái trống này chế từ đời Hùng Vương. “

Trong tác phẩm Kiến văn Tiểu Lục, Lê Quí Ðôn đã viết như sau: “Nước nhà, vua Thái Tông nhà Lý dựng miếu thờ Thần Ðồng Cổ Sơn ở đằng sau chùa Thành Thọ. Hằng năm cứ đến ngày mồng bốn tháng tư lập một đàn ở trước miếu này, rồi dàn binh lính, đọc lời thề để quần thần cùng thề… “.

Nhiều thư tịch Trung Hoa xưa cũng có nói đến trống đồng có nguồn gốc ở Việt Nam như: (16)

Sách Bách Việt Nguyên Lưu Dư Văn Hóa, Lã Hương Lân ghi: “Thời cổ, văn hoá Việt rất đáng được lưu ý là sự chế tạo trống đồng và cách sử dụng. Trống đồng Lạc Việt rất nổi tiếng nên thường được gọi là Lạc Việt đồng cổ.

Sách Hậu Hán Thư quyển 54 thời Hậu Hán có ghi ở mục Mã Viện:

“Mã Viện thích cưỡi ngựa. Lúc sang đánh Giao Chỉ, ra lệnh tịch thâu trống đồng để đúc ngựa kiểu.”

Sách Chu Phiên Chí, Triệu Như Quát cũng có kể về Mã Viện như trên.

Sách Lĩnh Ngoại Ðai Ðáp, Chu Khứ Phi, một học giả đời Tống, có thừa nhận rằng trống đồng không thuộc về văn hóa Hán.

Trong các sách Quảng Châu Ký, Tán Thư Trấn Thủ, Thủy Kinh Chú, Linh Biểu Lục Di đều có ghi: “Man, Di là chủ nhân của trống đồng Lạc Việt.”
Ông V. Goloubew đã kể lại trong tập kỷ yếu B.E.F.E.O vol XXXIII, năm 1933 như sau: “Làng An-Nê, huyện An Ðịnh, tỉnh Thanh Hóa, là một vùng hoàn toàn Việt Nam, và gần đó không có dân Mường. Trong đền thờ trên đường Phủ Quãng, gần bến đò An Ðịnh đưa sang sông Mã, có trống đồng cùng loại với trống đồng Hoà Bình để ở Bảo tàng viện Hà Nội. Mặt trống rộng 0,85 và cao 0,58th. Trống này chỉ để thờ chứ không được đánh, bằng vào lớp bụi dày trên mặt trống…”

Ông R. Mercier thì đối chiếu cách chế tạo trống đồng của dân Ðông Sơn với cách chế tạo đồng đồng của dân Việt Nam ngày nay ở Thanh Hóa, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hà Ðông, Nam Ðịnh và thấy cả hai dân tộc đều dùng kỹ thuật và dụng cụ thô sơ y như nhau. Ông nghiên cứu chiếc trống lớn nhất ở bảo tàng viện L. Finot. Ðó là một cái trống đúc nguyên khối, không có ráp mối. Bên hông trống đếm được cả thảy 280 vết đen hình vuông, một phân tây mỗi cạnh. Nhờ đó ông khám phá được kỹ thuật đúc trống thợ Ðông Sơn xa xưa. Họ làm hai cái khuôn, một lớn một nhỏ, cái nhỏ nằm trong cái lớn, hai cái cách nhau khoảng 1/2 một phân tây, khoảng trống ấy được chêm bằng các khúc gỗ. Khi đổ đồng pha vào khoảng trống ấy, gỗ chêm bị cháy và để lại dấu vết bên hông trống. Ông Mercier nói rằng chỉ có dân Việt Nam các tỉnh cao nguyên mới đúc bằng kỹ thuật và dụng cụ thô sơ như thế mà thôi.

Về vấn đề vật tổ biểu tượng của dân Việt là chim Lạc (theo ông Ðào Duy Anh đưa ra) thì ông Bình Nguyên Lộc không đồng ý, vì chữ Lạc được viết với dạng bộ Trãi, bộ Chuy và bộ Mã chứ không hề viết theo dạng bộ Ðiểu, chỉ loài chim. Theo ông thì vật tổ biểu tượng của dân ta ngàn xưa là cây cau, nai, mặt trời, giao long bằng cứ vào những hình chạm khắc trong các đền đài chùa chiền, trên các cổ vật Ðông Sơn, phong tục, cổ tích vv… Danh hiệu Văn Lang cũng từ đó mà ra, có nghĩa là một loại cau có sọc trắng, chứ không thuần nghĩa là người con trai xâm mình.


2. Kiến trúc:

Ngôi nhà cổ Việt độc nhất, do ông Pajot nhân viên của viện Viễn Ðông Bác Cổ tìm được tại bờ sông Mã năm 1927, nhưng mãi đến 17 tháng Giêng 1938, nhà khảo cổ V. Goboulew mới báo cáo trong một buổi thuyết trình. Có sự chậm trễ đó cũng bởi vì ông gặp khó khăn trong việc định tuổi cho các vật liệu dùng làm căn nhà. Và căn nhà đó được định cùng tuổi với ngôi mộ cổ đã khai quật.

Ðó là một nhà sàn có cột cái cao 4,50 thước, sàn cao 1 thước. Mái nhà dài xuống tới sàn, và vì thế mà cửa phải trổ ra ở góc hồi. Sàn bằng tre sặt, một loại tre giống tầm vong ở miền Nam. Sườn nhà không có trính ( loại sườn nhà mà miền Nam gọi là nọc ngựa, miền Trung gọi là nhà chữ Ðinh). Hình dáng ngôi nhà này giống nhà khắc trên trống đồng có mái cong quớt lên và đó là lối kiến trúc của tất cả các nhóm dân Cổ Mã Lai và Kim Mã Lai.

Ngày nay nông dân ở nhiều đảo Nam Dương vẫn còn cất nhà như vậy, và người Chàm, cũng gốc Mã Lai, giữ lối kiến trúc đó cả đến trong những xây cất bằng gạch. Loại nhà đó người Chàm gọi là nhà Thang-giơ. Danh từ Thang-giơ do tiếng Mã Lai Nam Dương Tanga mà ra, có nghĩa là cái thang. Dân Việt gọi đó là nhà sàn.


3. Tín ngưỡng

Có rất nhiều nhóm Mã Lai thờ mặt trời hoặc ông trời. Ngay cả Mã Lai Nhật Bản cũng thờ nữ thần Thái Dương. Tất cả đều ăn khớp với hình trên mặt trống đồng. Tục thờ dương vật và âm vật của chủng Mã Lai vẫn còn tồn tại ở vài làng Bắc Việt (báo Ngày Nay, tác phẩm của Toan Ánh và Lê Quang Nghiêm). Tôn giáo ấy chẳng những được thấy ở Bắc Việt mà còn có cả ở Trung Việt. Ngay cả bên Nhật ngày nay vẫn còn giữ tín ngưỡng này.


4. Ðối chiếu chỉ số sọ

Dựa theo chỉ số sọ rút từ quyển État actuel de la crânologie indochinoise của các bác sĩ P. Huard, F. Saurin, Nguyễn Xuân Nguyên, Nguyễn Văn Ðức – Hà Nội 1938 – thì các dân tộc gốc Mã Lai đều có chỉ số sọ trên 80, như Mã Lai, Thái, BắcViệt, Cao Miên và Ðại Hàn, ngoại trừ Nhật Bản, Mường và người Thục. Chỉ số sọ của người Tàu thì luôn luôn dưới 80.

Người Nhật có chỉ số sọ thấp nhất trong các nhóm Mã Lai Bách Việt chỉ vì họ bị lai giống với Tàu quá nhiều.

Người Mường mặc dù họ là Cổ Mã Lai như tất cả các phụ nữ và bần dân lại thuộc chủng Melanesien, chỉ trừ các đàn ông cấp lãnh đạo, do đó chỉ số sọ trung bình của họ không giống chỉ số sọ trung bình của người Bắc Việt Nam.

Người Thục có chỉ số sọ rất giống chỉ số sọ Trung Hoa, mặc dù họ thuộc chủng Thái. Cũng chỉ vì họ đã lai giống với Tàu trên cả hai ngàn năm rồi.

Chỉ số sọ của người Việt miền Nam thấp hơn chỉ số sọ của người Việt miền Bắc, chứng tỏ rằng người Việt miền Nam lai Tàu nhiều hơn người Việt miền Bắc.


5. Ngôn ngữ tỷ hiệu

Theo ông Bình Nguyên Lộc thì một số danh từ Mã Lai trong ngôn ngữ Việt không phải là vay mượn hiển nhiên của các dân tộc khác như Chàm, Miên, Mường, Thái mà do từ gốc Cổ Mã Lai mà ra. Ông thẳng thừng bài bác lập luận cho là tiếng Việt là tiếng Tàu của sử gia Nguyễn Phương. Trong quyển Việt Nam Thời Khai Sinh, trang 230, sử gia Nguyễn Phương viết: “Hầu như có thể nói được rằng tiếng Việt Nam ngày nay, sau 10 thế kỷ độc lập, vẫn còn chính là tiếng Tàu, nhưng chỉ đọc lên một cách hơi khác với cách đọc của những tiếng địa phương ở Trung Quốc. Cố nhiên, trong Việt ngữ, đôi khi có xen vào đôi số những tiếng không phải gốc Tàu, như tiếng Mọi, tiếng Chàm, những hiện tượng đó không nói lên gì khác ngoài sự người Việt Nam trên đường bành trướng, đã có gặp người Mọi người Chàm, cũng một cách như họ đã gặp người Pháp trong thế kỷ qua và họ đã thâu nhận một số tiếng Pháp trong kho ngôn ngữ của họ”.

Nhưng theo ông Bình Nguyên Lộc thì nếu đã phải vay mượn của Tàu thì tựu chung ta chỉ vay mượn những tiếng chỉ những ý niệm phức tạp, những dụng cụ lạ, vật dụng lạ. Như danh từ nước là một danh từ tối quan trọng để chỉ chất mà ta dùng hàng ngày để sống đã được sử dụng để gọi từ ngàn xưa, vậy thì sao ta không dùng chữ thủy của Tàu.

Vả lại với thiên kiến của một nước luôn tự hào là văn minh và xem cái gì của họ đều hơn của Man di cả, nhất là vấn đề ngôn ngữ, thì tất nhiên những danh từ như Lá, Trăng, Ngựa, Chòi, Túp, Cơm, Trâu, Cá, Bông, Chim, Vua, Cây dừa vv… ta phải nhất nhất dùng chữ Tàu, không nên vay mượn chữ của Mọi làm chi. Do đó chỉ có một cách trả lời là nó xảy ra thời thượng cổ, lúc hai dân tộc còn là một, tức ta với họ đồng chủng với nhau.

Ðiều này ông đã chứng minh khi đối chiếu các danh từ Việt với các dân tộc chủng Cổ Mã Lai, nếu ta không giống Chàm thì cũng giống Khơ Me, không giống Khơ Me thì cũng Thái, không giống Thái thì cũng giống người Thượng. Tóm lại danh từ Việt thế nào cũng giống danh từ của nhóm dân cùng chủng Cổ Mã Lai nào đó.

Sau đây là một số bản đối chiếu ngôn ngữ rút ra tưø quyển NGMLCDTVN của ông:

Việt Nam : Cá
Sơ Ðăng : Kaa
Mạ : Ká
Chàm : Kán
Mã Lai : Aka

Việt Nam : Cột
Sơ Ðăng : Kơt
Bà Na : Kơơt
Chàm : Kaat
Mã Lai : Ikaat

Việt Nam : Mắt
Sơ Ðăng : Mat
Mạ : Maht
Chàm : Kán
Mã Lai : Mata

Việt Nam : Mặt trăng
Bà Na : Mạt tlăng
Mạ : Maht kăn
Chàm : Blaăng
Mã Lai : Bulăng

Việt Nam : Sông
Chàm : Krong
Mường : Không
Bà Na : Krông
Mã Lai : Sôngai

Việt Nam : Trái (blái)
Mường : Blái
Bà Na : Plây
Sơ Ðăng : Plây
Thai : Pho la

Việt Nam : Cháu
Bà Na : Saò
Mạ : Sáu
Mường : Cau
Mã Lai : Chu

Việt Nam : Chim
Sơ Ðăng : Chim
Mường : Chim
Bà Na : Sêêm
Kha?La’Vàng : Tiêm

Việt Nam : Con (cái)
Mường : Kon
Bà Na : Koon
Sơ Ðăng : Kooon
Cao Miên : Kôn

Việt Nam : Con (vật)
Bà Na : Ko
Mạ : Ko
Cao Miên : Ko
Mường : Ko

Việt Nam : Ngày
Cao Miên : Thngay
Mường : Ngai
Sơ Ðăng : Haai
Môn : Tngay

Việt Nam : Con ruồi
Mạ : Ko Rhai
Bà Na : Ko Rooi
Mường : Ko Ruuêi
Cao Miên : Ko Ruy

Ngoài ra, ông cũng khám phá ra khá nhiều điều lý thú trong ngôn ngữ như:

Người Mường có danh từ Khai để chỉ con chó, đồng thời lại có nghĩa là con cọp. Theo cố đạo L. Cadière thì tiếng Việt xưa cũng gọi con chó là Khai, hình thức cổ sơ của danh từ con Cầy. Danh từ Bố Cái Ðại Vương, Cái là danh từ Mã Lai, có nghĩa là ông cha hùng mạnh, ông cha thủ lãnh. Hiện nay Mã Lai vẫn còn có danh từ Ibu La’ki, đúng nghĩa Bố Cái, vì Ibu=bố, La’ki=Cái, Ibu La’ki có nghĩa là nhà lãnh đạo.

Danh từ La’ki của Mã Lai biến thành Lìcáy của Chàm và Cái của Việt. Danh từ riêng của miền Nam “người lại cái”, có nghĩa là bán nam bán nữ, chắc chắn là do danh từ Chàm mà ra, đó là “Càmay lagi lìcáy” dịch ra là “đàn bà lại còn đàn ông”. Ta nuốt mất chữ Càmay lagi, chỉ còn Lìcáy biến thành Lại Cái. Hiện nay người miền Nam vẫn thường nói sai là “đàn ông lại cái”, chỉ vì họ không rõ căn nguyên và lại hiểu sai chữ Cái là Ðàn bà. Ngay cả danh từ Thợ Cái, Sông Cái, hoặc trong lúc chơi bài bị bắt làm Cái cũng đồng nghĩa nêu trên.

Người Việt miền Nam thường dùng chữ Tía để chỉ người cha. Ðó là danh từ Tia của dân Thất Mân, Mã Lai đợt II. Các đảo Mã Lai đều nói là Tưa, có nghĩa là cha vợ, chứ không phải là Cha như người Việt miền Nam đã dùng sai.


6. Ðồng bào Mường

Gọi là đồng bào, bởi vì theo ông Bình Nguyên Lộc rằng khoa học đã nhìn nhận rằng dân tộc Mường là Indonesien (Cổ Mã Lai) từ hơn thế kỷ nay, và ông đã chứng minh là dân ta cũng là gốc Mã Lai thì họ và ta là đồng bào rồi vậy.

Ðể viết về dân Mường, ông đã chọn tài liệu chủ lực cho sự nghiên cứu của ông, một cuốn sách mà ông thấy là đầy đủ nhất về dân tộc này, đó là quyển Les Mường, Géographie humaine et Sociologie của cô Jeanne Cuisinier do Viện Dân Tộc Học, Bảo Tàng Viện về Con Người xuất bản tại Paris năm 1946.

Như trong phần đo chỉ số của các giống tộc ở trên, người Mường không thuộc chủng Mã Lai mà lại thuộc chủng Thái, trong khi họ có ngôn ngữ rất gần với ta. Cô J. Cuisinier cho biết rằng quí tộc Mường, gia đình và họ hàng của các quan Lang, các thổ đạo, các hương chức hội tề thì xinh đẹp như người Việt. Còn bần dân và tất cả phụ nữ, kể cả phụ nữ thuộc hàng quí phái cũng bé choắt và xấu xí.

Ông Bình Nguyên Lộc giải thích rằng người Mường là quí tộc Lạc Việt từ Hoa Nam nam thiên cho nên không mang đàn bà theo kịp, họ đến đây hợp chủng với dân Melane’siens da đen xấu xí và lãnh đạo dân Melane’sien cho đến ngày nay. Vào thời thượng cổ, khi mà một cuộc di cư lớn lao xảy ra thì đa số phụ nữ bị bỏ rơi, hoặc yếu sức chết dọc đường. Cho nên khi đến địa bàn định cư, đàn ông goá vợ hay thanh niên thì lấy dân thổ trước làm vợ. Chính vì thế mà phụ nữ của họ mới không đồng chủng với họ.

Xét về ngôn ngữ thì văn phạm của hai dân tộc Mường và Việt giống hệt nhau:


Tiếng Việt Tiếng Mường

Ba hồn bảy vía con đùa (con trai), con gái, đâu đi về cùng bố, cùng mẹ, ăn cơm, ăn cá
Pa hồn pải piái on tứa, on kai, no tỉ vên kung pô, kung mè, ăn kơm ăn ka

Bố ơi chết bỏ ta làm sao vậy, thân mình ăn đâu ở đâu bố ơi
Pô ơi keát bô ta la no pò, thân hò ăn no ở no pô ơi!

Ăn ra khói nói ra lửa
Ăn za khuê nói za lửa

Ðể cho quỉ xa ma sợ
Tê co kwi sa ma đượi

Vía lúa ơi, về đụn về nhà mà ở
Piái ló ơi, vên tun vên nhà ma ở!

Cơm như vàng ròng
Kơm như yang rong

Danh từ Vua, thì họ nói là Bua. Trời, thì họ nói là Blời. Các cố đạo ngày xưa tại Việt Nam cũng viết là Bua, Blời, không phải vì các ông không biết âm Tr, mà bởi vì thuở đó ta cũng giống dân Mường đều không có âm Tr. Trái cây họ đọc là Tlai kây, Trái ngang họ nói là Plái ngang, Trâu họ kêu là Tlu vv…


Ngoài ra, trên mặt các trống đồng khai quật có khắc bộ hình một số người cầm gậy thọc xuống một vật mà đa số các nhà bác học Âu Châu cho rằng đó là động tác giã gạo. Nhưng nhà khảo cổ Lê Văn Lan đã lên xứ Mường và đã thấy người Mường ngày nay vẫn còn đánh trống như vậy, tức dùng gậy thọc xuống mặt trống.

Cô J. cuisinier còn viết rằng cô đã thấy toàn thể người Mường nhuộm răng đen, một số xâm mình, toàn thể ăn trầu, họ có đồng bóng và có sử dụng trống đồng loại lớn. Loại trống này chỉ có các quan Lang mới có và số tia của ngôi sao trên mặt trống càng nhiều thì tỏ rõ thế lực của ông quan Lang ấy, thông thường chỉ có 7,8 tia mà thôi.

Nói tóm lại, những giả thuyết, những lý luận mà các nhà ngữ học, bác học, sử học, nhân chủng học ngoại quốc cũng như người Việt nêu trên đã cho ta nhiều điều lý thú về nguồn gốc dân tộc cũng như nguồn gốc tiếng Việt. Qua đó, quí vị có thể tự suy ra kết luận hay ít nhiều cũng tạo hứng khởi trong việc tìm về nguồn cội văn hóa nước ta.

Tĩnh Túc

thanh.nguyen@student.uni-ulm.de



Chú thích:

(1) Việt Nam Quốc Sử Diễn Ca, Lê Ngô Cát và Phạm Ðình Toái, tr.48

(2) Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, tr. 11-12, Anh hùng nước tôi, MTQGTNGPVN, tr. 43

(3) Việt Nam Tinh Hoa, Thái văn Kiểm, tr. 36

(4) Việt Nam Tinh Hoa, Thái văn Kiểm, tr. 146 – 147

(5) Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, tr. 5

(6) Nguồn gốc dân tộc Việt Nam, Ðào Duy Anh, 1950.

(7) Tầm Nguyên Tự Ðiển, Lê Ngọc Trụ, tr. 11

(8) Nam Phong, số 110, tháng 10 năm 1926

(9) Tầm Nguyên Tự Ðiển VN, tr. 12

(10) Chánh tả Việt Ngữ, tr. 19

(11) Việt Nam Tinh Hoa, tr. 100-101, tr. 155-158

(12) Mượn của A. Chéon trong Note linguistique sur les Muong, BEFFEO, T5, tr, 338-339

(13) Tầm Nguyên Tự Ðiển, Lê Ngọc Trụ, tr. 13

(14) Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam – Xuân Thu xuất bản

(15) Ðại Nam Nhất Thống Chí – Quốc Sứ Quán Triều Nguyễn, quyển 2, tr. 255, 288

(16) Mượn của Phan Hưng nhơn, Diễn Ðàn Phụ Nữ 183 – 1999, trong bài “Nhìn lại nền văn hoá Ðông Sơn để nhó lại nguồn gốc của Trống Ðồng”.

CỨ ĐẾN NGÀY NÀY LÀ KHÔNG ÍT NGƯỜI CHỬI ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM ( ?! ). HỌ CHỬI CHẮC CÓ LÝ DO VÌ THẾ TRƯỚC KHI LÊN ÁN HỌ CHÚNG TA NÊN ĐỘNG NẢO TÌM HIỂU LÝ DO GÌ HỌ CHỬI. HỌ CHỬI ĐÚNG HAY SAI?!

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

THS2018 – Trong livestream video clip NPH2021_126 nhà báo NPH có nhắc đến hiện tượng kỳ lạ này. Trong khi năm 2019, 2020 thì các báo trong nước thi đua đăng bài về Việt Trung? Phải chăng lúc đó trả lời cho nhóm phù Trung Bài Mỹ của Võ Tiến Trung, Nguyễn Thanh Tuấn, Hoàng Kiền, Trịnh Hoài Nam đừng hòng thu hồi LSVN 15 tập?

This image has an empty alt attribute; its file name is ACtC-3ezDdOzTMqVqGlC9hTxQhgCbXbw-9FfXzWIkQgOmmta0BqruvgW2U557r2iPLU135dJKc_orTywnJ6Yx9SeLnJSHoqhQCZ34wrI2jKhQP2NTY_rEP5QI2ngu86m7YnHgSZIjvQmgReguj0MVejoHzq1VQ=w1000-h680-no

42 năm sau Chiến tranh Việt – Trung: Báo chí nhà nước vẫn e dè khi gọi tên Trung Quốc

Ngày 17-2-2021 là đúng 42 năm ngày quân đội giải phóng nhân dân Trung Hoa nổ súng tấn công khắp các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam khiến hàng chục ngàn thường dân thiệt mạng, tuy vậy các tờ báo nhà nước Việt Nam đến nay vẫn ngại ngùng khi gọi tên Trung Quốc trong các bài viết kỷ niệm ngày này.

Hầu hết các bài báo trong 2 ngày qua đều không gọi tên Trung Quốc trong tiêu đề, duy chỉ có tờ báo Thanh Niên và Kiến Thức thì gọi thẳng, tờ Thanh Niên với bài báo “42 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc:

Đánh trả quân xâm lược Trung Quốc”. Bài báo đăng tải các hình ảnh chiến đấu, phục vụ chiến đấu của quân và dân tỉnh Cao Bằng của ông Trần Mạnh Thường trong tháng 2 và 3-1979 khi đó là cán bộ của Phòng Nhiếp ảnh, Nhà xuất bản Văn hóa được cử lên công tác tại tỉnh Cao Bằng.

Chỉ có ông tướng này dám can đảm phê bình:

Theo tờ báo này, những hình ảnh do ông Thường ghi lại ngay trên chiến trường là “độc nhất vô nhị” trong giai đoạn đó và có ý nghĩa lịch sử đến tận hôm nay và mai sau.

Trong bài viết của Tuổi trẻ đăng sáng 17-2-2021 chỉ gọi tên “Trung Quốc” duy nhất 1 lần ở gần cuối bài khi nhắc đến sự kiện tháng 3-1979, “quân Trung Quốc đã giết sạch 43 người là anh chị em công nhân và gia đình họ ở trại lợn Đức Chính cạnh đó rồi ném xuống cái giếng nước dưới những khóm tre”.

Tờ Báo Tin Tức của Thông Tấn Xã Việt Nam với tiêu đề “Ký ức về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc sau 42 năm” nhưng người đọc sẽ rất khó hiểu vì không rõ Việt Nam đã chiến đấu với nước nào trong cuộc chiến này.

Điều tương tự xảy ra với báo điện tử Vietnamnet khi đưa tin về cuộc dâng hương tưởng niệm các “Anh hùng liệt sĩ bảo vệ biên giới phía Bắc” của Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và tỉnh Quảng Ninh.

Độc giả cũng hoàn toàn không biết, vì sao các chiến sĩ này đã tử trận và trong cuộc chiến với nước nào. Mạng báo Tiền Phong với bài viết “Anh hùng liệt sĩ bảo vệ biên giới phía Bắc mãi là tấm gương sáng” cũng không nhắc đến Trung Quốc. Bạn nghĩ sao?