Một số hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cuộc bầu cử Quốc hội

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://www.bqllang.gov.vn/tin-tuc/tin-tong-hop/10337-mot-so-hinh-anh-chu-tich-ho-chi-minh-voi-cac-cuoc-bau-cu-quoc-hoi.html

Ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới-kỷ nguyên độc lập tự do cho nước nhà.

Một chính quyền vừa thành lập, với rất nhiều khó khăn, thách thức, phải đối mặt thù trong, giặc ngoài, vì vậy, ngày 03/9/1945, Người đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bao gồm: Khắc phục nạn đói; nạn dốt; giáo dục lại nhân dân với việc thực hiện cần, kiệm, liêm, chính; bỏ ba thứ thuế: Thuế thân, thuế chợ, thuế đò; thực hiện tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết và đặc biệt là phải tổ chức càng sớm càng tốt cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu.

Để triển khai thực hiện những nhiệm vụ này, Người đã ký các sắc lệnh, cũng như chỉ đạo trực tiếp đối với từng nhiệm vụ. Riêng với nhiệm vụ thực hiện Tổng tuyển cử trong cả nước, Người đặc biệt quan tâm, chú trọng để xây dựng được một nNhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Đồng thời, Người đã viết nhiều bài báo kêu gọi những người có tài có đức ra ứng cử, đóng góp sức lực cho đất nước.

Đặc biệt, đến sát ngày Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu (đăng Báo Cứu Quốc ngày 05/01/1946). Người khẳng định: “Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn” và kêu gọi “… mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.



Bac di bau cu

Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân đi bầu cử (Ảnh tư liệu)



bac bau cu ti ng tai duc

Bài viết “Tìm người tài đức” của Bác năm 1946 đăng trên Báo Cứu quốc số 411 ngày 20/11/1946.(Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu sac lenh bau cu

Sắc lệnh số 76-SL ngày 18/12/1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc ấn định lại ngày Tổng tuyển cử và hạn nộp đơn ứng cử. (Ảnh tư liệu)

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ lâm thời cũng như cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 06/01/1946, trong cả nước, có 89% tổng số cử tri đã đi bỏ phiếu, nhiều nơi đạt 95%. Cả nước đã bầu được 333 đại biểu Quốc hội, trong đó Hồ Chí Minh là ứng cử viên trúng cử với số phiếu cao nhất (98,4%).

Trong cuộc đời mình, Bác Hồ là ứng cử viên đồng thời cũng là cử tri đi bầu cử 3 nhiệm kỳ Quốc hội, gồm: Quốc hội khóa I (1946 – 1960), Quốc hội khóa II (1960 – 1964) và Quốc hội khóa III (1964 – 1971). Ở cương vị ứng cử viên hay cử tri, Bác đều để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng dân tộc về tinh thần, trách nhiệm của một người công dân đối với đất nước.

Quốc hội khóa II là Quốc hội đầu tiên hoạt động hoàn toàn trong thời kỳ đất nước bị chia cắt, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Lao động Việt Nam (Ðảng Cộng sản Việt Nam ngày nay), nhân dân Việt Nam thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc và tiến hành sự nghiệp xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa: miền Bắc bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội và cùng miền Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Quốc hội khóa III, được tổ chức theo Hiến pháp năm 1960, là Quốc hội của thời kỳ đất nước thực hiện cả hai chiến lược cách mạng, thời kỳ chống Mỹ cứu nước “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để thắng giặc Mỹ xâm lược”. Miền Bắc tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; Miền Nam đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng. Nhiệm kỳ của Quốc hội khóa III kéo dài từ tháng 6-1964 đến tháng 6-1971 là do hoàn cảnh có chiến tranh diễn ra trên phạm vi cả nước.

Quốc hội khóa IV đã tiếp tục động viên quân và dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: ở miền Nam tăng cường đấu tranh giải phóng dân tộc, ở miền Bắc kiên trì bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đánh thắng chiến tranh phá hoại của địch, động viên sức người, sức của cho tiền tuyến lớn đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai. Quốc hội khóa IV là Quốc hội chiến thắng giặc Mỹ xâm lược, kiên trì và tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, là Quốc hội khôi phục kinh tế, hàn gắn những vết thương chiến tranh, chuẩn bị đưa đất nước tiến vào thời kỳ mới.

Quốc hội khóa V là quốc hội ngắn nhất, từ 4-1975 đến 4-1976, vì đã rút ngắn nhiệm kỳ để tiến hành cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của đất nước thống nhất. Quốc hội khóa V thể hiện đầy đủ bản chất là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của khối đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên minh công nông. Quốc hội quyết định kế hoạch Nhà nước năm 1976, năm thứ nhất của kế hoạch 5 năm lần thứ hai, mở đầu thời kỳ xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa.

Quốc hội khóa VI là Quốc hội quyết định đổi tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội khóa VI đã có những đóng góp tích cực vào việc xây dựng hệ thống chính quyền mới ở miền Nam, xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất bảo vệ chính quyền trong điều kiện hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc. Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa VI đã thông qua Hiến pháp năm 1980.

Quốc hội khóa VII, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, là Quốc hội của thời kỳ bắt đầu công cuộc đổi mới, đã đẩy mạnh công tác lập pháp, tăng cường công tác giám sát và việc quyết định các vấn đề quan trọng khác để đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước. Xác định nguyên tắc, phương hướng xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Quốc hội khóa VIII được bầu ra và hoạt động trong giai đoạn bước ngoặt của đất nước, có trách nhiệm to lớn góp phần thực hiện công cuộc đổi mới. Hoạt động lập hiến của Quốc hội khóa VIII có nhiều thành tựu với 2 lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1980. Tại kỳ họp lần thứ 11, tháng 4 năm 1992, Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1992 – Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, phù hợp với thực tế của đất nước và xu thế tiến bộ của thời đại trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh, đặc điểm của Việt Nam, đánh dấu sự trưởng thành về trình độ lập hiến của nước ta.

Quốc hội khóa IX được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp năm 1992. Quốc hội khóa IX đã tiến hành đồng bộ và có hiệu quả các hoạt động nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ về lập pháp, về giám sát và về quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, bảo đảm cho công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu to lớn, đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới.

Quốc hội khóa X là Quốc hội của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Quốc hội khóa X có trọng trách tiếp tục thể chế hóacương lĩnh và chiến lược của Ðảng; cụ thể hóa đường lối, chính sách mà Ðại hội Ðảng lần thứ VIII và lần thứ IX đề ra.

Quốc hội khóa XI là Quốc hội của thời kỳ tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Quốc hội khóa XII được cử tri cả nước bầu ra ngày 20/5/2007 và hoạt động trong bối cảnh vừa có những thuận lợi cơ bản, vừa có những khó khăn thách thức. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo sau hơn 20 năm, gần nhất là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, 1 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, cũng là 6 năm đầu tiên của thế kỷ XXI, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử cả về lý luận và thực tiễn trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại, xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước, tăng cường đoàn kết toàn dân tộc.

Kể từ Quốc hội khóa đầu tiên đến nay, Quốc hội nước ta đã không ngừng lớn mạnh, thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Các thế hệ đại biểu Quốc hội luôn thể hiện và phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, phẩm chất, trí tuệ, xứng đáng là đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

Nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 – 06/01/2021), hãy cùng nhìn lại những hình ảnh quý giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cuộc bầu cử Quốc hội.


Bac di bau cu 1

Hồ Chủ tịch bỏ phiếu bầu cử các thành viên lãnh đạo Nhà nước và Quốc hội.
(Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu 2

Hồ Chủ tịch bỏ phiếu bầu cử Ban Thường trực Quốc hội.(Ảnh tư liệu)



Bac di bau cu 2 2

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các thành viên của Chính phủ tuyên thệ nhậm chức tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I (02/3/1946).(Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu ra mat DH

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Quốc hội đầu tiên của Hà Nội ra mắt cử tri tháng 02/1946. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu 3

Hồ Chủ tịch bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II tại Tiểu khu Trúc Bạch, khu phố Ba Đình, Hà Nội. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu nhan phieu

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận lá phiếu bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân khóa II ngày 08/5/1960. (Ảnh tư liệu)

 

Bac di bau cu hoi chuyen cu tri

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi chuyện một cử tri cao tuổi sau khi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội Khóa II. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu khai mac ky hop thi I

Hồ Chủ tịch trên Đoàn Chủ tịch kỳ họp thứ I, Quốc hội khóa II khai mạc ngày 07/7/1960. (Ảnh tư liệu)

 

Bac di bau cu cam on dong bao

Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ nhất đã bầu Hồ Chủ tịch giữ chức Chủ tịch nước. Hồ Chủ tịch đã phát biểu cảm ơn Quốc hội và thông qua Quốc hội cảm ơn đồng bào đã tin tưởng giao cho người trách nhiệm nặng nề, vẻ vang là lãnh đạo đất nước. (Ảnh tư liệu)

 

Bac di bau cu truong ban sua doi HP

Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa I đã quyết định sửa đội Hiến pháp, các đại biểu Quốc hội nhiệt liệt chào mừng
Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử làm Trưởng ban sửa đổi Hiến pháp. (Ảnh tư liệu)



Bac di bau cu Hien phap

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp sửa đổi năm 1960.(Ảnh tư liệu)

 

Bac di bau cu QH khoa 2 1963

Hồ Chủ tịch trên đoàn Chủ tịch kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa II, họp tại Hà Nội từ 29/4 đến 4/5/1963. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu tham khu bau cu ba dinh

Bác thăm khu vực bầu cử A.10, Khu Ba Đình, Hà Nội tháng 4 năm 1964. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu 1965

Bác Hồ tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội và khu phố Ba Đình ngày 25/4/1965. (Ảnh tư liệu)


Bac di bau cu 1969

Bác Hồ tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội ngày 27/4/1969. (Ảnh tư liệu)

Tâm Trang (tổng hợp)

Archimedes Patti – nhân chứng lịch sử ngày 2-9-1945

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Ho-so/911472/archimedes-patti—nhan-ch…2-9-1945

THU HẰNG

Theo “Why Viet Nam?” của Archimedes Patti (HNMO) – Archimedes L.A.Patti (1913-1998) vinh dự là người nước ngoài đầu tiên được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời đến nghe bản dự thảo Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước ngày lễ Độc lập tại Hà Nội.

Archimedes L.A.Patti (1913-1998).

Ngày 22-8-1945, Thiếu tá Archimedes L.A Patti – Trưởng ban Đông Dương của OSS (Cơ quan Phục vụ Chiến lược Mỹ, tiền thân của CIA), Trưởng phái bộ tiền trạm của quân đội Mỹ có mặt tại Hà Nội để thực hiện nhiệm vụ giải cứu tù binh và chuẩn bị cho việc giải giáp quân Nhật tại Bắc Đông Dương.

Trong thời gian ở Hà Nội, Patti đã có những hành động thiết thực để thể hiện cảm tình của mình: Nhận chuyển giúp một số thư, điện của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Mỹ, đứng ra làm trung gian cho các cuộc tiếp xúc Việt – Pháp đầu tiên vào tháng 9-1945 và viết những bản báo cáo trung thực, khách quan về tình hình Việt Nam gửi lên cấp trên của mình.

Chính vì vậy, Patti đã giành được sự thân thiện và tình cảm đặc biệt của những nhà cách mạng Việt Nam, nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mặc dù vô cùng bận rộn, nhưng Người đã dành nhiều thời gian để trao đổi, tâm sự với Patti và thực sự coi ông như một người bạn.

Ngày lễ Độc lập Việt Nam trong mắt một người Mỹ

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một sự kiện trọng đại có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Trong biển người tham dự và chứng kiến buổi lễ lịch sử này, có Archimedes L.A Patti cùng các đồng nghiệp của ông. Trong cuốn hồi ký “Why Viet Nam?” (Tại sao Việt Nam – 1980), Patti đã miêu tả tỉ mỉ, sống động về thời khắc trọng đại đó:

“Từ sớm tinh mơ, dân chúng Hà Nội như các bầy ong, từng đoàn lúc lớn lúc nhỏ, lũ lượt dần dần kéo đến cạnh Quảng trường Ba Đình.

Ở nhiều chỗ là một khối dân chúng các làng ngoại ô. Đi theo trong biển người đó, có cả những tốp người miền núi với y phục địa phương của họ và nông dân trong những bộ khăn áo cổ truyền.

Giữa các khối khác nhau, người ta dễ dàng nhận ra các tổ chức của công nhân, sơ mi trắng, quần dài hoặc quần soóc trắng hoặc xanh. Phụ nữ mặc áo dài trắng hay mầu sáng, tay khoác nón…

…Mặt trời đã lên cao. Không khí oi bức, nhưng đôi lúc cũng có cơn gió nhẹ thổi làm phấp phới cả cái biển cờ trên quảng trường. Cao trên cột trước lễ đài, lá cờ đỏ với ngôi sao vàng lớn phấp phới bay.

Bất chợt có tiếng còi và các hiệu lệnh quân sự phát ra từ các đội hình. Đội danh dự và các đơn vị bộ đội đứng thẳng và chăm chú theo dõi khi có người đã bắt đầu xuất hiện trên lễ đài. Mấy phút sau, nổi lên tiếng hô: “Bồng súng chào!”.

Quần chúng bỗng im lặng trong khi các vị chức quyền tìm chỗ đứng vào đường sau cái bao lơn được trang trí bằng mầu trắng và đỏ. Trên lễ đài, mọi người đều bận đồ trắng, thắt cavát và để đầu trần, trừ một người nhỏ nhắn mặc áo kaki mầu sẫm và có cái gì như cái khăn trùm đầu – Đó là Hồ Chí Minh.

Bìa cuốn “Why Vietnam?: Prelude to America’s Albatross” của Archimedes Patti

…Một tiếng trong loa phóng thanh nổi lên phá vỡ sự im lặng, giới thiệu ông Hồ “là người giải phóng, vị cứu tinh của dân tộc”. Quần chúng được sự hướng dẫn của các đảng viên, lên tiếng hát và trong mấy phút liền hô vang “Độc lập”. Ông Hồ đứng yên mỉm cười, nhỏ nhắn trong vóc dáng, nhưng vĩ đại trong sự hoan hô của nhân dân ông. Ông giơ tay ra hiệu im lặng và bắt đầu đọc bản Tuyên ngôn, nay trở thành nổi tiếng của ông với những lời: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho chúng ta những quyền bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Ông Hồ dừng lại đột ngột và hỏi người nghe: “Đồng bào có nghe rõ tôi nói không?”. Quần chúng hô vang đáp lại: “Rõ!”. Thực là một nghệ thuật diễn thuyết bậc thầy! Từ lúc đó, quần chúng lắng nghe lấy từng lời. Cứ nghe giọng nói của ông Hồ, bình tĩnh và rõ ràng, ấm cúng và thân mật, và nghe thấy được quần chúng trả lời thì chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa là những lời của ông đã thấu tới quần chúng.

Sau đó, quay về bản Tuyên ngôn của Cách mạng Pháp 1791, nói về quyền con người và quyền công dân, ông Hồ nói Bản Tuyên ngôn đã công bố: “Mọi người sinh ra phải được tự do và có quyền bình đẳng. Đó là những chân lý không thể chối cãi được”…

Ấn tượng tốt đẹp về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Theo A.Patti, lần đầu tiên cái tên Hồ Chí Minh được nhắc đến trong một bức điện ngày 31-12-1942 của Đại sứ Mỹ thông báo việc bắt và giam Hồ Chí Minh ở Liễu Châu, Quảng Tây. Từ công việc, giữa người cách mạng Hồ Chí Minh và viên thiếu tá người Mỹ này đã dần dần thiết lập một mối quan hệ bạn bè đặc biệt. Trong thiên hồi ký “Why Viet Nam?”, Archimedes Patti đã dành những tình cảm xúc động khi viết về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhóm Con Nai năm 1945

Ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên với Hồ Chí Minh trong một ngôi làng nhỏ ở Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc ngày 27-4-1945 để bàn về việc phối hợp hoạt động chống Nhật giữa Mặt trận Việt Minh và OSS, Patti đã có ấn tượng sâu sắc và cảm tình đặc biệt trước trí tuệ uyên bác và phong cách ngoại giao giản dị mà đầy sức thuyết phục của Hồ Chí Minh.

Ông kể lại: “Mặc dù tôi đã tỏ ra khách quan và thận trọng một cách cố ý, không để mình dính vào những khía cạnh chính trị của vấn đề Đông Dương, nhưng sự chân thành, thái độ thực dụng và sự hùng biện của ông Hồ đã gây cho tôi một ấn tượng khó phai mờ được. Ông Hồ không hiện lên đối với tôi như một nhà cách mạng không thực tế hay một người cấp tiến cuồng nhiệt, theo đuổi những lời nói rập khuôn, hét to đường lối của đảng, hay thiên về phá hoại mà không có kế hoạch xây dựng lại. Đó là một con người thông minh, thấu hiểu những vấn đề của đất nước mình, một con người biết điều và tinh tế”… Và chính ấn tượng tốt đẹp này đã dẫn đến những sự hợp tác hết sức nhiệt thành và hiệu quả trong các hoạt động phối hợp chống phát xít Nhật giữa Mặt trận Việt Minh và tổ chức OSS.

Sau khi viết xong bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Archimedes Patti vinh dự được làm người đầu tiên nghe toàn văn văn kiện đặc biệt này trước khi Người công bố với quốc dân và thế giới.

Trong cuốn “Why Viet Nam?”, A.Patti đã viết: “Hồ Chí Minh nói rằng “đã phải làm quá nhiều việc trong một thời gian rất ngắn. Đã có một ủy ban để soạn thảo lời tuyên thệ nhận chức của ông và các bộ trưởng, nhưng bản thảo bản Tuyên ngôn Độc lập còn cần phải được làm xong gấp”. Theo ông, chính đó là một trong những lý do ông muốn gặp tôi. Ông gọi một người ở buồng bên mang bản thảo tới và đưa cho tôi với một dáng thỏa mãn. Rõ ràng trong việc khởi thảo bản này đã có bàn tay già dặn của ông. Bản tài liệu đánh máy bằng tiếng Việt Nam, có nhiều chữ bị xóa và được viết đè lên bằng bút mực, với nhiều ghi chú bên lề. Tôi ngây ra và ông Hồ thấy ngay là tôi không thể đọc được. Ông Hồ cho gọi một người trẻ tuổi vào để dịch và tôi chăm chú nghe. Trong mấy câu đầu, người phiên dịch đã nói lên một số danh từ rất đỗi quen thuộc và giống lạ lùng như bản Tuyên ngôn của chúng ta. Câu tiếp sau là “Lời tuyên bố bất hủ này đã được nêu lên trong Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776”. Tôi chặn người phiên dịch lại và kinh ngạc quay sang hỏi ông Hồ có thực ông có ý định sử dụng câu đó trong bản tuyên ngôn của ông không… Ông Hồ dựa vào ghế, hai tay úp vào nhau, ngón tay sát vào môi một cách nhẹ nhàng và đang như suy tưởng. Với một nụ cười nhã nhặn, ông hỏi lại tôi một cách dịu dàng: “Tôi không thể dùng câu ấy được à?”. Tôi cảm thấy ngượng ngập và lúng túng. “Tất nhiên”, tôi trả lời, “tại sao lại không?”. Bình tĩnh lại, tôi nói người phiên dịch đọc lại đoạn đó từ đầu một lần nữa. Anh ta đọc: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng…, họ đã được tạo hóa trao cho những quyền không thể nhượng lại được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Cố sức nhớ lại, tôi mới thấy các danh từ đã được chuyển vị và nhận xét là trật tự các chữ “tự do” và “quyền sống” đã bị thay đổi. Ông Hồ nắm ngay lấy và nói “đúng”, không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do”…

Đầu tháng 10-1945, OSS giải thể, Archimedes Patti bị triệu hồi về Mỹ. Trước khi Patti lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả một buổi tối để trò chuyện và tâm sự với ông. Buổi chia tay đã để lại trong hồi ức của Patti những ấn tượng không thể phai mờ. Tình cảm tốt đẹp và lòng khâm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người mà hình ảnh từ buổi đầu gặp mặt tới lúc chia tay lần cuối vẫn là “một dáng người mảnh mai nhưng bất khuất”, đã đi suốt cuộc đời Patti và được ông thể hiện trong những trang viết của cuốn hồi ký, trong tham luận tại Hội thảo Quốc tế về “Hồ Chí Minh – Anh hùng Giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới” do UNESCO tổ chức tại Hà Nội năm 1990 và trong những lần đến Việt Nam để gặp lại một ngưòi bạn mà ông rất kính trọng là Đại tướng Võ Nguyên Giáp…

Archimedes Patti sinh tại New York. Ông gia nhập quân đội Hoa Kỳ năm 1941 và trở thành một sĩ quan bộ binh trên chiến trường châu Âu trong Thế chiến II. Cuối năm 1944, ông chuyển sang công tác tại OSS. Sau khi Thế chiến II kết thúc, ông được thăng hàm thiếu tá và được cử làm Trưởng phái bộ tiền trạm của quân đội Hoa Kỳ, thực hiện nhiệm vụ giải cứu tù binh và chuẩn bị cho việc giải giáp quân Nhật tại Bắc Đông Dương.

Về Mỹ cuối năm 1945, ông được thăng hàm trung tá và tiếp tục công tác trong quân đội cho đến khi giải ngũ vào năm 1957. Ông làm việc ở Văn phòng tư pháp của Tổng thống Mỹ đến 1971 thì nghỉ hưu, sống tại Florida.

Do những cống hiến xuất sắc, ông được chính phủ Hoa Kỳ trao tặng huân chương Ngôi sao Đồng với Nhành sồi và khi qua đời ông được an táng tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington.

Sự thật về những lời xuyên tạc tình báo Archimedes Patti sửa bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

http://www.shoppbs.pbs.org/wgbh/amex/vietnam/series/pt_01.html

Trong số đó có Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh những năm đầu rất khó để theo dõi. Ông luôn tỏ ra bí ẩn về bản thân, ít trả lời phỏng vấn và sau này thích thể hiện mình là “Bác Hồ” nhân từ. Hồ sinh khoảng năm 1890 với tên gọi là Nguyễn Tất Thành, con trai của một quan chức đã từ chức thay vì phục vụ dưới thời Pháp. Khi còn trẻ, Hồ rời đất nước, làm thợ đóng tàu và nấu ăn ở Mỹ, Anh và Pháp.

Năm 1917, Hồ chuyển đến Paris. Ông lấy bút danh là Nguyễn Ái Quốc, “Nguyễn ái quốc,” và bắt đầu vận động đòi độc lập cho Việt Nam. Ông đã cố gắng bào chữa cho lý do của mình tại Hội nghị Versailles sau Thế chiến thứ nhất, nhưng không được chấp nhận. Nỗ lực của ông đã khiến ông trở nên nổi tiếng trong giới người Việt tại Pháp.

Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc trở thành Đảng viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, người Cộng sản Việt Nam đầu tiên. Ông vẫn ở Pháp để biên tập một tờ báo chống thực dân có tên là Le Paria (The Outcast), và hỗ trợ mình với tư cách là trợ lý nhiếp ảnh gia. Các bức vẽ của ông, được đăng trên báo, cho thấy ông vẫn quan tâm đến Việt Nam, điều mà ông đã không gặp trong mười năm.

Những người Cộng sản đã gửi ông đến Moscow để đào tạo vào năm 1923.

Ông đi khắp nơi, tổ chức những người Việt Nam xa xứ thành một đảng cách mạng. Các báo cáo trong 17 năm tiếp theo đã theo dõi ông ở Đức, Trung Quốc, Thái Lan, Pháp, Nga.

FRENCH NEWSREEL:

Tạp chí Pathe trình bày đánh giá về những thành tích đã đạt được đấu tranh sự bảo vệ của lá cờ của chúng tôi.

Ở những vùng thù địch và khốn khó, các nhà văn minh Pháp đã mang lại hòa bình, công việc, thịnh vượng và niềm vui.

Khu vực hải ngoại của Pháp là một phần thiết yếu của nền kinh tế thế giới, một động lực tích cực của nền văn minh và là minh chứng vẻ vang cho sự hùng vĩ của nước Pháp.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Chiến tranh thế giới thứ hai đã kết thúc “sự hùng vĩ của nước Pháp.” Nhật Bản, theo đuổi cuộc chinh phục Trung Quốc, muốn chặn đường vận chuyển vật liệu chiến tranh qua Việt Nam. Tháng 6 năm 1940, ba ngày sau khi Pháp rơi vào tay Đức Quốc xã, Nhật Bản đòi quyền đổ bộ lực lượng vào Đông Dương.

Sự xuất hiện của Nhật Bản đã gây ấn tượng sâu sắc đối với người Việt Nam. Những người châu Á giống như họ đã lật đổ các thực dân châu Âu – vì rõ ràng ai là người nắm quyền.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Người Nhật ủng hộ một số nhóm dân tộc chủ nghĩa Việt Nam. Nhưng các nhóm khác đều chống Pháp và chống Nhật. Quan trọng nhất là tổ chức Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc thành lập năm 1941. Ông đã trở lại Việt Nam sau 30 năm, với một cái tên mới: Hồ Chí Minh, có nghĩa là “Người khai sáng”.

HOÀNG QUỐC VIỆT: Sau hội nghị thành lập Việt Nam, Bác Hồ đã gửi thư kêu gọi toàn dân ủng hộ. Và chính điều này đã làm dậy sóng cả nước xung quanh phong trào này. Và khi mọi người nhận ra Hồ Chí Minh đích thực là Nguyễn Ái Quốc, thì lòng tin của họ đối với phong trào càng được củng cố. Đó là vì cái tên Nguyễn Ái Quốc đã được cả nước biết đến rộng rãi. Mọi người biết rằng ông là một người yêu nước vĩ đại.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việt Nam đã tổ chức các căn cứ du kích, huấn luyện cán bộ, quấy rối Pháp, Nhật và tuyên truyền cổ động, kêu gọi nông dân kháng chiến.

PHỎNG VẤN: Tại sao Việt Nam lại chiến đấu với quân Nhật trong khi những người theo chủ nghĩa dân tộc châu Á khác hợp tác?

THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG: (Cười) Tôi xin lỗi, nhưng đây là một câu hỏi rất buồn cười. Lúc đó, quân Nhật đã lật đổ Pháp và bắt đầu thống trị đất nước chúng tôi, nên tất nhiên chúng tôi phải đánh quân Nhật.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Đầu năm 1945, Việt Nam đang trải qua một nạn đói khủng khiếp. Người ta đổ lỗi cho người Pháp và người Nhật, những người đang tích trữ gạo, cung cấp cho quân đội Nhật Bản, và thậm chí xuất khẩu sang Nhật Bản – trong khi ước tính khoảng hai triệu người Việt Nam trong số tám triệu người ở các khu vực phía bắc đã chết.

DR. TRẦN DUY HƯNG: Vào thời điểm đó, theo ước tính của chúng tôi, có ít nhất 40.000 nông dân nghèo đói đến Hà Nội xin ăn và chờ cấp phát, bố thí. Người Pháp không tổ chức cứu đói. Và người Nhật đặc biệt cấm chúng tôi thực hiện bất kỳ nỗ lực cứu đói nào của riêng mình. Mọi người đào bới các bãi rác để tìm bất kỳ thứ gì có thể ăn được. Họ cũng ăn thịt chuột. Nhưng điều này không đủ để giữ cho họ sống sót.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việtminh đã tổ chức cho nông dân cướp kho thóc, gây được uy tín to lớn. Sự ủng hộ của nông dân này đã mang lại cho họ một lợi thế chính trị mà họ không bao giờ đánh mất.

TỔNG THỐNG FRANKLIN D. ROOSEVELT, ngày 1 tháng 3 năm 1945:

Đó là một con đường dài khó khăn để đến Tokyo. Đến Tokyo thì lâu hơn là đến Berlin, theo mọi nghĩa của từ này. Thất bại của Đức sẽ không có nghĩa là kết thúc cuộc chiến chống Nhật Bản …

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Khi chiến tranh ở châu Âu kết thúc, sự chú ý của Đồng minh chuyển sang châu Á và cuộc chiến chống Nhật Bản. Một trong những nhu cầu cấp thiết là trí thông minh. Việt Nam tin rằng các tuyên bố của Đồng minh ủng hộ quyền của các dân tộc bị áp bức. Họ đã cung cấp cho Đồng minh thông tin về chuyển quân của Nhật Bản, vì vậy người Mỹ đã chuyển sang Việt Nam và lãnh tụ của nó, Hồ Chí Minh.

ARCHIMEDES PATTI (Sĩ quan O.S.S.): Tôi gặp Hồ lần đầu tiên ở biên giới Trung Quốc giữa Trung Quốc và Đông Dương vào những ngày cuối tháng 4 năm 1945

ABBOT LOW MOFFAT: Chúng tôi biết ông ấy là một người Cộng sản, nhưng chúng tôi cũng cảm thấy, như họ đã làm, và theo cách mà bất kỳ ai từng biết, gặp Hồ Chí Minh, người mà tôi đã từng nói chuyện, đều có chung cảm giác: ông ấy lần đầu tiên là một theo chủ nghĩa dân tộc, và thứ hai là một người Cộng sản. Đó là, ông quan tâm đến việc giành độc lập cho người dân của mình và khi đó ông nghĩ điều tốt nhất cho họ là kiểu chính phủ Cộng sản. Nhưng trước hết ông là một người theo chủ nghĩa dân tộc.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Viet Minh đã đồng ý giúp Đồng minh. Thiếu tá Patti đã cử một nhóm huấn luyện, Deer Mission (Chiến dịch Nai Vàng), vào vùng núi phía bắc.

ARCHIMEDES PATTI: Chiến dịch Deer đã tham gia và họ tổ chức. Với sự giúp đỡ của Tướng Giáp, trong số khoảng 500 người Việt Nam, chúng tôi đã chọn ra 200 người. Chúng tôi đã dành bốn tuần tiếp theo để huấn luyện những thanh niên này về kỹ thuật sử dụng vũ khí tự động, thiết bị phá hủy, xâm nhập và đột nhập vào các khu vực nguy hiểm khác nhau. Ở đó, lần đầu tiên chúng tôi được thấy Việt Minh là loại quân đội gì. Họ là một thanh niên theo chủ nghĩa dân tộc rất sẵn sàng, tốt đẹp, thực sự là những gì chúng ta thường nói kiểu “gung ho” (Nhiệt huyết). Họ sẵn sàng liều mình vì chính nghĩa, sự nghiệp giành độc lập chống Pháp.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Trước khi người của Hồ có thể chứng tỏ sự sẵn sàng của họ, Thế chiến II đã kết thúc.

Sự sụp đổ bất ngờ của Nhật Bản đã khiến nhiều người ở Đông Dương thuộc Pháp bất ngờ, nhưng Việt Nam đã sẵn sàng cho cái mà họ gọi là “Cách mạng Tháng Tám”. Tuyên bố Việt Nam độc lập, họ tiến quân để chiếm Hà Nội một cách hòa bình. Hồ Chí Minh thành lập chính phủ ở Hà Nội, cẩn thận trà trộn thành viên của các nhóm dân tộc chủ nghĩa khác. Nhưng ở miền Nam, tránh xa ảnh hưởng vừa phải của Hồ, những người theo ông bắt đầu thanh trừng những người theo chủ nghĩa dân tộc đối thủ. Vẫn với Việt Nam, và có lẽ củng cố thêm ý tưởng về sự hỗ trợ của Mỹ, là OSS.

ARCHIMEDES PATTI: Hai hoặc ba ngày sau khi tôi gặp Hồ, ông ấy yêu cầu tôi vào nhà và dừng lại gặp ông ấy lúc đó ông ấy muốn cho tôi xem một thứ gì đó, và thứ ông ấy muốn cho tôi xem là bản thảo Tuyên ngôn Độc lập mà ông ấy sẽ tuyên bố vài ngày sau đó. Tất nhiên, nó là tiếng Việt và tôi không thể đọc được và khi nó được thông dịch viên giải thích cho tôi, tôi đã khá sửng sốt khi nghe những từ của Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ. Những từ về tự do, cuộc sống và theo đuổi hạnh phúc, vân vân. Tôi không thể tin vào tai mình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên tàu U.S.S. Missouri ở Vịnh Tokyo, Nhật Bản chính thức đầu hàng. Cùng ngày trên khắp đất nước Việt Nam, người Việt Nam kỷ niệm Ngày Độc lập tự xưng và sự hình thành một quốc gia mới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tại Hà Nội, Hồ Chí Minh đã đọc một bài diễn văn mở đầu, “Tất cả mọi người đều bình đẳng với nhau. Họ được tạo hóa ban tặng cho một số quyền bất khả xâm phạm …”

DR. TRẦN DUY HƯNG: Có thể nói, khoảnh khắc xúc động nhất là khi Chủ tịch Hồ Chí Minh leo lên bậc thềm và hát Quốc ca. Đây là lần đầu tiên Quốc ca Việt Nam được hát trong một buổi lễ chính thức. Sau đó, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập, đó là một văn kiện ngắn. Khi đang đọc, Bác dừng lại và hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” Câu hỏi đơn giản này đã đi vào trái tim của tất cả mọi người ở đó. Sau một giây phút im lặng, tất cả đều hô to: “Vâng, chúng tôi nghe!” Và tôi có thể nói rằng chúng tôi không chỉ hét bằng miệng mà bằng cả trái tim, trái tim của hơn 400.000 người đứng ở quảng trường khi đó. Sau khi Bác Hồ đọc xong Tuyên ngôn Độc lập, một chiếc máy bay, một chiếc máy bay nhỏ bay vòng qua chúng tôi. Chúng tôi không biết đó là máy bay của ai. Chúng tôi nghĩ rằng đó là một chiếc máy bay của Việt Nam. Nhưng khi nó sà xuống chúng tôi, chúng tôi đã nhận ra lá cờ Mỹ. Đám đông cổ vũ nhiệt tình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Hồ đã kêu gọi Tổng thống Harry Truman nhưng có lẽ ông ấy sẽ chấp nhận sự ủng hộ của bất kỳ ai. Truman không trả lời thư của Hồ. Ông chỉ mới nhậm chức được 4 tháng vào tháng 8 năm 1945 và chưa kịp hoạch định chính sách về Đông Dương.

ABBOT LOW MOFFAT: Có sự chia rẽ khá lớn trong Bộ Ngoại giao đối với Đông Dương. Cả văn phòng Viễn Đông và văn phòng châu Âu đều hoàn toàn đồng ý rằng chúng tôi muốn một nước Pháp mạnh mẽ phục hồi ở châu Âu sau chấn thương của Vichy và thất bại trong chiến tranh, nhưng bộ phận châu Âu cảm thấy rằng để giúp người Pháp đứng vững trở lại, chúng tôi thực tế nên đi cùng với bất cứ điều gì mà người Pháp muốn.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Đồng minh đã vạch ra một kế hoạch thỏa hiệp để giải giáp quân Nhật. Trên vĩ tuyến 16, quân Trung Quốc sẽ đầu hàng quân Nhật. Người Anh cũng sẽ làm như vậy ở miền Nam. Họ đến Sài Gòn vào đầu tháng Chín.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Chỉ huy người Anh, Tướng Douglas Gracey, là một sĩ quan thuộc địa dày dạn kinh nghiệm chính trị hạn chế. Lệnh của ông là giải giới quân Nhật, duy trì luật pháp và trật tự.

Thiếu Tá PHILIP MALINS: Ông ấy hoàn toàn không có quyền bắt đầu nói về việc bàn giao Đông Dương thuộc Pháp cho bất kỳ ai khác ngoài người Pháp. Ông ấy có những chỉ dẫn thẳng thắn, nghiêm khắc của mình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việt Nam đã chiến đấu trở lại, nhưng họ có ít vũ khí để sử dụng chống lại quân Pháp, và các chiến thuật tàn bạo của Việt Nam đã làm cho những người dân tộc miền Nam khác xa lánh.

Người Pháp giành lại quyền kiểm soát. Ở phía Bắc, Việt Minh của Hồ được sự ủng hộ rộng rãi, nhưng họ cũng phải đối mặt với một vấn đề: 150.000 quân Trung Hoa Quốc dân Đảng. Người Trung Quốc đến tước vũ khí của người Nhật. Họ ở lại để cướp phá và phá rối và họ đe dọa sẽ ở lại vô thời hạn.

Với mong muốn trục xuất quân đội Trung Hoa, Hồ Chí Minh đã thương lượng với người Pháp. Vào tháng 3 năm 1946, họ đã đạt được một thỏa thuận. Chính quyền thực dân Pháp phô trương quyền lực của mình khi Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến xác nhận thỏa thuận cho phép quân đội Pháp quay trở lại trong một thời hạn. Đổi lại, Pháp công nhận nhà nước Việt Nam mới, và quân đội Trung Quốc ra đi. Hồ Chí Minh đã đánh cược rằng người Pháp sẽ không cố gắng nắm chính quyền, và rằng một thỏa thuận tầm xa cuối cùng có thể được đàm phán.

Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP: Một hiệp định đình chiến đã được ký kết. Đã có những cuộc đàm phán trong tương lai để giải quyết các vấn đề giữa chúng tôi và Pháp. Trong điều kiện đó, ta cho phép một số lượng quân Pháp thế chỗ cho gần 200.000 quân của Tưởng Giới Thạch phải di tản ra khỏi nước ta càng sớm càng tốt. Vì vậy, chúng tôi đã có một thời gian thở để củng cố lực lượng của mình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Người Pháp ở Hà Nội chào đón những đoàn quân đến như những anh hùng chinh phạt. Người Việt Nam ở lại Việt Nam. Hồ Chí Minh sang Pháp để tiếp tục đàm phán. Nhưng nội các Pháp đã sụp đổ. Không có ai để thương lượng. Ông ấy phải đóng vai khách du lịch cho đến khi một liên minh mới được thành lập. Trong khi ông chờ đợi, chính quyền Pháp ở Sài Gòn, tự mình hành động, tuyên bố miền Nam Việt Nam tách khỏi miền Bắc. Đó là một sự vi phạm thỏa thuận tháng Ba và Hồ tự hỏi liệu có điểm nào để đàm phán thêm hay không. “Tôi có nên trở về nhà không?” ông ấy tự hỏi. Ông được cho biết chính phủ mới sẽ thẳng tay giải quyết vấn đề này ở Paris. Năm 1946, Hồ đã nổi tiếng là một người yêu nước trong một phần tư thế kỷ, và những người Việt Nam ở Paris đã quay ra chào đón vị chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Người Pháp chào hỏi một cách chính thức những người cộng sản kỳ cựu, với tư cách là một quốc trưởng. Vào thời điểm này ở Pháp, những người Cộng sản là một phần của chính phủ. Về mặt công khai, quan hệ thân mật, nhưng trên thực tế, các nhà đàm phán Pháp và Việt Nam rất xa nhau.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Các cuộc đàm phán, được tổ chức tại lâu đài lịch sử Fontainebleau, đã diễn ra tồi tệ. Người Việt khẳng định rằng miền nam Việt Nam là một phần của đất nước họ. Người Pháp bảo là không .

Thủ Tướng PHẠM VĂN ĐỒNG: Khi cuộc họp bắt đầu, trưởng phái đoàn Pháp, Max Andre, nói với tôi: “Chúng tôi chỉ cần một cuộc hành quân bình thường của cảnh sát trong tám ngày để quét sạch tất cả các người.” Không cần phải thương lượng.

Tướng JEAN-JULIEN FONDE: Giải pháp phải đến từ Fontainebleau. Sau đó các cuộc đàm phán tại Fontainebleau thất bại. Từ đó, các mối quan hệ xấu dần đi. Không khí đầy ảm đạm.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Thỏa thuận tháng Ba coi như đã chết. Với lực lượng của Pháp và Việt Minh ở cự ly gần, cuộc giao tranh ngày càng leo thang. Cả hai bên đều có những hành động khiêu khích. Tháng 11 năm 1946, Pháp pháo kích vào Hải Phòng. Nhiều sĩ quan Pháp tin rằng chỉ có vũ lực mới có thể ngăn chặn được Việt Minh.

HENRI MARTIN: Khi chúng tôi đến thăm Hải Phòng sau đó, tất cả các khu dân cư Việt Nam đã bị xóa sổ hoàn toàn. Có người chết bị chôn vùi dưới đống đổ nát … rất khó để biết con số chính xác. Nhưng phần lớn hơn của thành phố, đối với chúng tôi từ những gì chúng tôi nhìn thấy, gần như toàn bộ phần Việt Nam của thành phố đã bị phá hủy.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Tướng Fonde đã cố gắng tranh luận phản bác với Tướng Giáp.

Tướng JEAN-JULIEN FONDE: “Nghe này,” tôi nói, “Tôi biết chiến tranh: giết người, chết chóc, tàn phá, cầu bị nổ tung, nhà cháy. Đây là điều không thể tưởng tượng được. Chúng ta phải ngăn chặn điều này.” Anh ta nói với tôi, “Bạn nghe này. Chính trị đi trước kinh tế. Sự tàn phá không quan trọng. Cái chết – một triệu người Việt Nam chết – không quan trọng. Người Pháp cũng sẽ chết. Chúng tôi sẵn sàng. Nó sẽ kéo dài hai năm, năm năm nếu cần thiết. Chúng tôi sẽ không nhượng bộ nữa. “

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Cuối năm 1946, chính phủ của Hồ Chí Minh buộc phải rời khỏi Hà Nội, ra khỏi các thành phố. Cuộc chiến tranh Việt Nam đầu tiên đã bắt đầu. Người Pháp tự tin rằng họ có thể nhanh chóng quét sạch đội quân rởm của tướng Giáp. Họ là một đội quân hiện đại với vũ khí hiện đại, một số được mua bằng viện trợ của Hoa Kỳ. Việt Minh được sự ủng hộ rộng rãi của nông dân.

DƯƠNG VĂN KHÁNH: Tôi được nghe kể về Bác Hồ, người đã đấu tranh cho quyền lợi của nông dân và công nhân. Vì vậy, là một nông dân đã phải chịu đựng rất nhiều, tôi nhận ra rằng điều đúng đắn duy nhất đối với tôi là đi theo con đường tương tự.

NGUYỄN THỊ ĐỊNH: Lúc đầu chúng tôi không có vũ khí gì ngoài giáo tre. Nhưng ở miền Bắc nước ta, họ đang sản xuất vũ khí. Tôi được chỉ định vào đó để báo cáo tình hình miền Nam. Bác Hồ nói với tôi rằng Bác đã cưu mang miền Nam trong sâu thẳm trái tim, và tôi nên nói với Bác những gì chúng tôi cần để trung ương cung cấp cho chúng tôi để đánh Pháp và đuổi chúng ra khỏi đất nước. Tôi trả lời rằng chúng tôi cần súng. Bác Hồ nói rằng Trung ương chỉ có thể cấp cho chúng ta bao nhiêu khẩu súng vì họ không có nhiều. Điều chính, ông nói, là để bắt các khẩu súng của kẻ thù và sử dụng những khẩu súng này để chống lại chúng.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Người Pháp sa lầy trong một cuộc chiến cát lún. Họ tuyên bố một lần nữa rằng một khu vực “đã được bình định,” chỉ để thấy nó bị trượt trở lại quyền kiểm soát của Việt Nam. Du kích dường như có mặt ở khắp mọi nơi và không ở đâu cả. Trong một nỗ lực nhằm lấy sự ủng hộ của dân chúng khỏi Việt Nam, người Pháp đã tạo ra một chính phủ đối thủ của Việt Nam, Nhà nước Việt Nam. Với tư cách là người cai trị, người Pháp đã chọn cựu hoàng của Việt Nam, Bảo Đại. Nhưng họ đã đặt ra quá nhiều giới hạn đối với chế độ của ông ta đến nỗi đối với nhiều người Việt Nam, chế độ này dường như không hề độc lập.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: 1950 đã mang lại một nguồn trợ giúp mới cho Việt Nam. Lực lượng của Mao Trạch Đông đã đến biên giới Việt Nam, chiếm toàn bộ Trung Quốc. Họ mở rộng sự công nhận về mặt ngoại giao cho chính phủ của ông Hồ, quốc gia đầu tiên làm như vậy. Liên Xô nhanh chóng theo sau. Và một tuần sau, Hoa Kỳ công nhận quốc gia đối địch của Bảo Đại. Các đường dây đã được vẽ trong một cuộc Chiến tranh Lạnh tiếp tục.

DOUGLAS MACARTHUR II (cố vấn Bộ Ngoại giao): Vào đầu những năm 1950, Hoa Kỳ có khái niệm về chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa cộng sản quốc tế như một khối nguyên khối cứng của Trung Quốc và Nga, không có kẽ hở nào trong đó đang tìm cách mở rộng và giành vị trí thống trị trong thế giới. Ở châu Âu, họ đã đánh chiếm Đông Âu, đẩy sang Tiệp Khắc; và ở Đông Nam Á, một khu vực mà chúng tôi có mối quan tâm, họ dường như đang cố gắng làm điều tương tự.

Tổng thống HARRY TRUMAN, 1950: Chính nghĩa tự do đang bị thách thức trên khắp thế giới ngày nay bởi các lực lượng của chủ nghĩa cộng sản đế quốc …

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào tháng 5 năm 1950, lần đầu tiên Tổng thống Truman cho phép Hoa Kỳ viện trợ trực tiếp cho cuộc chiến của Pháp ở Đông Dương – 10 triệu đô la – khởi đầu cho cam kết của Hoa Kỳ.

Tổng Thống HARRY TRUMAN: … Họ đã chứng minh hết lần này đến lần khác rằng cuộc nói chuyện về hòa bình của họ chỉ là tấm áo choàng cho chủ nghĩa đế quốc.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Cam kết của Hoa Kỳ sâu sắc hơn sau khi quân đội Bắc Triều Tiên xâm lược Hàn Quốc vào cuối tháng 6 năm 1950.

DEAN RUSK: Vào cuối tuần xảy ra cuộc tấn công của Triều Tiên, chúng tôi đã quyết định tăng cường viện trợ rất đáng kể cho Pháp và Đông Nam Á. Bởi vì vào thời điểm đó, chúng tôi không biết liệu người Trung Quốc có thể cố gắng tiến vào khu vực đó như một phần của cuộc tổng tấn công ở châu Á hay không.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào cuối năm 1950, Hoa Kỳ đã viện trợ 150 triệu đô la cho lực lượng Pháp, bao gồm máy bay, xe tăng, nhiên liệu, đạn dược và bom napalm. Khi các chiến lược gia Hoa Kỳ nhìn vào châu Á, họ thấy một mối đe dọa từ Cộng sản đang lan rộng. Cuộc chiến ở Triều Tiên đã trở thành một cuộc chiến tranh quốc tế. Và tại Việt Nam, Việt Cộng đã liên kết với Trung Quốc Cộng sản. Năng lực chiến tranh của Việt Nam được cải thiện đáng kể.

Đại tá BÙI TÍN: Chúng tôi đã sử dụng vũ khí mới để tấn công quân Pháp. Chúng tôi đã có thể quét sạch hai đơn vị lớn của Pháp và thu giữ tất cả vũ khí của họ. Đã dọn đường cho liên lạc giữa Việt Nam và thế giới bên ngoài. Sau đó chúng tôi nhận được viện trợ quân sự từ Trung Quốc, đặc biệt là trang thiết bị.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Thất bại ở biên giới phía Bắc là một thảm họa đối với người Pháp. Chiến tranh Đông Dương không còn chỉ là một cuộc xung đột thuộc địa. Nó vẫn còn nhỏ, nhưng nó đã trở nên quốc tế, được các cường quốc lớn ủng hộ cả hai bên. Vào cuối năm 1953, Mỹ đã chi trả 80% chiến tranh, hơn một tỷ đô la mỗi năm. “Le jaunissement” – Việt Nam hóa chiến tranh của Pháp – và các chiến lược khác để giành được sự ủng hộ của Việt Nam đã thất bại. Người Pháp kiểm soát các thành phố, nhưng Việt Nam kiểm soát các vùng nông thôn. Người Pháp kiểm soát ban ngày; the Việt Minh, the night. Tướng Henri de Navarre trở thành chỉ huy thứ năm của Pháp trong vòng 5 năm.

Đại Úy JEAN POUGET: Khi Tướng Navarre đến, ông ấy đã mở ngay một tệp và trên tệp đó tôi viết “Mục tiêu Chiến tranh”. Chúng tôi tìm kiếm những gì để nói với quân đội. Chà, cho đến cuối tập tin này thực tế vẫn trống. Chúng tôi không bao giờ có thể thể hiện một cách cụ thể mục tiêu chiến tranh của mình.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Tướng Navarre đã thử một chiến lược mới khác. Các đơn vị của Pháp được thiết lập ở những vùng xa xôi, được cung cấp bằng đường hàng không. Nhiệm vụ của họ là truy lùng và tiêu diệt Việt gian.

Người Pháp đã lên kế hoạch thí nghiệm chiến lược mới trong một vùng thung lũng ở đối núi miền Tây để dụ Việt Minh vào bẫy, cách xa Hà Nội 170 dặm (272 cây số): Điện Biên Phủ  

Việt Nam đã đi qua thung lũng trong một cuộc tấn công lớn vào Lào. Người Pháp mong đợi một cuộc tấn công khác và cho rằng Điện Biên Phủ   sẽ là nơi giao tranh với họ. Vào tháng 11 năm 1953, 12.000 quân Pháp bắt đầu thả xuống thung lũng, dưới sự chỉ huy của Đại tá Christian de Castries. Bộ chỉ huy cao nhất của Pháp ở Sài Gòn chắc chắn rằng Tướng Giáp sẽ không bao giờ có thể tập trung đủ số lượng quân xung quanh Điện Biên Phủ , không bao giờ cho pháo hạng nặng lên đồi, không bao giờ mở các đường tiếp tế. Ban chỉ huy tại Điện Biên Phủ cũng tự tin không kém. Sĩ quan pháo binh khẳng định rằng không một khẩu súng Việt Nam nào bắn được quá ba viên đạn.

CAPTAIN JEAN POUGET: Tôi đã thấy tất cả các loại chính quyền dân sự và quân sự đi qua Dienbienphu. Trừ khi trí nhớ của tôi hoàn toàn bị bóp méo, tôi không nhớ một ai, tuyệt đối không một ai trong số những nhà chức trách này không phát hiện ra rằng Dienbienphu là một căn cứ đáng gờm. Đó là vùng đất và căn cứ không quân tuyệt vời, nó “không thể nhầm lẫn.”

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việt Minh coi Điện Biên Phủ là một cơ hội lớn, nhưng cũng là một canh bạc lớn. Lực lượng của Hồ Chí Minh đã thất bại nặng nề trong các cuộc tấn công vào các cứ điểm khác của quân Pháp. Nhưng họ quyết định mạo hiểm.

Đại Úy CAO XUÂN NGHĨA: Từ Thái Nguyên, chúng tôi mất khoảng 45 ngày. Chúng tôi hành quân vào ban đêm và nghỉ ngơi vào ban ngày. Đôi khi chúng tôi chỉ ngủ ở ven đường nếu không có nơi trú ẩn xung quanh.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Bộ chỉ huy Pháp đã mời một trận chiến vì họ nghĩ rằng Việt Nam sẽ không bao giờ có đủ quân và súng đến Điện Biên Phủ. Nhưng họ đã làm. Năm mươi mốt ngàn lính Việt Nam – quân số gấp bốn lần quân Pháp – vượt núi, vác đồ tiếp tế trên lưng, xe đạp thồ, vác súng.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Cả hai bên đều có lý do đặc biệt khi muốn giành chiến thắng tại Đện Biên Phủ. Cùng lúc này, tháng Giêng năm 1954, các cường quốc đang họp tại Berlin. Họ ấn định ngày và địa điểm – ngày 26 tháng 4 tại Geneva – để gặp gỡ và thảo luận về các vấn đề châu Á, trong đó có cuộc khủng hoảng Đông Dương. Ngày 13 tháng 3, Giáp mở cuộc tấn công vào Điện Biên Phủ. Trận chiến bắt đầu với các cuộc tấn công “biển người” lớn. Các khẩu pháo của Việt Minh đã che chắn pháo binh Pháp từ các vị trí được đào và ngụy trang rất kỹ nên máy bay Pháp không thể bắn trúng được. Bài học đầu tiên đã bị rớt trong vòng tám giờ. Đến ngày hôm sau, ngày 14 tháng 3, trận pháo kích của Việt Minh đã phá hủy phi đạo chính. Bộ tham mưu Pháp bị sốc. Đại tá de Castries trở nên thu mình, thiếu thông thạo. Vào đêm thứ hai, người chỉ huy pháo binh Trung tá Charles Piroth đã tự sát nói rằng, “Tôi hoàn toàn bị ô nhục.” Bốn ngày sau trận chiến, Việt Minh đã kiểm soát toàn bộ chu vi. Cái giá phải trả là rất cao: hàng ngàn người chết và bị thương trong số những người Việt Nam. Giáp quyết định thay đổi chiến lược.

Tướng GIÁP: Quyết định ở mặt trận Dienbienphu đối với tôi là một trong những quyết định lớn nhất và khó khăn nhất trong cuộc đời chiến đấu của tôi.

Đại tá BÙI TÍN: Với tư cách chỉ huy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định chấm dứt cuộc tấn công này theo chiến thuật sóng người. Toàn bộ kế hoạch đã được thay đổi. Cuộc tấn công bị dừng lại và toàn bộ số pháo hạng nặng được kéo lùi về một phía xa. Sau đó, các chiến hào, địa đạo được đào và xây dựng lại tinh thần của bộ đội dựa trên khẩu hiệu: “Tiến công kiên cố, chiến đấu kiên cố.” Xẻng trở thành vũ khí vô cùng quan trọng. Tất cả các cán bộ, chiến sĩ đều dồn hết thời gian, sức lực vào việc đào hào, hầm. Chúng tôi từ từ bao vây Dienbienphu bằng các chiến hào, khoét vào phi đạo để nó không thể sử dụng được nữa, từ từ thắt thòng lọng quanh cổ quân Pháp.

LƯU Ý: Khi phi đạo ra ngoài, quân Pháp đồn trú phụ thuộc vào việc thả dù, nhưng hỏa lực phòng không Việt Nam buộc các phi công phải bay quá cao. Vật tư bắt đầu rơi vào tay kẻ thù. Sự thay đổi chiến lược của Tướng Giáp đã phát huy tác dụng, và ông đã giải quyết được một cuộc vây hãm lâu dài. Đối với người Pháp, Dienbienphu trở thành cơn ác mộng. Mùa mưa bắt đầu sớm với những cơn mưa như trút nước. Các hầm trú ẩn và hầm trú ẩn của quân Pháp bị sụp đổ. Nước sạch trở nên không thể tìm thấy. Vật tư y tế đã hết. Không máy bay nào có thể hạ cánh để sơ tán những người bị thương. Những người đàn ông bị thương trong chiến hào chìm dưới lớp bùn cao bằng thước để chết.

JEAN POUGET: Tôi đến vào đêm ngày 2 tháng 5 và Dienbienphu rơi vào ngày 7 tháng 5. Kỉ niệm tôi lưu giữ về nó là một khối thời gian. Không có ngày hay đêm. Tôi không bao giờ nằm. Tôi chưa bao giờ ngủ. Tôi không nhớ đã ăn. Bốn giờ sáng tạm lắng. 35 người chúng tôi ở lại đồn của tôi, với một khẩu súng máy, một trái lựu đạn. Vì vậy, tôi hỏi trên đài phát thanh, tôi nói, “Vì anh không thể gửi quân tiếp viện …” Anh ta nói, “Anh muốn tôi lấy chúng ở đâu? Anh biết là không còn gì cả.” “Vậy thì cho tôi ủy quyền đi ra ngoài.” Anh ta trả lời rất đơn giản, “Không thể nào. Anh là lính dù, anh phải ở đó để chết.” Chúng tôi dựng một rào chắn bằng xác chết ở lối vào vì chúng tôi không có bao cát, và chúng tôi chờ đợi. Và chúng tôi nhìn thấy những bóng đen lần lượt đến, Việt Minh. Tôi quyết định ném lựu đạn và chúng tôi ngay lập tức bị bắn trả. Một trong những ấn tượng cuối cùng của tôi là cảm thấy bức tường xác chết rùng mình dưới ngọn lửa bùng lên. Sau đó, một quả lựu đạn chắc chắn đã trúng vào mũ bảo hiểm của tôi vì lưới bị cháy và mũ bảo hiểm bị móp. Mũ bảo hiểm của Mỹ rất chắc chắn. Tôi bất tỉnh và khi tôi đến, phía trên tôi, rất gần, một chiếc mặt nạ của một bác sĩ phẫu thuật, từ đó vang lên một giọng nói: “Anh là tù binh của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Mặc dù các quay phim chiến đấu của Việt Nam có mặt tại Dienbienphu, nhưng các cảnh quay về trận chiến kéo dài 55 ngày đã được đạo diễn Liên Xô dựng lại sau trận Pháp bại trận. Một số phân cảnh phim là chân thực, một số tái hiện. Điện Biên Phủ khiến quân Pháp 1.500 người chết, 4.000 người bị thương, 10.000 người bị bắt làm tù binh. Nhiều người trong số các tù nhân đã chết trong các trại Việt Nam. Chiến thắng của Việt Nam tại Điện Biên Phủ còn khiến họ thiệt hại nhiều hơn: 8.000 người chết, 15.000 người bị thương.

JOHN FOSTER DULLES, tháng 6 năm 1954:

Tất cả các bạn đều biết rằng Pháp và đồng minh Việt Nam của họ đã phải hứng chịu những pha đảo ngược, đáng chú ý là sự thất thủ của Điện Biên Phủ sau một pha phòng ngự tuyệt vời. Tình hình hiện tại là nghiêm trọng, nhưng không có nghĩa là vô vọng. Trong hội nghị hiện nay tại Geneva, chúng tôi và các quốc gia tự do khác đang tìm kiếm một công thức để cuộc chiến có thể kết thúc và nhân dân Đông Dương đảm bảo độc lập thực sự. Cho đến nay, thái độ của Cộng sản tại Geneva là không đáng khích lệ.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Hội nghị Geneva gần như sa lầy ngay lập tức. Phái đoàn Hoa Kỳ được lệnh phải theo dõi và không được nói chuyện.

U. ALEXIS JOHNSON: Hướng dẫn của tôi là đi họp. Không tham gia vào họ và không đồng ý bất cứ điều gì ngoài việc ở đó và ngồi vào bàn. Và tôi thấy rằng một công việc rất khó khăn, ngồi vào bàn mà mọi người đang thảo luận và đưa ra một số kết luận mà không đồng ý với họ; trong những tình huống mà bản thân sự im lặng có xu hướng đồng ý. Tôi có thể nói với bạn rằng tôi đã rất rất rất không hạnh phúc và đổ mồ hôi rất rất rất tự do.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Hoàng đế Bảo Đại, người đứng đầu Nhà nước Việt Nam, cũng đã cử một phái đoàn đến Geneva.

BẢO ĐAI: Tôi đã được nói rằng tôi nên chấp nhận những người Cộng sản tại bàn hội nghị. Tôi nói: “Không, chỉ có một nhà nước Việt Nam. Đó là Cộng sản là những kẻ nổi loạn.” Với lập trường kiên quyết của tôi, họ đã biến hội nghị chính trị thành hội nghị quân sự.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào tháng 6, nội các Pháp sụp đổ, và một thủ tướng mới lên nắm quyền, một người chỉ trích cuộc chiến, Pierre Mendes-France. Mendes-France đã thực hiện lời hứa với Quốc hội Pháp. Nếu không giải quyết được vấn đề Đông Dương tại Geneva trong vòng 30 ngày, ông sẽ từ chức. Hoa Kỳ lo sợ điều này có nghĩa là Pháp có thể từ bỏ Đông Dương cho Cộng sản.

U. ALEXIS JOHNSON: Washington hoàn toàn không rõ ràng về loại thỏa thuận mà Mendes-France đang đề xuất thực hiện hoặc thỏa thuận nào mà ông ấy sẽ thực hiện – và nếu thỏa thuận sẽ là thứ mà chúng ta có thể sống hoặc chấp nhận , hoặc liệu chúng ta có phải tố cáo nó hay không và thực tế là phải bước ra khỏi hội nghị.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Sau nhiều cuộc điều động bí mật, một tuần trước thời hạn của mình, Mendes-France đã đưa tất cả những người tham gia vào vị trí tại Geneva. Vào ngày 20 tháng 7, một ngày trước thời hạn, hai vấn đề vẫn chưa được giải quyết.

PHẠM VĂN ĐỒNG: Tại hội nghị có hai vấn đề được thảo luận: Một là đường phân giới tạm thời giữa hai miền. Và ngày kia là ngày tổng tuyển cử thống nhất đất nước Việt Nam. Hai vấn đề này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Điều đó đã rất rõ ràng.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Việt Nam, trước chiến thắng tại Điện Biên Phủ, đã cứng rắn trong cả hai vấn đề, nhưng vào ngày cuối cùng, Liên Xô và Trung Quốc đã buộc họ phải thỏa hiệp. Việt Nam, người kiểm soát phần lớn đất nước, sẽ nhận được ít hơn một nửa. Các cuộc bầu cử để thống nhất Việt Nam sẽ diễn ra; Không phải sớm, khi chắc chắn Việt Nam sẽ vô địch, mà là hai năm nữa. Họ đã bị cắt giảm bởi các đồng minh của họ. Người Liên Xô và người Trung Quốc có một số động cơ, trong số đó, là sự sợ hãi; nếu Mendes-France thất bại, Pháp có thể tiếp tục chiến đấu và Mỹ có thể can thiệp.

PREMIER PIERRE MENDES-PHÁP, ngày 21 tháng 7 năm 1954:

Lý trí và hòa bình đã chiến thắng. Sau những ngày đêm đàm phán cam go, đầy lo lắng và hy vọng, lệnh ngừng bắn đã được ký kết. Trong tâm hồn và lương tâm của tôi, tôi chắc chắn rằng đây là những điều kiện tốt nhất mà chúng tôi có thể hy vọng trong tình trạng hiện tại của mọi thứ.

U. ALEXIS JOHNSON: Cảm giác của riêng tôi khi kết thúc hội nghị là chúng tôi có lẽ đã thu được gần như tất cả những gì có thể thu được trong bối cảnh tình hình thực tế. Tôi không, tôi không nghĩ chúng ta có thể kiếm được nhiều hơn thế. Nhưng tôi phải nói rằng thành thật mà nói, tôi không mấy lạc quan rằng miền Nam Việt Nam sẽ có thể tồn tại.

Đại tá BÙI TÍN: Chúng tôi nghĩ rằng sau khi ký các hiệp định, người Pháp bây giờ sẽ bị dư luận thế giới buộc phải thực hiện các hiệp định Genève. Và chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng sẽ có một cuộc tổng tuyển cử được tổ chức sau hai năm nữa, và khi đó Cách mạng chắc chắn sẽ thắng lợi. Vì vậy, chúng tôi chào nhau, “Trong hai năm!” Chúng tôi dự kiến sẽ có một cuộc tổng tuyển cử và thống nhất trong hai năm.

NGƯỜI ĐIỀU HỢP: Vào mùa thu năm 1954, Việt Nam đã hành quân vào Hà Nội, lấy lại từ tay người Pháp những gì họ đã mất tám năm trước đó. Đối với Mỹ và thế giới, có vẻ như Việt Nam cũng sẽ sớm tiến quân vào Sài Gòn, khi người Pháp rút quân, lấy đi mọi thứ: nhà cửa, xe tải, nhà máy, thậm chí cả xác chết của họ.

Among them was Ho Chi Minh.

Ho Chi Minh’s early years are difficult to trace. He was always mysterious about himself, giving few interviews, and preferring in later life to present himself as the benevolent “Uncle Ho.” Ho was born about 1890 as Nguyen Tat Thanh, the son of an official who resigned rather than serve under the French. As a young man, Ho left his country, working as a shiphand and cook in America, Britain and France.

In 1917, Ho moved to Paris. He took the pseudonym Nguyen Ai Quoc, “Nguyen the Patriot,” and began to agitate for Vietnam’s independence. He tried to plead his cause at the Versailles Conference following World War I, but was not admitted. His effort made him famous among the Vietnamese in France.

In 1920, Nguyen Ai Quoc became a founding member of the French Communist Party, the first Vietnamese Communist. He remained in France editing an anti-colonial paper called Le Paria (The Outcast), and supporting himself as a photographer’s assistant. His drawings, published in the newspaper, showed he was still concerned with Vietnam, which he had not seen for ten years.

The Communists sent him to Moscow for training in 1923.

He travelled widely, organizing expatriate Vietnamese into a revolutionary party. Reports during the next 17 years placed him in Germany, China, Thailand, France, Russia.

FRENCH NEWSREEL:
Pathe Journal presents a review of achievements accomplished under the protection of our flag.

In regions of hostility and misery French civilizers have brought peace, work, prosperity and joy.

The French overseas domain is an essential part of the world’s economy, an active force of civilization and a glorious testimony to the grandeur of France.

NARRATOR: World War II brought the end of this “grandeur of France.” Japan, pursuing its conquest of China, wanted to block the transport of war material through Vietnam. In June 1940, three days after France fell to Nazi Germany, Japan demanded the right to land forces in Indochina.

Japan’s arrival deeply impressed the Vietnamese. Asians like themselves had overthrown the European colonials — for it was clear who was in charge.

NARRATOR: The Japanese supported several Vietnamese nationalist groups. But other groups were both anti-French and anti-Japanese. The most important was the Vietminh, founded in 1941 by Nguyen Ai Quoc. He had returned to Vietnam after 30 years, with a new name: Ho Chi Minh, meaning, “He Who Enlightens.”

HOANG QUOC VIET: After the conference to establish the Vietminh, Uncle Ho sent out a letter calling for the support of the population. And it was this that rallied the entire country around the movement. And when people realized that Ho Chi Minh was actually Nguyen Ai Quoc, their trust in the movement was further established. This was because the name Nguyen Ai Quoc had been widely known in the country. People knew that he was a great patriot.

NARRATOR: The Vietminh organized guerrilla bases, trained cadres, harassed the French and Japanese and spread propaganda, urging the peasants to resist.

INTERVIEWER: Why did the Vietminh fight the Japanese while other Asian nationalists collaborated?

PREMIER PHAM VAN DONG: (Laugh) I apologize, but this is a very funny question. At that time, the Japanese had already overthrown the French and began to dominate our country, so of course we had to fight the Japanese.

NARRATOR: By early 1945, Vietnam was suffering a terrible famine. People blamed the French and Japanese, who were hoarding rice, feeding it to Japanese troops, and even exporting it to Japan — while an estimated two million Vietnamese out of eight million in the northern areas died.

DR. TRAN DUY HUNG: At that time, in our estimate, at least 40,000 starving, poor peasants arrived in Hanoi to beg for food and to wait for handouts, for alms. The French did not organize any hunger relief. And the Japanese specifically forbade us to carry out any hunger relief effort of our own. People dug into the garbage dumps in order to find any edible thing at all. They also ate rats. But this was not enough to keep them alive.

NARRATOR: The Vietminh organized the peasants to seize rice stocks, and gained tremendous prestige. This peasant support gave them a political edge they never lost.

PRESIDENT FRANKLIN D. ROOSEVELT, March 1, 1945:
It’s a long tough road to Tokyo. It is longer to go to Tokyo than it is to Berlin, in every sense of the word. The defeat of Germany will not mean the end of the war against Japan…

NARRATOR: As the war in Europe drew to a close, Allied attention turned to Asia and the war against Japan. One of the pressing needs was intelligence. The Vietminh believed Allied statements supporting the rights of oppressed peoples. They had given the Allies information about Japanese troop movements, so the Americans turned to the Vietminh and its leader, Ho Chi Minh.

ARCHIMEDES PATTI (O.S.S. Officer): I first met Ho on the China border between China and Indochina in the last days of April of 1945. He was an interesting individual. Very sensitive, very gentle, rather a frail type. We spoke quite at length about the general situation, not only in Indochina, but the world at large.

ABBOT LOW MOFFAT: We knew he was a Communist, but we also felt, as they did, and the way anybody who has known, met Ho Chi Minh, who I’ve ever talked with, had the same feeling: he was first a nationalist, and second a Communist. That is, he was interested in getting the independence of his people and then he thought probably the best thing for them was the Communist type of government. But he was a nationalist first and foremost.

NARRATOR: The Vietminh agreed to help the Allies. Major Patti sent a training group, the Deer Mission, into the northern mountains.

ARCHIMEDES PATTI: The Deer team went in and they organized. Out of about 500 Vietnamese, we selected, with the help of General Giap, selected 200. We spent the next four weeks training these young men into the art of using automatic weapons, demolition equipment, infiltrating and exfiltrating into various dangerous areas. There, for the first time, we saw what kind of troops the Vietminh were. They were a very willing, fine young nationalist, really what we used to say “gung ho” type. They were willing to risk their lives for their cause, the cause of independence against the French.

NARRATOR: Before Ho’s men could prove their willingness, World War II was over.

The sudden Japanese collapse took many in French Indochina by surprise, but the Vietminh were ready for what they called the “August Revolution.” Declaring Vietnam independent, they marched in to take Hanoi peacefully. Ho Chi Minh formed a government in Hanoi, carefully mixing in members of other nationalist groups. But in the South, away from Ho’s moderating influence, his followers started purging rival nationalists. Still with the Vietminh, and perhaps reinforcing the idea of American support, was the OSS.

ARCHIMEDES PATTI: Two or three days after I met Ho, he asked me to come in and stop and see him at which time he wanted to show me something, and what he wanted to show me was a draft of the Declaration of Independence that he was going to declare several days later. Of course, it was in Vietnamese and I couldn’t read it and when it was interpreted to me, I was quite taken aback to hear the words of the American Declaration of Independence. Words about liberty, life and the pursuit of happiness, etcetera. I just couldn’t believe my own ears.

NARRATOR: On September 2, 1945, on board the U.S.S. Missouri in Tokyo Bay, Japan formally surrendered. On the same day throughout Vietnam, the Vietnamese celebrated their self-proclaimed Independence Day and the formation of a new country, the Democratic Republic of Vietnam. In Hanoi, Ho Chi Minh read a speech that began, “All men are created equal. They are endowed by their creator with certain inalienable rights…”

DR. TRAN DUY HUNG: I can say that the most moving moment was when President Ho Chi Minh climbed the steps and the national anthem was sung. It was the first time that the national anthem of Vietnam was sung in an official ceremony. Uncle Ho then read the Declaration of Independence, which was a short document. As he was reading, Uncle Ho stopped and asked, “Compatriots, can you hear me?” This simple question went into the hearts of everyone there. After a moment of silence, they all shouted, “Yes, we hear you!” And I can say that we did not just shout with our mouths but with all our hearts, the hearts of over 400,000 people standing in the square then. After Uncle Ho finished reading the Declaration of Independence, an airplane, a small plane, circled over us. We did not know whose plane it was. We thought that it was a Vietnamese plane. But when it swooped down over us, we recognized the American flag. The crowd cheered enthusiastically.

NARRATOR: Ho appealed to President Harry Truman but he would probably have accepted anyone’s support. Truman did not respond to Ho’s letters. He had been in office only four months in August 1945 and had not had time to formulate a policy on Indochina.

ABBOT LOW MOFFAT: There was quite a division in the State Department over Indochina. Both the Far Eastern office and the European office were in complete agreement that we wanted a strong France recovered in Europe from the trauma of Vichy and the defeat in the war, but the European division felt that to help get the French back on their feet we should go along with practically anything that the French wanted.

NARRATOR: The Allies had worked out a compromise plan to disarm the Japanese. Above the 16th parallel, the Chinese would take the surrender of Japanese troops. The British would do the same in the South. They arrived in Saigon in early September.

NARRATOR: The British commander, General Douglas Gracey, was a seasoned colonial officer with limited political experience. His orders were to disarm the Japanese, and maintain law and order.

MAJ. PHILIP MALINS: He had absolutely no mandate whatever to start talking about handing over French Indochina to anyone other than the French. He had his straight, strict instructions.

NARRATOR: The Vietminh fought back, but they had few weapons to use against the French troops, and the Vietminh’s brutal tactics alienated other southern nationalists.

The French regained control. In the North, Ho’s Vietminh had widespread support, but they also faced a problem: 150,000 Nationalist Chinese troops. The Chinese came to disarm the Japanese. They stayed to loot and disrupt and they threatened to remain indefinitely.

Desperate to expel the Chinese, Ho Chi Minh negotiated with the French. In March 1946, they reached an agreement. The French colonial authorities displayed their power as Ho Chi Minh, President of the Democratic Republic of Vietnam, came to confirm the agreement permitting French troops back for a limited period. In return, France recognized the new Vietnamese state, and the Chinese army left. Ho Chi Minh was gambling that the French would not try to seize power, and that a long-range agreement could eventually be negotiated.

GENERAL VO NGUYEN GIAP: A truce was concluded. There were to be future negotiations to settle the problems between us and France. Under these conditions, we allowed a certain number of French troops to take the place of the nearly 200,000 troops of Chiang Kai-shek, which were to evacuate our country as soon as possible. So we had some breathing time to consolidate our forces.

NARRATOR: The French in Hanoi greeted the arriving troops as conquering heroes. The Vietnamese stayed home. Ho Chi Minh travelled to France to continue the negotiations. But the French cabinet had collapsed. There was no one to negotiate with. He had to play tourist until a new coalition was formed. While he waited, the French administration in Saigon, acting on its own, declared the southern part of Vietnam separate from the North. It was a violation of the March agreement and Ho wondered if there was any point to further negotiations. “Should I go back home?” he asked. He was told the new government would straighten it out in Paris. In 1946, Ho had been famous as a patriot for a quarter of a century, and the Vietnamese in Paris turned out to welcome this first president of an independent Vietnam. The French greeted the veteran Communist formally, as a chief of state. At the time in France, Communists were part of the government. In public, relations were cordial, but in fact the French and Vietnamese negotiators were far apart.

NARRATOR: The negotiations, held at the historic Fontainebleau chateau, went badly. The Vietnamese insisted that southern Vietnam was part of their country. The French would not budge.

PREMIER PHAM VAN DONG: When the meeting began, the chief of the French delegation, Max Andre, said to me: “We only need an ordinary police operation for eight days to clean all of you out.” There was no need for negotiations.

GENERAL JEAN-JULIEN FONDE: The solution had to come from Fontainebleau. Then the negotiations at Fontainebleau failed. From then on, relationships deteriorated. The climate deteriorated.

NARRATOR: The March agreement was dead. With French and Vietminh forces at close range, the fighting escalated. There were provocations on both sides. In November 1946, the French shelled Haiphong. Many French officers believed only force would stop the Vietminh.

HENRI MARTIN: When we visited Haiphong afterwards, all the Vietnamese neighborhoods were completely wiped out. There were dead buried under debris… it is difficult to know the exact figure. But the larger part of the city, it seemed to us from what we saw, almost the entire Vietnamese part of the city had been destroyed.

NARRATOR: General Fonde tried to reason with General Giap.

GENERAL JEAN-JULIEN FONDE: “Listen,” I said, “I know war: murders, deaths, destruction, bridges blown up, burning houses. This is unthinkable. We have to prevent this.” He said to me, “You listen. Politics come before economics. The destruction is not important. The deaths — one million Vietnamese deaths — not important. The French will die too. We are ready. It will last two years, five years if necessary. We will no longer give in.”

NARRATOR: By late 1946, Ho Chi Minh’s government was forced out of Hanoi, out of the cities. The first Vietnam war had started. The French were confident that they could wipe out Giap’s ragtag army quickly. They were a modern army with modern weapons, some bought with U.S. aid. The Vietminh had widespread support from the peasants.

DUONG VAN KHANH: I heard about Uncle Ho who fought for the rights of the peasants and the workers. So as a peasant who has suffered a lot, I realized that the only correct thing for me to do was to follow the same path.

NGUYEN THI DINH: At first we did not have any weapons except for bamboo spears. But in the northern part of our country, they were producing arms. I was appointed to go there to report on the situation in the South. Uncle Ho told me that he carried the South in the depth of his heart, and I should tell him what we needed so that the central government could supply us to fight the French and drive them out of the country. I replied that we needed guns. Uncle Ho said that the central government could only give us so many guns because they did not have many. The main thing, he said, was to capture the enemy’s guns and use these guns against them.

NARRATOR: The French bogged down in a quicksand war. Again and again they declared an area “pacified,” only to find it slipping back into Vietminh control. The guerrillas seemed to be everywhere and nowhere. In an attempt to take popular support away from the Vietminh, the French created a rival Vietnamese government, the State of Vietnam. As its ruler, the French picked Vietnam’s former emperor, Bao Dai. But they placed so many limitations on his regime that to many Vietnamese it did not seem at all independent.

NARRATOR: Nineteen-fifty brought a new source of help to the Vietminh. Mao Zedong’s forces arrived at Vietnam’s borders, having taken all of China. They extended diplomatic recognition to Ho’s government, the first country to do so. The Soviet Union followed quickly. And a week later, the United States recognized Bao Dai’s rival state. Lines were being drawn in a continuing Cold War.

DOUGLAS MACARTHUR II (State Department counselor): In the early 1950s, the United States had a concept of communism, international communism as a hard monolithic block of China and Russia with no crevices in it that were seeking to expand and gain a dominant position in the world. In Europe, they had taken over Eastern Europe, pushed into Czechoslovakia; and in Southeast Asia, an area in which we had interests, they seemed to be trying to do the same thing.

PRESIDENT HARRY TRUMAN, 1950:
The cause of freedom is being challenged throughout the world today by the forces of imperialistic communism…

NARRATOR: In May 1950, for the first time, President Truman authorized direct U.S. aid for the French war in Indochina — $10 million — the beginning of an American commitment.

PRESIDENT HARRY TRUMAN:
…They have proved time after time that their talk about peace is only a cloak for imperialism.

NARRATOR: The U.S. commitment deepened after North Korean troops invaded South Korea at the end of June, 1950.

DEAN RUSK: It was decided on the very weekend of the North Korean attack that we would step up our aid very significantly to the French and to Southeast Asia. Because we did not know at that point whether or not the Chinese might attempt to move into that area as part of a general offensive in Asia.

NARRATOR: By the end of 1950, the United States had given $150 million in aid to the French forces, including planes, tanks, fuel, ammunition and napalm. As U.S. strategists looked at Asia, they saw a spreading Communist menace. The fight in Korea had become an international war. And in Vietnam, the Vietminh had linked up with Communist China. Vietminh war capacities improved dramatically.

COLONEL BUI TIN: We used the new weapons to mount offensives against the French. We were able to wipe out two large French units and capture all their weapons. The way was cleared for communications between Vietnam and the outside world. Then we received military aid from China, especially equipment.

NARRATOR: The defeats on the northern border were a disaster for the French. The Indochina war was no longer just a colonial conflict. It was still small, but it had become international, supported on both sides by major powers. By the end of 1953, America was paying 80 percent of the war, over a billion dollars a year. “Le jaunissement” — France’s Vietnamizing of the war — and other strategies to gain Vietnamese support had failed. The French controlled the cities, but the Vietminh controlled the countryside. The French controlled the day; the Vietminh, the night. General Henri de Navarre came in as the fifth French commander in five years.

CAPTAIN JEAN POUGET: When General Navarre arrived, he opened a file right away and on that file I wrote “War Goals.” We looked for what to tell the troops. Well, until the end this file remained practically empty. We never could express concretely our war goals.

NARRATOR: General Navarre tried yet another new strategy. French units were set up in remote areas, supplied by air. Their mission was to search out and destroy the Vietminh.

The French planned to test their new strategy in a valley set among the western mountains, 170 miles from Hanoi: Dienbienphu. The Vietminh had passed through the valley during a major attack on Laos. The French expected another attack and thought Dienbienphu would be the place to engage them. In November 1953, 12,000 French troops began dropping into the valley, under the command of Colonel Christian de Castries. The top French command in Saigon was sure that Giap would never be able to mass enough troops around Dienbienphu, never get heavy artillery up the hills, never keep supply lines open. The command at Dienbienphu was equally confident. The artillery officer insisted that no Vietminh gun would be able to fire more than three rounds.

CAPTAIN JEAN POUGET: I saw all sorts of civilian and military authorities go through Dienbienphu. Unless my memory is completely twisted, I don’t remember a single one, absolutely not a single one of these authorities who didn’t find that Dienbienphu was a formidable base. It was the great land and air base, it was “untakeable.”

NARRATOR: The Vietminh saw Dienbienphu as a great opportunity, but a great gamble, too. Ho Chi Minh’s forces had lost heavily in attacks on other French strong points. But they decided to take the risk.

CAPTAIN CAO XUAN NGHIA: From Tahinguyen it took us about 45 days. We marched at night and rested during the day. Sometimes we just slept on the roadsides if there were no shelters around.

NARRATOR: The French command was inviting a battle because they thought the Vietminh would never be able to get enough troops and guns to Dienbienphu. But they did. Fifty-one thousand Vietminh soldiers — four times the number of French troops — crossed the mountains, carrying supplies on their backs and bicycles, and hauling guns.

NARRATOR: Both sides had a special reason for wanting to win at Dienbienphu. At this same time, January 1954, the great powers were meeting in Berlin. They set a date and place — April 26 in Geneva — to meet and discuss Asian issues, including the Indochina crisis. On March 13, Giap launched his attack on Dienbienphu. The battle began with massive “human wave” assaults. The Vietminh guns blanketed French artillery from positions so well dug in and camouflaged that the French planes could not get at them. The first post fell within eight hours. By the next day, March 14, the Vietminh shelling had destroyed the main airstrip. The French command staff was shocked. Colonel de Castries became withdrawn, uncommunicative. On the second night the artillery commander committed suicide saying, “I am completely dishonored.” Four days into the battle, the Vietminh controlled the entire perimeter. The cost was high: thousands were dead and wounded among the Vietminh. Giap decided to change strategy.

GENERAL GIAP: This decision on the Dienbienphu front constitutes for me one of the biggest and the most difficult decisions in my fighting life.

COL. BUI TIN: As commander, General Vo Nguyen Giap decided to end this attack based on the human-wave tactic. The entire plan was changed. The attack was stopped and all the heavy artillery pieces were pulled back to a distance. Then trenches and tunnels were dug and the morale of the troops was rebuilt based on the slogan: “Advance solidly, Fight solidly.” Shovels became extremely important weapons. All the cadres and soldiers put most of their time and energy into digging trenches and tunnels. We slowly surrounded Dienbienphu with trenches, cutting into the airstrip so it could not be used again, slowly tightening the noose around the necks of the French.

NARRATOR: With the airstrip out, the French garrison was dependent on parachute drops, but Vietminh anti-aircraft fire forced pilots to fly too high. Supplies began falling into enemy hands. General Giap’s change in strategy was working, and he settled in for a long siege. For the French, Dienbienphu became a nightmare. The rainy season started early with drenching downpours. French dugouts and shelters collapsed. Clean water became impossible to find. Medical supplies ran out. No planes could land to evacuate the wounded. Men who were wounded in the trenches sunk under the yard-high mud to die.

JEAN POUGET: I arrived during the night of May 2, and Dienbienphu fell on May 7. The memory I keep of it is one block of time. There was no day or night. I never lay down. I never slept. I don’t remember eating. At four o’clock in the morning there was a lull. We were 35 left at my post, with one machine gun, one grenade left. So I asked on the radio, I said, “Since you cannot send reinforcements…” He said, “Where do you want me to get them? You know there is nothing left.” “Then give me the authorization to get out.” He answered very simply, “No way. You’re paratroopers, you’re there to die.” We built a barricade with corpses at the entrance since we had no sandbags, and we waited. And we saw the shadows coming one by one, the Vietminh. I decided to throw my grenade and we immediately got return fire. One of my last impressions was to feel the wall of corpses shivering under the burst of fire. Then a grenade must have hit my helmet because the net was burned and the helmet dented. American helmets are very solid. I lost consciousness and when I came to, there was above me, very close, a surgeon’s mask from which a voice came: “You are a prisoner of the army of the Democratic Republic of Vietnam.

NARRATOR: Though Vietminh combat cameramen were present at Dienbienphu, scenes of the 55-day battle were restaged by a Soviet director after the French defeat. Some of the film sequences are authentic, some re-enacted. Dienbienphu cost the French 1,500 dead, 4,000 wounded, 10,000 taken prisoner. Many of the prisoners died in Vietminh camps. The Vietminh victory at Dienbienphu cost them even more: 8,000 dead, 15,000 wounded.

JOHN FOSTER DULLES, June 1954:
You are all aware that the French and their Vietnam ally have suffered reverses, notably the fall of Dienbienphu after a superb defense. The present situation is grave, but by no means hopeless. In the present conference at Geneva, we and other free nations are seeking a formula by which the fighting can be ended and the people of Indochina assured true independence. So far the Communist attitude at Geneva is not encouraging.

NARRATOR: The Geneva Conference bogged down almost immediately. The United States delegation was ordered to watch and not to talk.

U. ALEXIS JOHNSON: My instructions were to go to the meetings. To not participate in them and not to agree to anything but to be there and sit at the table. And I found that a very difficult job, to sit at a table at which people were making discussions and some conclusions were being arrived at, without agreeing to them; in situations in which silence itself tends to give assent. I can tell you that I was very, very unhappy and perspired very, very freely.

NARRATOR: Emperor Bao Dai, head of the State of Vietnam, also sent a delegation to Geneva.

BAO DAI: I was told I should accept the Communists at the conference table. I said, “No, there is only one Vietnamese state. It is I. The Communists are rebels.” Given my uncompromising position they turned the political conference into a military conference.

NARRATOR: In June, the French cabinet fell, and a new prime minister took over, a critic of the war, Pierre Mendes-France. Mendes-France made a promise to the French National Assembly. If he could not resolve the Indochina question at Geneva within 30 days, he would resign. The United States feared this meant France might abandon Indochina to the Communists.

U. ALEXIS JOHNSON: Washington was not at all clear as to what kind of an agreement Mendes-France was proposing to make or what agreement he would make — and if the agreement was going to be something with which we could possibly live or acquiesce, or whether or not we were going to have to denounce it and, in effect, walk out of the conference.

NARRATOR: After much secret maneuvering, one week before his deadline, Mendes-France got all the participants in place in Geneva. On July 20, the day before the deadline, two issues were still unresolved.

PREMIER PHAM VAN DONG: At the conference there were two issues under discussion: One was the temporary demarcation line between the two regions. And the other was the date of the general elections for the reunification of Vietnam. These two issues were closely connected. That was very clear.

NARRATOR: The Vietminh, flush with their victory at Dienbienphu, took a hard line on both issues, but on the last day, the Soviets and the Chinese forced them to compromise. The Vietminh, who controlled most of the country, would get less than half. The elections to reunify Vietnam would take place; not soon, when the Vietminh would surely win, but in two years. They had been undercut by their own allies. The Soviets and Chinese had several motives, among them, fear; if Mendes-France failed, France might keep fighting and America might intervene.

PREMIER PIERRE MENDES-FRANCE, July 21, 1954:
Reason and peace have won out. After days and nights of hard negotiations, filled with anxiety and hope, the cease-fire has been signed. In my soul and my conscience, I am sure these are the best conditions we could have hoped for in the present state of things.

U. ALEXIS JOHNSON: My own feeling at the end of the conference was that we had probably obtained just about all that could be obtained in the light of the situation on the ground. I don’t, I don’t think we could have obtained much more. But I must say that very honestly I did not have much optimism that South Vietnam was going to be able to survive.

COL. BUI TIN: We thought that having signed the agreements, the French would now be forced by world opinion to carry out the Geneva accords. And we strongly believed that there would be a general election held in two years, and then the Revolution would certainly win. So we greeted each other, “In two years!” We expected to have a general election and reunification in two years.

NARRATOR: In the fall of 1954, the Vietminh marched into Hanoi, taking back from the French what they had lost eight years before. To America and the world, it looked like the Vietminh would soon be marching into Saigon, too, as the French pulled out, taking everything: houses, trucks, factories, even their dead.

Nam bộ kháng chiến – miền Nam đi trước về sau…

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://baocantho.com.vn/-mien-nam-di-truoc-ve-sau–a125598.html

Năm 1858, thực dân Pháp và Iphanho (Tây Ban Nha) nổ súng bắn vào cửa biển Đà Nẵng xâm lược Việt Nam. Năm 1859, người Pháp vào Gia Định và sau đó bằng rất nhiều hiệp ước, nước Việt Nam mất dần vào tay thực dân Pháp.

Nhân dân Nam bộ nhất tề đứng lên dũng cảm chiến đấu với kẻ thù. Ảnh: Internet
Nhân dân Nam bộ nhất tề đứng lên dũng cảm chiến đấu với kẻ thù. Ảnh: Internet

Hơn 80 năm nô lệ, ngày 2-9-1945, cùng với nhân dân cả nước, người dân Sài Gòn nô nức chào đón ngày ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Chỉ 21 ngày sau, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam lần thứ 2. Vậy là, người dân Sài Gòn, người dân Nam bộ chỉ được hưởng không khí độc lập đúng 21 ngày.

* Lời thề Ngày Độc lập

Ngày 2-9-1945, Nam bộ tổ chức mít tinh chào mừng Ngày Độc lập. Hơn 1 triệu đồng bào từ các tỉnh, thành phố đã nô nức tề tựu về Sài Gòn để được chào mừng Ngày Độc lập và nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. Những lời tuyên bố lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh – vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau – đã không trực tiếp đến với đồng bào Nam bộ. Xứ ủy và Ủy ban hành chánh Nam bộ đã đề nghị nhà cách mạng Trần Văn Giàu, Chủ tịch Lâm ủy hành chánh Nam bộ đứng ra phát biểu ý kiến.

Chủ tịch Lâm ủy hành chánh Nam bộ Trần Văn Giàu đã nhanh chóng phác thảo ý kiến phát biểu chính. Bài phát biểu khẳng định niềm vui, niềm tự hào của người dân Nam bộ trước sự đổi đời từ một nước thuộc địa thành một nước dân chủ cộng hòa. Bài phát biểu cũng kêu gọi nhân dân đoàn kết chung quanh Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, sẵn sàng đặt lại quan hệ với nước Pháp trên cơ sở tôn trọng nền độc lập của Việt Nam với lời kêu gọi khi kết thúc: “Quốc dân hãy sẵn sàng chiến đấu!… Đứng lên! Ngày độc lập bắt đầu từ nay! Tiến tới, vì độc lập, vì tự do, tiến tới mãi! Không một thành lũy nào ngăn nổi chí của muôn dân trên đường giải phóng!”.

Đáp lời Chủ tịch Lâm ủy hành chánh Nam bộ, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch thay mặt Lâm ủy hành chánh Nam bộ long trọng đọc lời tuyên thệ trước đồng bào sẽ cương quyết lãnh đạo đồng bào giữ gìn đất nước, sẽ cùng đồng bào vượt qua khó khăn, nguy hiểm xây đắp nền độc lập hoàn toàn cho Việt Nam. Thay mặt nhân dân, Tổng thư ký Công đoàn Nam bộ Nguyễn Lưu đọc lời thề: “Chúng tôi, toàn thể nhân dân Việt Nam xin kiên quyết một lòng ủng hộ Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nếu người Pháp đến xâm lược Việt Nam một lần nữa thì chúng tôi cương quyết: không đi lính cho Pháp; không làm việc cho Pháp; không bán lương thực cho Pháp; không dẫn đường cho Pháp”. Hàng trăm ngàn người phía dưới hô to: “Xin thề! Xin thề! Xin thề”.

* Thực dân Pháp gây hấn ngay trong Ngày Độc lập

Trong khi hàng triệu người dân Nam bộ đang vui mừng chào đón Ngày Độc lập của dân tộc thì quân Pháp núp bóng quân Anh với danh nghĩa đồng minh đã bắn súng vào đoàn biểu tình trong lễ tuần hành mừng độc lập. Những ngày sau đó, dưới sự bảo trợ của quân Anh, quân Pháp ngày càng có nhiều hành vi khiêu khích trắng trợn.

Ngày 4-9-1945, tướng Anh Gracey ra lệnh phía chính quyền cách mạng “giải tán lực lượng vũ trang”, ngăn cản quần chúng xuống đường biểu tình. Cả Sài Gòn và Nam bộ sống trong một không khí ngộp thở, khẩn trương khi chuẩn bị tinh thần cho một cuộc chiến đấu mới. Từ thủ đô Hà Nội phát đi lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nhân dân Việt Nam hoan nghênh quân đồng minh kéo vào Việt Nam để tước khí giới quân Nhật, nhưng cương quyết phản đối quân Pháp kéo vào Việt Nam, vì mục đích của họ chỉ là hãm dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ một lần nữa”. Trước sự gây hấn của quân thù, ngày 9-9-1945, tại Sài Gòn, Tổng bộ Việt Minh đã ra lời kêu gọi đồng bào chuẩn bị tinh thần và lực lượng để chống trả quân thù “đang sửa soạn súng đạn để một lần nữa giày xéo đất nước ta, tiêu diệt nòi giống ta”.

* “Mùa thu rồi ngày hăm ba”

Ngày 25-8-1945, Ủy ban Hành chính lâm thời Nam bộ được thành lập do ông Trần Văn Giàu làm chủ tịch. Ủy ban Hành chính lâm thời Nam bộ tuyên bố mình là bộ phận phía Nam của Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Sau gần 80 năm đô hộ nước ta, thực dân Pháp, mặc dù trước đó đã thất bại và thúc thủ trước phát xít Nhật nhưng vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược lại nước ta một lần nữa.

Đêm 22-8-1945, Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam kỳ (thuộc Chính phủ De Gaulle) là Jean Cédile nhảy dù xuống gần Biên Hòa và bị nông dân bắt giữ giao cho quân đội Nhật và sau đó được thả ra. Ngày 27-8-1945, Cédile gặp ông Trần Văn Giàu đề nghị tương lai chính trị của Việt Nam. Trong cuộc họp này, ông Trần Văn Giàu yêu cầu điều kiện tiên quyết là Pháp trước hết phải công nhận nền độc lập của Việt Nam rồi mới bàn tới quan hệ giữa Việt Nam và Pháp. Trong đêm
22-9, ở bất cứ nơi nào quân Pháp đánh chiếm đều bị quân dân ta nhất loạt đứng lên chống trả quyết liệt.

Sáng 23-9-1945, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam bộ Trần Văn Giàu phát lời kêu gọi đồng bào:

“Đồng bào Nam bộ, nhân dân thành phố Sài Gòn,

Anh em công nhân, thanh niên, tự vệ, dân quân, binh sĩ!

Đêm qua, thực dân Pháp đánh chiếm trụ sở chính quyền ta ở trung tâm Sài Gòn. Như vậy là Pháp bắt đầu xâm chiếm nước ta một lần nữa.

Ngày 2-9, đồng bào đã thề quyết hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ độc lập của Tổ quốc.

Độc lập hay là chết!

Hôm nay, Ủy ban Kháng chiến kêu gọi: Tất cả đồng bào, già, trẻ, trai, gái hãy cầm võ khí xông lên đánh đuổi quân xâm lược. Ai không có phận sự do Ủy ban Kháng chiến giao phó, thì hãy lập tức ra khỏi thành phố. Những người còn ở lại thì:

– Không làm việc, không đi lính cho Pháp.

– Không đưa đường, không báo tin, không bán lương thực cho Pháp.

Hãy tìm thực dân Pháp mà diệt. Hãy đốt sạch, phá sạch các cơ sở, xe cộ, tàu bè, kho tàng, nhà máy của Pháp.

Sài Gòn bị Pháp chiếm phải trở thành một Sài Gòn không điện, không nước, không chợ búa, không cửa tiệm.

Hỡi đồng bào!

Từ giờ phút này, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt giặc Pháp, tiêu diệt tay sai của chúng.

Hỡi anh em binh sĩ, dân quân, tự vệ! Hãy nắm chặt vũ khí trong tay xông lên đánh đuổi thực dân Pháp, cứu nước. Cuộc kháng chiến bắt đầu!

Sáng ngày 23-9-1945

Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam bộ”.

Ngay chiều 23-9-1945, thực hiện lời kêu gọi của Ủy ban Kháng chiến, cả Sài Gòn đình công, bất hợp tác với Pháp. Các công sở, hãng buôn đóng cửa, chợ không họp, các ụ chiến đấu hình thành khắp nơi trong thành phố. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Nam bộ nhất tề đứng dậy, tiếng súng kháng chiến ở Sài Gòn rung động cả nước.

Ngày 24-9-1945, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời hiệu triệu nhân dân cả nước dốc sức ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Nam bộ. Ngày 26-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam bộ khẳng định quyết tâm kháng chiến của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta; đồng thời chỉ rõ mục tiêu chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc. Chỉ bằng mã tấu, gậy tầm vông và tấm lòng quả cảm, những người dân Nam bộ thành đồng đã nhất tề đứng lên dũng cảm chiến đấu với kẻ thù. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp những ngày đầu ở Nam bộ đã đánh đòn đầu tiên và mạnh mẽ vào âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, tiêu hao sinh lực địch, kìm chân địch trong thành phố và các thị xã trong một thời gian, góp phần giữ vững chính quyền non trẻ của nhân dân.

TS Vũ Trung Kiên

(Học viện Chính trị khu vực 2)

Hiệp định sơ bộ Pháp–Việt (1946)

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C4%91%E1%BB%8Bnh_s%C6%A1_b%E1%BB%99_Ph%C3%A1p%E2%80%93Vi%E1%BB%87t_(1946)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Chiến tranh Đông Dương
Hiệp định Sơ bộ 6/3 và Tạm ước 14/9/1946 thể hiện bản lĩnh, trí tuệ sáng  tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt là một hiệp định được ký ngày 6 tháng 3 năm 1946 giữa Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Hiệp định này được xem là một nước cờ chính trị của cả hai bên nhằm mưu đồ lợi ích riêng. Trong đó, các nhà sử học phương Tây và Việt Nam đều cho rằng Hồ Chí Minh đã đặt cược uy tín của mình để đẩy lùi nguy cơ chiến tranh giữa hai dân tộc Pháp – Việt.

Nguyên nhân

Sau cuộc đảo chính của Nhật ngày 9 tháng 3 năm 1945, thực dân Pháp mất quyền cai trị Liên bang Đông Dương. Tuy nhiên, sau khi Nhật đầu hàng khối Đồng MinhViệt Minh chớp thời cơ giành chính quyền từ tay Đế quốc Việt Nam được Đế quốc Nhật Bản bảo hộ, nhanh chóng kiểm soát đất nước, và thành lập chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Theo thỏa thuận của ba cường quốc Đồng Minh là Trung Quốc, Anh, Hoa Kỳ thì 20 vạn quân của quân đội Trung Hoa Dân Quốc sẽ tiến vào miền Bắc Việt Nam để làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Đế quốc Nhật Bản. Ở miền Nam Việt Nam, quân Anh tiến vào với nhiệm vụ tương tự. Tuy người Việt Nam đã tự thành lập chính quyền và tuyên bố độc lập, chính phủ Pháp vẫn quyết tâm tái lập quyền cai trị Đông Dương. Tưởng Giới Thạch nhanh chóng nhận thức được rằng với vị thế cường quốc của Trung Quốc sẽ giúp ông ép Pháp phải chấp nhận các điều kiện do ông đưa ra để giải quyết những xung đột lợi ích giữa Trung Quốc và Pháp nếu Pháp muốn quay lại thuộc địa cũ của mình.

Rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945, người Pháp, dưới sự giúp đỡ của quân đội Anh, đã dùng vũ lực buộc Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ phải giải tán, giao lại chính quyền cho người Pháp. Tuy nhiên, chính quyền người Việt đã thực hiện cuộc chiến tranh du kích để chống lại.

“Miền Nam đi trước về sau” 

“Từ ngày “Nam Bộ kháng chiến” (23-9-1945) đến ngày “Toàn quốc kháng chiến” (19-12-1946), nhân dân Nam Bộ đã tiến hành cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp trước cả nước 15 tháng. Thế nên, nói “miền Nam đi trước về sau” hay “ba mươi năm đi trước về sau” là nói đến sự kiện đặc biệt của 15 tháng “đi trước” ấy”.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, chính phủ của Hồ Chí Minh tổ chức Tổng tuyển cử trên cả nước. Mặc dù việc Hồ Chí Minh thắng cử là không thể nghi ngờ nhưng cuộc Tổng tuyển cử diễn ra không dễ dàng do sự chống phá của quân đội Pháp và những người thân Pháp cũng như thân Trung Hoa Dân quốc. Sau đó, chính phủ hợp hiến được thành lập bao gồm chủ yếu là những người dân tộc chủ nghĩa và Đảng Cộng sản, phần thiểu số thuộc về những đảng phái thân Pháp và thân Trung Hoa Dân quốc. Hồ Chí Minh chấp nhận sự có mặt của những người thân Pháp và thân Trung Hoa Dân quốc nhằm hai mục đích. Thứ nhất, lấy đó làm cơ sở để kêu gọi Mỹ công nhận nền độc lập và viện trợ cho Việt Nam. Thứ hai, nhằm tránh phải đụng độ vũ trang với Pháp và Trung Hoa Dân quốc.

Đầu 1946, với khoảng 40 ngàn quân, Pháp mới chỉ kiểm soát được một ít đất đai ngoài các thành phố, và các đường quốc lộ ở Nam Bộ. Tới tháng 3/1946, tướng Leclerc cũng chỉ mới có 50 ngàn quân. Khác với hầu hết những người Pháp, Leclerc nhận thức được khó khăn của cuộc chiến tranh du kích và có thiên hướng lựa chọn đàm phán để có được một giải pháp chính trị, chứ không chủ trương giải quyết vấn đề bằng quân sự. Điều này có nghĩa là Pháp phải từ bỏ toan tính tách rời xứ Nam Kỳ khỏi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thống nhất. Tướng Leclerc tin chắc rằng Việt Minh là một phong trào dân tộc chủ nghĩa mà Pháp không thể khuất phục bằng quân sự nên ông ép đại diện của Pháp ở miền Bắc, Jean Sainteny, ký bằng được một thỏa ước với Hồ Chí Minh, người đứng đầu chính phủ đang kiểm soát Hà Nội và Hải Phòng. Trong một báo cáo mật gửi về Paris hôm 27/3, Leclerc nói sẽ không một giải pháp nào bằng bạo lực là khả thi ở Đông Dương.

Ở miền Bắc, quân đội Trung Hoa Dân Quốc vẫn công nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho mưu đồ chính trị của họ. Tuy nhiên, người Pháp cũng đã thương lượng với chính phủ Trung Hoa Dân Quốc để đưa quân đội xâm nhập Bắc Việt Nam theo lệnh của phe Đồng Minh.

Ngày 28 tháng 2 năm 1946Hiệp ước Hoa – Pháp được ký kết, với các điều khoản chính như sau:

  • Pháp trả lại cho Tưởng các tô giới của Pháp trên đất Trung Hoa là: Hán KhẩuThiên TânThượng Hải, Quảng Đông, Quảng Châu Loan, Sa Diện và nhượng lại quyền khai thác lợi tức kinh tế cũng như quyền sở hữu tại toàn bộ tuyến đường sắt Hải Phòng – Côn Minh cho Trung Quốc.
  • Pháp từ bỏ một số quyền lợi kinh tế trên đất Trung Quốc và nhượng lại những quyền lợi đó cho Trung Quốc.
  • Pháp cũng từ bỏ quyền lãnh sự tài phán đối với công dân Pháp sống tại Trung Quốc (quyền lãnh sự tài phán là một đặc quyền bất bình đẳng, theo đó công dân Pháp sống tại Trung Quốc nếu phạm tội thì sẽ đưa về lãnh sự quán Pháp để xét xử chứ không xử bằng luật pháp nước sở tại)
  • Đồng thời, Trung Quốc cũng sẽ được một số quyền lợi ở miền Bắc Việt Nam như: Được quyền khai thác kinh tế tại một đặc khu của cảng Hải Phòng và Hải Phòng sẽ là một hải cảng tự do để Trung Quốc có thể ra vào buôn bán, hàng hoá của Trung Quốc nhập qua Miền Bắc Việt Nam sẽ không cần phải đóng thuế.
  • Ngược lại, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đồng ý cho Pháp thay thế quân Trung Hoa giải giáp quân Nhật tại miền Bắc Việt Nam, việc thay quân sẽ diễn ra từ ngày mùng 1 đến ngày 15 tháng 3 năm 1946, kỳ hạn chậm nhất sẽ là ngày 31 tháng 3 năm 1946 (Tuy nhiên, trên thực tế, Quân Trung Hoa Dân Quốc vẫn còn đồn trú tại miền Bắc Việt Nam cho đến ngày 15/6/1946 thì người lính cuối cùng của Trung Quốc mới rời khỏi Bắc Việt, trong thời gian Quân Trung Quốc còn ở Việt Nam đồn trú, ngày 18/3/1946, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã cử một phái đoàn sang Trùng Khánh để giữ quan hệ hoà hảo với Trung Quốc).

Về cơ bản, hiệp ước này cho phép quân đội Pháp trở lại miền Bắc Việt Nam thay thế cho quân Trung Hoa Dân Quốc để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Đổi lại, Pháp cũng đã trả lại các tô giới của mình trên đất Trung Quốc cho chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch và nhượng cho Trung Quốc một số đặc quyền về kinh tế và chính trị.

Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt

Trong thời gian đầu, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm nhiều thành phần kiên quyết chống lại việc Pháp tái lập chủ quyền ở Đông Dương. Nhưng sau đó những thành viên Chính phủ là đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương thay đổi ý kiến muốn ký kết Hiệp định với Pháp. Theo quan điểm của Ban Thường vụ TW 3 Đảng cộng sản Đông Dương (đã lui vào hoạt động bí mật), tháng 3 năm 1946, nếu Pháp cho Đông Dương tự trị theo tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 thì kiên quyết đánh, nhưng nếu cho Đông Dương tự chủ thì hòa để phá tan âm mưu của “bọn Tàu trắng, bọn phản động Việt Nam và bọn phát xít Nhật còn lại”.

Sáng ngày 6-3-1946, một cuộc họp đặc biệt của Hội đồng Chính phủ đã họp với sự có mặt của Hồ Chí Minh – Chủ tịch Chính phủ; các Bộ trưởng: Huỳnh Thúc KhángPhan AnhChu Bá PhượngĐặng Thai MaiTrương Đình TriVũ Đình HòeTrần Đăng Khoa; Cố vấn tối cao Vĩnh ThụyNguyễn Văn Tố – Trưởng ban Thường trực Quốc Hội; Võ Nguyên Giáp – Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến; Vũ Hồng Khanh – Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến; Hoàng Minh Giám – Thư ký Hội đồng Chính phủ. Sau khi nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo, Hội đồng bàn bạc và nhất trí quyết định sẽ ký Hiệp định sơ bộ với Pháp theo các điều kiện đã được thỏa thuận. Vì Nguyễn Tường Tam vắng mặt nên Hội đồng Chính phủ cử Vũ Hồng Khanh thay mặt để cùng với Hồ Chí Minh ký bản Hiệp định sơ bộ với Pháp. Ngày 6 tháng 3 năm 1946Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt được ký kết giữa Jean Sainteny, đại diện chính phủ Cộng hòa Pháp, và Hồ Chí Minh cùng Vũ Hồng Khanh, đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nội dung của Hiệp định bao gồm các điểm chính sau đây:

Về phía người Pháp Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt giúp họ đưa quân đội ra miền Bắc Việt Nam mà không gặp sự kháng cự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như ở Nam Kỳ, đồng thời Hiệp ước Hoa-Pháp giúp họ tránh khỏi sự cản trở của các tướng lĩnh Trung Hoa Dân quốc.

Về phía Việt Minh, quân Trung Hoa được xác định là nguy cơ lớn nhất. Để loại trừ nguy cơ của 20 vạn quân Trung Hoa chiếm đóng, tránh được tình thế bất lợi “phải cô lập chiến đấu cùng một lúc với nhiều lực lượng phản động (thực dân Pháp, Tàu trắng, bọn phản cách mạng trong nước)”, tập trung đối phó với người Pháp và “các đảng phái phản động”. Đồng thời, tranh thủ được thời gian hòa hoãn quý báu để “Bảo toàn thực lực giành lấy giây phút nghỉ ngơi và củng cố vị trí mới đã chiếm được, chấn chỉnh đội ngũ cách mạng, bổ sung cán bộ, bồi dưỡng và củng cố phong trào”. 

Một số thành viên trong Chính phủ Liên hiệp thuộc lực lượng Việt QuốcViệt Cách không tán thành việc này lên tiếng phản đối gây ra bất đồng sâu sắc, dân chúng cũng có người băn khoăn, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bình tĩnh giải thích và động viên đồng bào để đồng bào hiểu rõ “cần phải biết chịu đựng hy sinh để mưu sự nghiệp lớn”. 

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Pháp Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946) cho phép Pháp đưa quân vào miền Bắc đổi lại Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là trong Liên bang Đông Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp vì nếu không có hiệp ước nào thì quân đội Pháp cũng sẽ vào miền Bắc Việt Nam theo lệnh của phe Đồng Minh trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại chưa được nước nào công nhận nên chưa có vị trí quốc tế nào. Mặc dù Hiệp định có chữ ký của Vũ Hồng Khanh nhưng đa số lãnh đạo Việt Quốc rút sự ủng hộ của họ cho chính phủ Hồ Chí Minh để phản đối, chống lại những gì họ gọi là “thân Pháp” trong chính sách của Việt Minh. Bảo Đại rời khỏi đất nước vào ngày 18 tháng 3, ngày quân Pháp vào Hà Nội để theo phái đoàn ngoại giao đến Trùng Khánh nhằm tái khẳng định tình hữu nghị Việt – Trung và để thăm dò việc Tưởng Giới Thạch muốn hai nước sẽ có quan hệ thế nào sau khi ký Hiệp ước Hoa-Pháp. Một hội nghị liên tịch được tổ chức để khai thông các bất đồng dẫn đến việc thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam.

Do Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt chỉ mang tính chất là khung pháp lý chứ chưa phải văn bản pháp lý chính thức nên Bộ Ngoại giao Pháp chưa phê chuẩn cho đến khi có Hiệp ước chính thức giữa hai bên Việt-Pháp. Sau khi ký Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt, hai bên Việt-Pháp tiếp tục xúc tiến hội đàm tại Hội nghị Đà Lạt và Hội nghị Fontainebleau để đàm phán về nền độc lập của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp và việc thống nhất Việt Nam. Thực ra, Pháp cũng chẳng thực tâm muốn đàm phán hòa bình mà họ chỉ câu giờ để có thời gian chuẩn bị đủ lực lượng tái chiếm Đông DươngLeclerc, tổng chỉ huy Pháp ở Đông Dương khi đề nghị đàm phán đã bị chuẩn tướng Charles de Gaulle trách móc: “Nếu tôi mà đồng ý mấy thứ nhảm nhí này thì đế quốc Pháp đã tiêu vong lâu rồi. Hãy đọc thật kỹ câu chữ trong tuyên bố tháng 3 của Pháp về Đông dương”.

Tuy nhiên, hiệp định đã bị Cao ủy Đông DươngGeorges Thierry d’Argenlieu, làm mất giá trị khi ông tuyên bố chấp nhận sự thành lập Nam Kỳ quốc tại Sài Gòn vào ngày 1 tháng 6 cùng năm trong lúc Hội nghị Fontainebleau đang diễn ra.

Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến tan rã

Sau khi ký Hiệp định, Hồ Chí Minh lập tức đã đưa Việt Minh hòa vào một mặt trận rộng lớn hơn, chủ trương đoàn kết một số đảng phái của Việt Nam, nhờ đó mà giảm sức ép chính trị. Ngày 27/5/1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam được thành lập với mục tiêu giữ vững quyền tự chủ để đi đến hoàn toàn độc lập.

Ngày 15/6/1946, người lính cuối cùng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc rời khỏi Việt Nam. Các thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng minh hội đã lần lượt rút khỏi chính phủ Liên hiệp. Lãnh tụ đảng Việt Cách là Nguyễn Hải Thần và các thành viên Việt Quốc – Việt Cách khác trong chính phủ như Nguyễn Tường TamVũ Hồng Khanh và cánh thân Tưởng do Vũ Hồng Khanh lãnh đạo lưu vong sang Trung Quốc. Các đảng viên Đại Việt phần lớn vẫn ở lại Việt Nam chờ thời cơ. Nguyễn Tường Tam với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao dẫn đầu phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia Hội nghị trù bị tại Đà Lạt, nhưng do bất đồng đã không tham gia hầu hết các phiên họp, sau đó cũng không tham gia Hội nghị Fontainebleau, cuối cùng rời bỏ chính phủ. Tài liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định Nguyễn Tường Tam thiếu bản lĩnh chính trị, lập trường bấp bênh, biển thủ công quỹ rồi đào nhiệm sang nước ngoài Việc các thành viên chủ chốt của Việt Quốc, Việt Cách như Nguyễn Hải ThầnNguyễn Tường TamVũ Hồng Khanh rời bỏ chính phủ và đi sang Trung Quốc đã đánh dấu chấm hết cho thời kỳ hợp tác giữa Việt Minh và các đảng phái thân Trung Hoa tại miền Bắc, trong công cuộc “kháng chiến kiến quốc” mà Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến là biểu tượng.

Trong lúc đó, Võ Nguyên Giáp từng bước tìm cách loại bỏ dần các đảng phái thân Trung Hoa như Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt, những người Trotskist ủng hộ Pháp, lực lượng chính trị Công giáo thân Pháp,… Ngày 19/6/1946, Báo Cứu Quốc của Tổng bộ Việt Minh đăng xã luận kịch liệt chỉ trích “bọn phản động phá hoại Hiệp định sơ bộ Pháp Việt mùng 6 tháng 3“. Một trong những sự kiện nổi tiếng nhất trong chiến dịch truy quét các đảng phái đối lập là vụ án phố Ôn Như Hầu. Tướng Võ Nguyên Giáp bắt đầu chiến dịch truy quét các đảng phái đối lập bằng lực lượng công an và quân đội do Việt Minh kiểm soát với sự giúp đỡ của nhà cầm quyền Pháp. Ông Giáp cũng sử dụng các sĩ quan Nhật Bản trốn tại Việt Nam và một số vũ khí do Pháp cung cấp cho chiến dịch này.

Để thương thảo nhằm thực hiện tạm ước 6/3, Hồ Chí Minh dẫn một đoàn đại biểu sang Pháp nhưng khi đoàn tới nơi, chính phủ Pháp vừa đổ và phải mất hàng tuần cho một chính phủ mới ra đời. Cùng thời gian đó, hôm 1/6, sau khi Hồ Chí Minh lên đường sang Paris, cao ủy Pháp d’Argenlieu đã phá tan những gì Sainteny vừa đạt được. d’Argenlieu ra tuyên bố tại Sài Gòn về một Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ ly khai khỏi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Với một chính thể phụ thuộc vào Pháp như vậy, đã không còn chỗ cho một cuộc bỏ phiếu trưng cầu ý dân ở Nam Bộ. Hồ Chí Minh tức giận nói với Salan, người tháp tùng ông sang Pháp: “Các người vừa ngụy tạo ra một “Alsace – Lorraine” và chúng ta đã bị đẩy vào “Cuộc chiến tranh trăm năm”

Đánh giá của các bên có liên quan

Sau khi ký Hiệp định sơ bộ, trong cuộc mitting ngày 7/3/1946, Hồ Chí Minh giải thích về việc ký kết hiệp định “Chúng ta trên thực tế đã độc lập từ tháng 8/1945, nhưng cho đến nay chưa có cường quốc nào công nhận độc lập của chúng ta. Bản hiệp định ký với nước Pháp này mở đường cho sự công nhận của quốc tế. Bản hiệp định sẽ dẫn chúng ta đến một vị trí quốc tế ngày càng vững vàng và đó là một thắng lợi chính trị lớn lao. Quân đội Pháp sẽ đến theo lệnh của các nước Đồng Minh. Họ chỉ có 15000 người và chỉ ở lại trong 5 năm nữa, sau đó họ sẽ rút khỏi nước ta. Chọn thương lượng thay vì đánh nhau chính là bằng chứng hiểu biết về chính trị. Thực vậy, vì sao lại đi hy sinh 50 hoặc 100 ngàn người trong khi chúng ta có khả năng bằng con đường thương lượng mà đi đến độc lập có thể trong 5 năm“. Còn Võ Nguyên Giáp phân tích “Những người không thỏa mãn chỉ hiểu độc lập hoàn toàn như một khẩu hiệu, một nhật lệnh, trên giấy tờ hoặc ngoài cửa miệng. Họ không thấy rằng độc lập của đất nước là kết quả của những điều kiện khách quan và trong cuộc chiến đấu giành độc lập của chúng ta, phải biết cương nhu tùy lúc… Chúng ta đã chọn con đường thương lượng nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho công cuộc đấu tranh giành độc lập hoàn toàn, nhằm có thể đợi chờ cơ hội đi đến một nền độc lập nguyên vẹn“. Ngày 12/3/1946, bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Tường Tam tuyên bố “Trung Quốc và Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ cho hòa bình ở Viễn Đông… Trong lúc chờ đợi nước Pháp và nước Việt Nam lập lại được một nền hòa bình vững chắc, nước Mỹ phải giúp đỡ chúng ta về mọi phương diện hoàn toàn như Trung Quốc

Võ Nguyên Giáp cho rằng Hiệp định sơ bộ cũng giống Hòa ước Brest-Litovsk (năm 1918) giữa Đế quốc Đức và nước Nga Xô viết. Ông cho hay thỏa ước ngừng bắn này với Đức đã dừng được cuộc xâm lấn của Đức vào Nga, nhờ đó mà những người Xô viết đã củng cố lực lượng quân đội và chính quyền của mình. Theo Võ Nguyên Giáp, Hiệp định Sơ bộ là nhằm bảo vệ và củng cố được vị thế về chính trị, quân sự và kinh tế của Việt Nam và để chuẩn bị lực lượng kháng chiến, do Việt Nam chưa sẵn sàng về binh lực cho cho một cuộc kháng chiến lâu dài với Pháp. Đối với những ý kiến phê phán bản Hiệp định sơ bộ không chứa đựng từ “độc lập”, ông Giáp cho rằng những người phản đối không nhận thấy rằng độc lập của một quốc gia là kết quả của các điều kiện khách quan, và trong cuộc đấu tranh để giành độc lập toàn vẹn, phong trào giành độc lập phải biết ứng biến theo tình hình, sẽ có những thời điểm phải cứng rắn và những thời điểm thì lại phải mềm dẻo.

Về phần Hồ Chí Minh, ông đã chỉ ra một thực tế rằng dù Việt Nam giành được độc lập từ tháng 8/1945, nhưng chưa có nước nào xác lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Hiệp định Sơ bộ sẽ mở đường cho sự công nhận quốc tế, đồng thời hạn chế lực lượng của Pháp ở Việt Nam ở mức 15 ngàn quân, với thời hạn là 5 năm. Như vậy Việt Nam có thể giành độc lập từng bước không cần đổ máu. Đồng thời ông cũng tuyên bố: “Tôi, Hồ Chí Minh, đã cùng với đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước”.

Về phía Cao ủy Pháp, Đô đốc d’Argenlieu và những người theo chủ trương của Thống chế de Gaulle – phe chủ chiến, Hiệp định này được coi như “Hiệp ước Munich của Pháp”. Họ không thực tâm muốn hòa bình mà chỉ coi bản Hiệp ước là một bước lấn tới (điều quân Pháp ra miền Bắc), rồi sau đó sẽ sử dụng sức mạnh vũ trang để tái chiếm Việt Nam làm thuộc địa.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://nld.com.vn/thoi-su/clip-chu-tich-nuoc-nguyen-xuan-phuc-dang-huong-tuong-niem-cac-vua-hung-20210421102605675.htm

(NLĐO)- Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cùng các vị Lãnh đạo Đảng, Nhà nước dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng, tưởng nhớ, tri ân công đức tổ tiên đã có công dựng nước trong ngày giỗ Tổ Hùng Vương sáng 21-4 (tức ngày 10-3 âm lịch).

Sáng nay 21-4 (tức 10-3 âm lịch), tại điện Kính Thiên trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh thuộc Khu Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đền Hùng (tỉnh Phú Thọ), thay mặt đồng bào cả nước, tỉnh Phú Thọ tổ chức trọng thể Lễ dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng, tưởng nhớ, tri ân công đức tổ tiên đã có công dựng nước.Current Time0:07/Duration0:32Auto

Video clip Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương Đền Hùng

Tham dự Lễ dâng hương Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2021 có Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc; Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng; Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai; Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Đỗ Văn Chiến; cùng các lãnh đạo Bộ, ban ngành Trung ương; đại biểu các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Sơn La, Thái Nguyên, Hòa Bình, Yên Bái, Cao Bằng, Điện Biên, Lai Châu.

Về phía tỉnh Phú Thọ có Bí Thư Tỉnh ủy Bùi Minh Châu; Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Văn Quang; Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Hoàng Công Thủy; Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hồ Đại Dũng cùng các lãnh đạo ban ngành tỉnh…

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 2.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cùng đoàn ban Lãnh đạo Đảng, Nhà nước dâng hương

Trong giờ phút thiêng liêng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tỉnh Phú Thọ… đã thành kính dâng hương, hoa, lễ vật tưởng nhớ, tri ân công đức của các Vua Hùng đã có công dựng nước, cầu cho xã tắc thịnh vượng, quốc thái dân an, bách gia trăm họ vạn đại trường tồn, đất nước ngày càng vững mạnh, hùng cường.

Trước anh linh các Vua Hùng, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Bùi Văn Quang, Chủ lễ Giỗ Tổ, đọc Chúc văn bày tỏ lòng tự hào, biết ơn công đức tổ tiên; ôn lại và tự hào về truyền thống dựng nước, giữ nước vẻ vang của dân tộc Việt Nam; kính cáo trước anh linh các bậc tiền nhân về những thành tựu to lớn mà đất nước đạt được trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế.

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 3.

Đoàn rước kiệu có mặt từ rất sớm để chuẩn bị cho buổi lễ

Bên cạnh thời cơ, vận hội mới đang mở ra, đất nước ta gặp khó khăn, thách thức không hề nhỏ, thế hệ con cháu Lạc Hồng xin nguyện tiếp nối truyền thống Tiên Rồng phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết vượt qua mọi khó khăn; phát huy sức mạnh, trí tuệ tổng hợp, tập trung chỉ đạo quyết liệt hơn, đổi mới sáng tạo hơn, đưa đất nước trở nên giàu mạnh, hùng cường, làm rạng danh cơ đồ dân tộc và mãi khắc ghi lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Con cháu Lạc Hồng cầu mong Thánh Tổ phù hộ mưa thuận, gió hòa, nhân khang, vật thịnh; dịch bệnh, nhất là đại dịch Covid-19, được đẩy lùi, xã tắc thịnh vượng, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Con cháu Lạc Hồng trên khắp mọi miền đất nước và kiều bào ta ở nước ngoài có cuộc sống an khang, thịnh vượng. Các tỉnh, thành phố trong cả nước thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026.

Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng năm 2021 được tổ chức trang nghiêm, thành kính, an toàn, tiết kiệm; đồng thời bảo đảm các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19; mang tính cộng đồng sâu sắc gắn với các hoạt động nhằm tôn vinh giá trị văn hóa thời đại Hùng Vương.

Một số hình ảnh Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo Đảng, Nhà nước dâng hương tưởng niệm các vua Hùng:

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 4.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc vẫy tay chào người dân đến hành hương

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 5.

javascript:if(typeof(admSspPageRg)!=’undefined’){admSspPageRg.draw(2011253);}else{parent.admSspPageRg.draw(2011253);}https://api.dable.io/widgets/id/6XggQDXN/users/45328671.1618299695071?from=https%3A%2F%2Fnld.com.vn%2Fthoi-su%2Fclip-chu-tich-nuoc-nguyen-xuan-phuc-dang-huong-tuong-niem-cac-vua-hung-20210421102605675.htm&url=https%3A%2F%2Fnld.com.vn%2Fthoi-su%2Fclip-chu-tich-nuoc-nguyen-xuan-phuc-dang-huong-tuong-niem-cac-vua-hung-20210421102605675.htm&ref=https%3A%2F%2Fwww.google.com.hk%2F&cid=45328671.1618299695071&uid=45328671.1618299695071&site=nld.com.vn&id=dablewidget_6XggQDXN&category1=Th%E1%BB%9Di%20s%E1%BB%B1%20trong%20n%C6%B0%E1%BB%9Bc&ad_params=%7B%7D&item_id=20210421102605675&pixel_ratio=1&client_width=765&network=non-wifi&lang=en&is_top_win=1&top_win_accessible=1

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 6.

Khoảng 7 giờ sáng 21-4, buổi lễ bắt đầu

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 7.

Đoàn rước kiệu di chuyển lên đền Thượng

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 8.

Trong ngày 21-4, tiết trời mát mẻ, việc rước kiệu diễn ra thuận lợi

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 9.

Hàng trăm thanh niên đại diện cho con Lạc, cháu Hồng cầm cờ di chuyển lên đền Thượng

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 10.

Nghi thức được diễn ra trang trọng và thành kính

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 11.

Rất đông người dân có mặt

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 12.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cùng đoàn ban Lãnh đạo Đảng, Nhà nước lên dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 13.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cùng đoàn ban Lãnh đạo Đảng, Nhà nước thực hiện nghi thức trên đền Thượng

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 14.
CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 15.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc thành kính dâng hương

CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 16.
CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 17.
CLIP: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các vua Hùng - Ảnh 18.

Chủ tịch UBND TP Hà Nội Chu Ngọc Anh thành kính dâng hương

Ngô Nhung

Những hình ảnh lịch sử ngày 30 tháng tư năm 1975

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

  1. Miền Nam Việt Nam – 30/4/1975

    Tại Ban Mê Thuột



  1. * 2 giờ 20 sáng ngày thứ hai – 10 tháng 3 năm 1975, quân cộng sản bắc việt bắt đầu nã pháo đại bác 130 ly, hỏa tiển 122 ly vào các cứ điểm quân sự và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu .

    * 4 giờ chiều ngày thứ hai – 10 tháng 3 năm 1975, quân cộng sản bắc việt chiếm thị xã Ban Mê Thuột, ngoại trừ khu vực Bộ tư lệnh sư đoàn 23 bộ binh còn được trấn giữ…

    * 6 giờ chiều ngày 10 tháng 3 năm 1975, trận chiến giữa Việt Nam Cộng Hòa và cọng sản bắc việt được coi như kết thúc.

    Thành phố bây giờ như một bãi tha ma, chứa đầy tử khí. Những đống tro tàn của nhiều khu phố bị cháy, bụi khói và gạch vụn gợi cho người ta cái cảm xúc của một chiến trường tàn cuộc lạnh lẽo rợn người”. (Nguyễn Định, BMTNĐCC.) – theo nguồn Quốc Gia Hành Chánh

Chiều ngày 10 tháng 3 năm 1975 Ban Mê Thuộc thất thủ

2. Tại Quảng Trị và Huế



Trên đèo Hải Vân

Ngày 18 tháng 3 năm 1975, người dân ở Huế, lũ lượt kéo vô Đà Nẵng để lánh nạn. Dòng người di tản ồ ạt chật cả đường phố. Xe nghẹt cả đèo Hải Vân, đứng dưới đèo nhìn lên thấy một dòng xe ngoằn ngoèo

Ngày 20 tháng 3 năm 1975 hàng mấy ngàn người dân già trẻ lớn nhỏ ở HUẾ ghồng ghánh ẳm bồng con cái chạy trốn cộng sản cã trăm cây số trên quốc lộ 1 vì họ còn ám ảnh nặng nề của năm Mậu Thân 1968 và Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Ngày 21 tháng 3 năm 1975, cọng sản đã cắt đứt quốc lộ 1 ở Truồi, giữa Huế & Đà Nẳng . cọng sản đang đống chốt ở đèo Phú Gia, có nhiều người dân di tản trên đoạn đường này bị chết.

Dân chúng di tản trên quốc lộ 1 từ Huế hướng về Đà Nẵng và cọng sản đả pháo kích trúng những vào những người dân đang di tản họ chết nằm bên lề đường, người sống bị thương nằm, ngồi la liệt .

Những người Lính Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa trên đường rút quân vô Đà Nẵng và đang kẹt trên đèo Hải Vân với dân chúng di tản .

























Ngày 21 tháng 3 năm 1975 nguyên gia đình bị cọng sản bắn chết ở quốc lộ 1,
gần đèo Hải Vân đang trên đường di tản

Người phụ nữ này 1 mình dẩn mấy đứa con chạy nạn từ Huế đang ngồi trên đèo Hải Vân với nổi lo âu































Chiếc xà lan quân vận vùng 1, di tản Quân & Dân chuyến cuối cùng từ Thuận An




Ngày 26 tháng 3 năm 1975 Quảng Trị và Huế đã thất thủ


Tại Đà Nẵng

Ngày 27-28 tháng 3 năm 1975, người Đà Nẳng chạy trốn cộng sản



Ngày 27 – 3 – 1975 Chuyến máy bay dân sự đầu tiên của Mỹ mướn đáp xuống phi trường Đà Nẵng để đưa người di tản,
nhưng mỗi khi máy bay đáp xuống những hỗn loạn diễn ra dữ dội. Nên các chuyến bay dân sự đó phải đình chỉ.






Sau đó thay đổi bằng 4 máy bay C-130 nhưng hỗn loạn vẩn liên tục nên 4 chiếc này
chỉ cất cánh duy nhất được một lần vào ngày 29-3-1975








Ngày 27 tháng 3 năm 1975 tại bến tàu Đà Nẵng












Cảng Đà Nẵng, trong giờ phút hấp hối .

Người dân chạy trốn cọng sản được câu lên tàu SS. Pioneer Contender




George J. Veith tiết lộ gì mới về Tổng thống Thiệu?

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Quanh Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không chỉ là kẻ thù chính trị mà còn là những điệp viên cộng sản được cài cắm rất sâu vào bộ máy VNCH. Trong tác phẩm mới nhất Drawn Swords in a Distant Land, tác giả George J. Veith đã nhắc lại một số chi tiết.

image022
Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập.

Ngay sau Tết Mậu Thân 1968, “Ngành Đặc biệt” (Special Branch-SB, trực thuộc Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia), bắt đầu kiểm tra xem làm thế nào mà Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) có thể thu thập tin tức chi tiết trong kế hoạch tấn công Bộ Tổng tham mưu và Dinh Độc lập.

Sau đó, khi Mỹ khám phá ra loạt tài liệu nhạy cảm của Việt Cộng trong một chiến dịch truy quét ở Tây Ninh, SB lập tức nghi có nội gián. Họ tăng cường giám sát những người tình nghi có móc nối bí mật với cộng sản. 


Thời điểm đó, SB đang theo dõi một người sống ở Sài Gòn tên Lê Hữu Thúy. Nấp dưới một bút danh, Thúy từng đăng các bài viết chỉ trích chính phủ trên một tờ báo do dân biểu Hoàng Hồ làm chủ. Hoàng Hồ hóa ra cũng là điệp viên Cộng sản. Khi điều tra hồ sơ của Thúy, SB khám phá thêm rằng nhiều năm trước, cảnh sát thời TT Diệm đã bắt đương sự vì tình nghi làm Việt Cộng nằm vùng nhưng đương sự được thả theo lệnh ân xá chung của tướng Big Minh đối với tất cả tù nhân chính trị sau vụ đảo chánh lật đổ ông Diệm.

Lê Hữu Thúy - BAOMOI.COM

Khởi động chiến dịch có mật danh “Projectile”, SB cử một điệp viên chìm đóng giả làm thợ sửa chữa, lân la đến làm thân với ông Thúy. Thúy sập bẫy. Một lần, Thúy buột miệng khoe với “người bạn” này về số gián điệp đang được cài trong bộ máy VNCH. SB lẻn vào nhà Thúy và đặt “bọ” nghe trộm.

Đầu năm 1969, SB té ngửa khi khám phá ra rằng người thường xuyên đến nhà Thúy lại là Vũ Ngọc Nhạ chứ không ai xa lạ. Nhạ là cố vấn đặc trách các vấn đề tôn giáo cho tổng thống Thiệu lúc bấy giờ. 

Thơ gửi bạn của hai nhà tình báo chiến lược


Tương tự như Phạm Ngọc Thảo, Nhạ thoạt đầu chiến đấu trong hàng ngũ Việt Minh. Nhạ là người miền Bắc, cải đạo sang Công giáo, gia nhập giáo xứ của Linh mục Hoàng Quỳnh ở Phát Diệm. Sau khi vào Nam năm 1954, Nhạ định cư gần Huế, nhưng cuối tháng 12 năm 1958, ông bị bắt vì tình nghi hoạt động cho Cộng sản.

Đảo chánh 1965 - Đại tá Phạm Ngọc Thảo | Đại tá Phạm Ngọc Th… | Flickr

Nhạ dĩ nhiên không nhận tội. Big Minhcuối cùng cũng trả tự do cho đương sự sau cuộc đảo chánh ông Diệm năm 1963. Cha Hoàng Quỳnh sau đó giới thiệu Nhạ với ông Thiệu và Nhạ được tín cẩn giao nhiệm vụ phụ trách các vấn đề tôn giáo. Bám đuôi Nhạ từ nhà Thúy, SB khám phá Nhạ gặp Huỳnh Văn Trọngcố vấn đặc biệt của Tổng thống Thiệu về các vấn đề chính trị, từng được ông Thiệu cử sang Mỹ với sứ mệnh nghiên cứu chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ. Điệp viên SB thấy Trọng chuyển một phong bì cho Nhạ. Sau khi Trọng rời đi, SB tiếp tục theo dõi và thấy Nhạ giao một gói hàng cho một phụ nữ.

Tin tức, sự kiện liên quan đến Huỳnh Văn Trọng | Dân Việt

Toàn bộ sự việc trở nên chính trị hóa cao độ vì cả Nhạ lẫn Trọng đều là cố vấn tin cậy của Tổng thống Thiệu. Khi CIA và SB báo với ông Thiệu và đề nghị bắt giam hai nhân vật trên, ông Thiệu đồng ý nhưng nhấn mạnh rằng bằng mọi giá phải tìm được chứng cứ vì nếu không chứng minh được thì sự việc sẽ trở thành thảm họa. 


Sau khi thu thập bằng chứng, SB bắt Trọng và Nhạ vào tháng 7 và tìm thấy những tài liệu tuyệt mật mà họ sở hữu. Lần này, Nhạ khai mình đã “nằm vùng” hai mươi năm. Phần mình, Trọng cũng nói rằng ông ta biết Nhạ là gián điệp cộng sản khi chuyển tài liệu mật cho Nhạ. Tổng cộng, có hơn 50 người bị bắt trong đường dây tình báo Vũ Ngọc Nhạ, trong đó có một số nhà báo và hai quan chức cấp cao trong Bộ Chiêu Hồi.

Phiên tòa sau đó kết án Lê Hữu Thúy, Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh văn Trọng tù chung thân.

Ở trên là những gì George J. Veith thuật lại trong quyển Drawn Swords in a Distant Land. Khá sơ sài. Về Vũ Ngọc Nhạ, đã có rất nhiều tài liệu được công bố.

Ở đây xin thuật thêm về tay điệp viên sừng sỏ và nguy hiểm Lê Hữu Thúy – bí danh “A25” – một mắt xích phải nói là rất quan trọng trong đường dây tình báo nằm vùng tại miền Nam thời ông Thiệu. 


Thúy là một trong những thành viên của Lưới tình báo H10 (thuộc Cụm A22), trong đó Vũ Ngọc Nhạ làm cụm trưởng. Những người khác trong Cụm A22 đều là những kẻ được cài cắm rất sâu: Nguyễn Xuân Hòe, công cán ủy viên Phủ Tổng thống; Vũ Hữu Ruật, Phó Tổng thư ký Đảng Dân chủ; Hoàng Hồ, dân biểu; Lê Hữu Thúy, công cán ủy viên Bộ Chiêu hồi; và Huỳnh Văn Trọng, cố vấn chính trị đối ngoại của Tổng thống Thiệu.

Sinh năm 1926 tại Hoằng Hóa, Thanh Hóa, trong gia đình tuy không có ai theo đạo Thiên Chúa nhưng Thúy được cho đi học trường dòng. Năm 1956, khi vào Sài Gòn, Thúy được trùm tình báo cộng sản Mười Hương chỉ thị thâm nhập khối Công giáo di cư. Thúy bắt mối với linh mục Vũ Đình Trác làm tờ báo Di cư; làm phụ tá chủ bút báo Đường sống.

Chân dung ông Mười Hương - người thầy của những nhà tình báo huyền thoại |  Nhân vật - Sự kiện | Tạp chí mặt trận Online


Trong một bài viết trên báo Nông Nghiệp ngày 2-5-2012, con gái của ông Lê Hữu Thúy – bà Thanh Hương (lúc đó là Trưởng ban Tuyên giáo VC quận ủy quận 4, TP.HCM) cho biết thêm, ông Thúy được gia đình cho học trường Trung học Alexandre de Rhodes của Nhà chung Thanh Hóa. Sau khi tốt nghiệp tú tài, Thúy ra Hà Nội, học đại học cùng với đồng hương Trần Kim Tuyến (trùm tình báo thời TT Diệm). Năm 1949, Thúy được kết nạp vào Đảng Cộng sản và hoạt động ở Hà Nội với bí danh A25. Trước đó, Thúy công tác tại Ty Công an Thanh Hóa.

Tháng 10-1954, Thúy được giao nhiệm vụ trà trộn cùng những người Bắc di cư vào Nam. Năm 1959, Thúy bị bắt do một Việt Cộng chiêu hồi cung khai. Sau vụ chính biến lật đổ ông Diệm, Thúy được thả. Và nhờ mối quan hệ với Trần Kim Tuyến cũng như với Đỗ Mậu – giám đốc Nha An ninh Quân đội, Thúy thậm chí được tuyển vào Nha An ninh Quân đội Sài Gòn. Vai trò của Thúy nói chung là rất lớn trong Lưới tình báo H10. Chính Thúy là người cùng Vũ Ngọc Nhạ xây dựng lá bài chính trị Huỳnh Văn Trọng, từng bước đưa Trọng trở thành cố vấn chính trị cho Tổng thống Thiệu. 


Huỳnh Văn Trọng từng là một bộ trưởng thời Bảo Đại. Thời Đệ nhất Cộng Hòa, Trọng bị bỏ rơi nên bất mãn. Vũ Ngọc Nhạ, cùng Lê Hữu Thúy, đã bày vẽ đường đi nước bước cho Huỳnh Văn Trọng xây dựng uy tín lẫn thanh thế, giúp ông Thiệu chạy đua vào ghế Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. Do đó, Trọng được ông Thiệu tín cẩn đưa lên vị trí cố vấn đặc biệt. Nhờ đó, Trọng có điều kiện lấy được vô số tài liệu tuyệt mật, giao lại cho Vũ Ngọc Nhạ để chuyển cho Trung ương Cục Miền Nam của VC.

Khi vào làm cho Nha An ninh Quân đội, Thúy cũng thu được nhiều tin tức có giá trị. Trong biến cố Mậu Thân 1968, Thúy lập bản đồ chi tiết Khu Tam giác Bến Lức-Đức Hòa-Chợ Lớn tạo điều kiện dễ dàng cho Việt Cộng thâm nhập nội đô Sài Gòn. Từ năm 1967, Thúy chuyển sang làm công cán ủy viên Bộ Chiêu hồi, cho đến khi bị bại lộ và bị bắt. Báo Pháp Luật ngày 20-10-2015 cho biết thêm, trong thời gian bị giam ở Côn Đảo, Lê Hữu Thúy còn đánh cắp được danh sách tù chính trị và chuyển an toàn ra ngoài.

Ðầu năm 1973, Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng được đưa về khám Chí Hòa, Sài Gòn. Ngày 23 tháng 7 năm 1973, Chính quyền VNCH trao trả Vũ Ngọc Nhạ cho MTDTGPMNVN. Năm 1974, Vũ Ngọc Nhạ được Cộng sản Bắc Việt phong trung tá Quân đội Nhân dân. Tháng 4-1974, Nhạ về Củ Chi, hoạt động bí mật, với chiến dịch tái dựng Cụm Tình Báo Chiến Lược, móc nối với Thành phần Thứ ba và khối Công Giáo. 
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Vũ Ngọc Nhạ có mặt tại Dinh Ðộc Lập, đứng bên cạnh Big Minh, khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Vũ Ngọc Nhạ chết ngày 7 tháng 8 năm 2002 tại Sài Gòn. Phần mình, Lê Hữu Thúy được tuyên dương “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” vào năm 1996. Đương sự chết năm 2000.

Vụ bể lưới tình báo cộng sản với những điệp viên cỡ bự gần gũi ông Thiệu đã làm chấn động Sài Gòn. Những kẻ nằm vùng nguy hiểm không chỉ là “Lưới tình báo H10” của Cụm A22. Từ sau 1975 đến nay, báo chí cộng sản đã tiết lộ không ít gương mặt tình báo được cài cắm và phá hoại miền Nam – ngoài những gương mặt quá quen thuộc và được nói nhiều như Phạm Xuân Ẩn. Báo Lao Động ngày 30-4-2020 cho biết một trong những điệp viên nằm vùng khác, ít được nói đến, là Đinh Văn Đệ, từng là Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng của Hạ viện VNCH, từng tham gia phái đoàn VNCH sang Mỹ xin viện trợ trong những ngày cuối tháng 3-1975. 

Đinh Văn Đệ - nhà tình báo có công lớn trong công cuộc thống nhất đất nước


Đinh Văn Đệ sinh năm 1924, quê ở Đồng Tháp, xuất thân từ một gia đình đạo Cao Đài “có truyền thống cách mạng”. Năm 1952, Đệ vào Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức; sau đó tướng Lê Văn Tỵ chọn làm Phụ Tá Tổng Tham mưu trưởng; rồi trung tá Chánh Văn phòng Tổng tham mưu trưởng quân lực VNCH.

Cuối năm 1957, tướng Nguyễn Chánh Thi đảo chính hụt ông Ngô Đình Diệm. Ông Đệ bị nghi dính líu với lực lượng đảo chính và bị quản thúc hơn một tháng. Nhờ mối quan hệ thân thiết của bố vợ ông với ông Phan Khắc Sửu nên Đệ được bảo lãnh và sau đó được vào học Trường Đại học Quân sự Đà Lạt và đỗ thủ khoa. Đinh Văn Đệ sau đó được cử làm Thị trưởng Đà Lạt, sau kiêm Tỉnh trưởng Tuyên Đức, đến năm 1966 thì được thăng cấp đại tá và chuyển sang làm tỉnh trưởng Bình Thuận. Cuối năm 1967, ông Đệ từ chức tỉnh trưởng, ứng cử vào Hạ viện, trở thành Phó Chủ tịch Hạ viện, Phó Trưởng khối đối lập. Trong hai khóa Quốc hội với danh nghĩa Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Hạ viện, Đinh Văn Đệ đã cung cấp cho cộng sản nhiều tin tức quan trọng.

Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập

Trúc Giang

(Văn Hóa Vụ)
 

Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập.

1-ĐỊNH NGHĨA:

Tình báo, gián điệp là người hoạt động bí mật của phe địch để dọ thám lấy tin tức về tình hình quân sự, chính trị, kinh tế hoặc tác động, phá hoại.

2- GIÁN ĐIỆP CỘNG SẢN TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Trong chiến tranh, ở miền Nam, ngoài những tên VC nằm vùng, còn có những điệp viên thuộc tình báo chiến lược như Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thuý và Phạm Ngọc Thảo.


2.1. VŨ NGỌC NHẠ

Vũ Ngọc Nhạ là nhân vật then chốt trong vụ án Cụm Tình Báo A.22 làm rung động chính quyền miền Nam năm 1969.

Tên thật là Vũ Xuân Nhã, sinh ngày 30-3-1928 tại tỉnh Thái Bình. Được kết nạp vào đảng CSVN năm 1947. Vũ Ngọc Nhạ còn nhiều cái tên khác nữa như Pière Vũ Ngọc Nhạ (tên Thánh), Vũ Đình Long (Hai Long) bí danh Lê Quang Kép, Thầy Bốn, “Ông Cố Vấn”.

2.1.1. Hoạt động

Năm 1955. Xuống tàu di cư vào Nam.

Vũ Ngọc Nhạ cùng 1 số điệp viên khác trà trộn vào đoàn người di cư vào Nam. Nhạ cùng vợ và con gái xuống tàu Hải Quân Pháp cùng hàng triệu người Công giáo di cư vào Nam.

– Làm thư ký đánh máy ở Bộ Công Chánh. Chinh phục được cảm tình của Linh mục Hoàng Quỳnh và trở thành “Người giúp việc” của Giám mục Lê Hữu Từ.

Năm 1958- Tháng 12 năm 1958, Nhạ bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung của Nguyễn Tư Thái, tự Thái Đen, bắt giữ và giam tại trại Tòa Khâm (Huế) để chờ điều tra xác minh. Linh mục Hoàng Quỳnh can thiệp cho nên Nhạ không bị buộc tội.

2.1.2 .Người Giúp Việc của Đức Cha Lê Hữu Từ

Một khuyết điểm lớn của Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung là giam giữ những nghi can gián điệp chung với nhau tại trại Tòa Khâm. Chính ở đó, Vũ Ngọc Nhạ đã móc nối với các “cơ sở” (những cá nhân) tình báo khác, đặc biệt là trùm tình báo VC Mười Hương.

Tạo dựng niềm tin đối với Ngô Đình Cẩn.

Năm 1959- Vũ Ngọc Nhạ làm tờ trình “Bốn Nguy Cơ Đe Doạ Chế Độ” được sự chú ý của Ngô Đình Cẩn và sau đó, của ông Nhu, ông Diệm. Do sự dự đoán chính xác về cuộc đảo chánh 11-11-1960 của tướng Nguyễn Chánh Thi, anh em ông Diệm đã chú ý đến Vũ Ngọc Nhạ.

Nhờ danh nghĩa “Người Giúp Việc” của Đức Cha Lê Hữu Từ mà Nhạ được xử dụng như là Người Liên Lạc giữa anh em Họ Ngô và giới Công Giáo di cư. Nhờ đó, Nhạ thu thập được nhiều tin tức tình báo có giá trị. Từ đó, Nhạ có biệt danh là “Ông Cố Vấn”.

2.1.3. Xây dựng Cụm Tình Báo Chiến Lược A.22

Sau đảo chánh 1-11-1963, thế lực Công giáo phát triển mạnh dưới tay của Linh mục Hoàng Quỳnh.

Cuối năm 1965, sự tranh giành quyền lực trong “nhóm tướng trẻ”, do sự giới thiệu của LM Hoàng Quỳnh, Tướng Nguyễn Văn Thiệu đã xử dụng Vũ Ngọc Nhạ trong vai trò liên lạc giữa tướng Thiệu và Khối Công giáo. Nhạ đã khéo léo lợi dụng vai trò đó để tạo ảnh hưởng đến các chính trị gia dân sự và quân sự.

Năm 1967- Sau khi tướng Nguyễn Văn Thiệu đắc cử Tổng thống, cấp trên nhận thấy cần thiết phải mở rộng mạng lưới tình báo, thành lập Cụm A.22. (A.22 là mật danh của Vũ Ngọc Nhạ) Cụm do Nguyễn Văn Lê làm cụm trưởng, Nhạ làm Cụm Phó trực tiếp phụ trách mạng lưới. Toàn bộ Cụm A.22 được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn Đức Trí, chỉ huy phó Tình Báo Quân Sự ở miền Nam.

Bắt đầu, Cụm A.22 “phát triển” thêm Nguyễn Xuân Hoè, Vũ Hữu Ruật đều là những điệp viên mà Nhạ đã bắt liên lạc trong khi bị giam chung tại Tòa Khâm. Sau đó, thu nhận thêm Nguyễn Xuân Đồng và quan trọng nhất là vào đầu năm 1967, bổ sung thêm Lê Hữu Thuý (hay Thắng) mật danh là A.25.

Các điệp viên nầy được giao nhiệm vụ “Chui sâu, leo cao” nắm lấy những chức vụ quan trọng để thu thập thông tin và để tác động vào chính quyền.

Thành công của Cụm A.22 là cài được 1 điệp viên dưới quyền của Lê Hữu Thuý là Huỳnh Văn Trọng làm “Cố Vấn” cho tổng thống Thiệu.

Chính Huỳnh Văn Trọng đã cầm đầu một phái đoàn VNCH sang HK, tiếp xúc, gặp gỡ hàng loạt các tổ chức, các cá nhân trong chính phủ và chính giới HK, để thăm dò thái độ của chính phủ Johnson đối với cuộc chiến ở VN. Huỳnh Văn Trọng thu thập được nhiều tin tức tình báo chiếnlược.
image024 

 2.1.4. Vụ án Huỳnh Văn Trọng và 42 điệp báo

CIA nhanh chóng phát hiện điều bất thường là sự tập hợp của các cá nhân là những bị can đã bị bắt giam ở Tòa Khâm.

Giữa năm 1968- Hồ sơ các cựu tù nhân ở Tòa Khâm được mở lại. Do tính phức tạp trong ngành điệp báo, CIA phải mất 1 năm mới hoàn tất hồ sơ và chuyển giao cho Tổng Nha Cảnh Sát QG VNCH.

Vào trung tuần tháng 7 năm 1969, một đơn vị đặc biệt có mật danh là S2/B được thành lập để tiến hành bắt giữ hầu hết những người của Cụm A.22.

Toàn bộ điệp viên Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thuý, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hoè, Nguyễn Xuân Đồng, Huỳnh Văn Trọng, và hầu hết những gián điệp khác, kể cả giao liên là bà Cả Nhiễm cũng bị bắt.

Riêng cụm trưởng Nguyễn Văn Lê kịp thời trốn thoát.

Cụm tình báo A.22 bị phá vở hoàn toàn.

Chính quyền Saigon rung động vì 42 gián điệp từ cơ quan đầu nảo là Phủ tổng thống cho đến các cơ quan khác, nhất là 1 “Cố vấn” của tổng thống đã bị bắt.

2.1.5. Biến vụ án gián điệp thành vụ án chính trị

Đây là vụ án gián điệp lớn nhất lịch sử. Các bị can đều khai, nhất cử nhất động của họ đều là thi hành chỉ thị, là do sự uỷ thác, do lịnh của tổng thống, của các tổng trưởng, nghị sĩ, dân biểu và cả CIA nữa.

Tòa án Quân Sự Mặt Trận Lưu Động Vùng 3 CT bối rối vì không có thể gởi trác đòi những nhân chứng như tổng thống ra hầu tòa để đối chất.

Do không có đủ yếu tố để buộc tội tử hình, cho nên tòa tuyên án:

– Chung thân khổ sai: Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thuý, Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Xuân Hoè.

– Án từ 5 năm đến 20 năm tù khổ sai cho những bị can còn lại.

Khi quân cảnh dẫn các tù nhân ra xe bít bùng, thì Vũ Ngọc Nhạ quay sang nhóm ký giả ngoại quốc và thân nhân, nói lớn “Tôi gởi lời thăm ông Thiệu”.

2.1.6. Cho rằng CIA dàn cảnh

Một bất ngờ của vụ án là TT Thiệu không tin đó là sự thật mà cho là CIA đã dàn cảnh. Do đó, thời gian Vũ Ngọc Nhạ bị đày ở Côn Đảo thì TT Thiệu đã triệu hồi viên tỉnh trưởng Côn Sơn về Saigon và thay thế vào đó một người thân tín của mình để có điều kiện chăm sóc cho Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng như là những thượng khách. Vì thế, Vũ Ngọc Nhạ đã đánh giá:”Đó là một cuộc dạo chơi trên Thiên Đàng”.

2.1.7. Tiếp tục hoạt động

Đầu năm 1973- Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng được đưa về khám Chí Hòa, Saigon. Trong thời gian ở Chí Hòa, nhờ sự giúp đở của LM Hoàng Quỳnh, Vũ Ngọc Nhạ móc nối, bắt bắt liên lạc với nhóm “Thành Phần Thứ 3″ của Dương Văn Minh.

Ngày 23-7-1973- Chính quyền VNCH trao trả Vũ Ngọc Nhạ cho Mặt Trận DTGP/MNVN với danh xưng là “Linh mục Giải Phóng”.

Năm 1974- Vũ Ngọc Nhạ được CSBV phong Trung tá QĐNDVN. Tháng 4, 1974, Vũ Ngọc Nhạ trở về Củ Chi, hoạt động bí mật mục đích xây dựng lại Cụm Tình báo chiến lược, móc nối với Thành phần thứ 3 và khối Công giáo .
image025 

Ngày 30-4-1975- Vũ Ngọc Nhạ có mặt tại Dinh Độc Lập bên cạnh tướng Dương Văn Minh.

2.1.8. Bị thất sủng và được tôn vinh

Ngày 30-4-1975 thân phận của Vũ Ngọc Nhạ vẫn chưa được xác nhận.

Năm 1976- Vũ Ngọc Nhạ được điều về Cục 2 Bộ Quốc Phòng với quân hàm Thượng tá.

Năm 1981- Được thăng Đại tá nhưng vẫn còn ngồi chơi xơi nước. Hàng ngày đọc các tin tức báo cáo, tổng hợp lại rồi trình lên thượng cấp, Phạm Văn Đồng, Mai Chí Thọ, Nguyễn Văn Linh.

Năm 1987- Tác giả Hữu Mai xuất bản cuốn tiểu thuyết “Ông Cố Vấn, Hồ Sơ Một Điệp Viên” ca ngợi thành tích tình báo của Vũ Ngọc Nhạ. Công chúng đã biết đến và Nhạ được phong Thiếu Tướng.

Vũ Ngọc Nhạ mất ngày 7-8-2002 tại Saigon, 75 tuổi. Phần mộ của Nhạ nằm chung với các phần mộ của các điệp viên khác như Phạm Xuân Ẩn, Đặng Trần Đức và Phạm Ngọc Thảo.


2.2. PHẠM XUÂN ẨN

* Thân thế Và Hoạt động

Phạm Xuân Ẩn sinh ngày 12-9-1927 tại xã Bình Trước, Biên Hòa, là một thiếu tướng tình báo của QĐNDVN.

Từng là nhà báo. Phóng viên cho Reuters, tạp chí Time, New York Herald Tribune, The Christian Science Monitor.

Theo học trường Collège de Can Tho.

Năm 1948- Tham gia Thanh Niên Tiền Phong và sau đó, làm thơ ký cho hãng dầu lửa Caltex.

Năm 1950- Làm nhân viên Sở Quan Thuế Saigon để thi hành nhiệm vụ là tìm hiểu tình hình vận chuyển hàng hóa, khí tài quân sự từ Pháp sang VN. Đây là lần đầu tiên làm nhiệm vụ tình báo cùng với 14 ngàn gián điệp được cài cắm vào hoạt động.

Năm 1952- Phạm Xuân Ẩn ra Chiến Khu D và đã được bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Ủu viên Uỷ Ban Hành Chánh Nam Bộ giao cho nhiệm vụ làm tình báo chiến lược.

Năm 1953- Phạm Xuân Ẩn được Lê Đức Thọ kết nạp vào đảng tại rừng U Minh, Cà Mau.

Năm 1954- Phạm Xuân Ẩn bị gọi nhập ngũ và được trưng dụng ngay vào làm thư ký Phòng Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Tổng Hành Dinh Liên Hiệp Pháp tại Camps Aux Mares (Thành Ô Ma) Tại đây, Ẩn được quen biết với Đại tá Edward Landsdale, trưởng phái bộ đặc biệt của Mỹ (SMM), trên thực tế, Landsdale là người chỉ huy CIA tại Đông Dương. cũng là trưởng phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ (US.MAAG) tại Saigon.
image027 

Năm 1955- Theo đề nghị của Phái Bộ Cố Vấn Quân Sự Mỹ, Phạm Xuân Ẩn tham gia soạn thảo tài liệu tham mưu, tổ chức, tác chiến, huấn luyện, hậu cần cho quân đội. Tham gia thành lập cái khung của 6 sư đoàn đầu tiên của QLVNCH, mà nồng cốt là sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ người Việt trong quân đội Pháp trước đó.

Phạm Xuân Ẩn còn được giao nhiệm vụ hợp tác với Mỹ để chọn lựa những sĩ quan trẻ có triển vọng đưa sang Mỹ đào tạo, trong số đó có Nguyễn Văn Thiệu, sau nầy trở thành tổng thống VNCH.

Năm 1957- Tháng 10 năm 1957, Mai Chí Thọ và Trần Quốc Hương (Mười Hương) chỉ đạo cho Phạm Xuân Ẩn qua Mỹ du học ngành báo chí để có cơ hội đi khắp nơi, tiếp cận với những nhân vật có quyền lực nhất.

Năm 1959- Phạm Xuân Ẩn về nước, nhờ những mối quan hệ, Ẩn được bác sĩ Trần Kim Tuyến, giám đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị Và Văn Hóa Xã Hội (Thực chất là cơ quan mật vụ của Phủ tổng thống), biệt phái sang làm việc tại Việt Tấn Xã, phụ trách những phóng viên ngoại quốc làm việc ở đó.

Năm 1960- Từ năm 1960 đến giữa 1964, Phạm Xuân Ẩn làm việc cho hảng thông tấn Reuters. Từ 65 đến 67, Ẩn là người Việt duy nhất và chính thức làm việc cho tuần báo Time. Ngoài ra, còn cộng tác với báo The Christian Science Monitor…

Từ 1959 đến 1975- Với cái vỏ bọc là phóng viên, nhờ quan hệ rộng với các sĩ quan cao cấp, với các nhân viên tình báo, an ninh quân đội và với cả CIA , Ẩn đã thu thập được nhiều tin tức quan trọng từ quân đội, cảnh sát và các cơ quan tình báo.

Những tin tức tình báo chiến lược của Ẩn đã được gởi ra Hà Nội thông qua Trung Ương Cục Miền Nam. Tài liệu sống động và tĩ mỉ khiến cho Võ Nguyên Giáp đã reo lên “Chúng ta đang ở trong Phòng Hành Quân của Hoa Kỳ”.

Tổng cộng, Ẩn đã gởi về Hà Nội 498 tài liệu gốc được sao chụp.

Giai Đoạn 1973-1975- Hàng trăm bản văn nguyên bản đã phục vụ “Hạ Quyết Tâm Giải Phóng Miền Nam ” của đảng CSVN.

Phạm Xuân Ẩn là nhân vật được chèo kéo của nhiều cơ quan tình báo, kể cả CIA .

Ngày 30-4-1975, Phạm Xuân Ẩn là một trong những nhà báo chứng kiến cảnh xe tăng của VC húc đỗ cổng Dinh Độc Lâp. Từ đó cho đến vài tháng sau, các phóng viên, đồng bào và cả chính quyền mới cũng chưa biết Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên Cộng sản.

Vợ con của Phạm Xuân Ẩn đã di tản sang Hoa Kỳ. Ẩn cũng được lịnh của cấp trên sang HK để tiếp tục hoạt động tình báo. Nhưng Ẩn đã xin ngưng công tác vì đã hoàn thành nhiệm vụ.

Do kế hoạch thay đổi, cho nên mãi 1 năm sau, vợ con của Ẩn mới có thể quay về VN bằng đường vòng Paris, Moskva, Hà Nội, Saigon.

* Sau chiến tranh
image028 

Ngày 15-1-1976, trung tá “Trần Văn Trung”, tức Phạm Xuân Ẩn, được phong tặng “Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang”.

Tháng 8 năm 1978, Ẩn ra Hà Nội dự khóa học tập chính trị 10 tháng vì Ẩn “sống quá lâu trong lòng địch”.

Theo Larry Berman thì Ẩn bị nghi kỵ và bị quản chế tại gia. Cấm liên lạc với báo chí ngoại quốc và cấm xuất cảnh, do cách suy nghĩ của Ẩn quá “Mỹ” và do Ẩn đã giúp bác sĩ Trần Kim Tuyến ra khỏi VN ngày 30-4-1975 .

Năm 1986- Trong 10 năm, luôn luôn có 1 công an làm nhiệm vụ canh gác trước nhà của Phạm Xuân Ẩn.

Năm 1990- Đại tá Phạm Xuân Ẩn được thăng thiếu tướng.

Năm 1997- Chánh phủ VNCS từ chối không cho Ẩn đi Hoa Kỳ để dự hội nghị tại New York mà Ẩn được mời với tư cách là khách mời đặc biệt.

Năm 2002- Phạm Xuân Ẩn về nghỉ hưu.

Con trai lớn của Ẩn là Phạm Xuân Hoàng Ân, đã du học Mỹ, hiện đang làm việc tại Bộ Ngoại Giao ở Hà Nội. Con gái của Ẩn hiện đang sống ở Hoa Kỳ.

* Thất Vọng

Trong những năm cuối đời, Phạm Xuân Ẩn cảm thấy rất thất vọng vì dân chúng không được viết tự do. Ẩn trối trăn trước khi chết là, “đừng chôn ông gần những người Cộng Sản”.

* Nhận định về Phạm Xuân Ẩn.

Lê Duẩn: Đã biểu dương Phạm Xuân Ẩn coi đó là 1 chiến công có tầm cỡ quốc tế.

Frank Snepp, cựu chuyên viên thẩm vấn CIA , tác giả cuốn sách Decent Interval (Khoảng cách thích đáng) nói:”Phạm Xuân Ẩn đã có được nguồn tin tình báo chiến lược, điều đó rõ ràng, nhựng chưa ai “Dẫn con mèo đi ngược” để thực hiện 1 cuộc xét nghiệm pháp y về các tác hại mà ông đã gây ra, Cơ quan CIA không có gan để làm việc đó.” Hết trích.

Murrray Gart, thông tín viên trưởng của báo Time nói “Thằng chó đẻ ấy, tôi muốn giết nó“.

2.3. PHẠM NGỌC THẢO
 

2.3.1. Thân thế

Phạm Ngọc Thảo sanh ngày 14-2-1922 tại Sàigon. Cha ông là Phạm Ngọc Thuần, một địa chủ lớn, có quốc tịch Pháp, người Công giáo. Còn có tên là Albert Thảo hoặc 9 Thảo, vì Thảo là con thứ 8 trong gia đình.

Sau khi đậu tú tài, Thảo ra Hà Nội học và tốt nghiệp kỹ sư công chánh.

Thảo tuyên bố bỏ quốc tịch Pháp và tham gia kháng chiến.

2.3.2. Hoạt động VC

Sau khi tốt nghiệp trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn, Thảo về nhận nhiệm vụ giao liên ở Phú Yên. Một lần, Thảo đưa 1 cán bộ về Nam Bộ. Đó Là Lê Duẩn, người đã có ảnh hưởng lớn về hoạt động tình báo của Thảo sau nầy.

Được bổ làm Tiểu đoàn trưởng TĐ 410, quân khu 9. (Có tài liệu nói là TĐ 404 hoặc 307). Trong thời gian nầy, Thảo hướng dẫn chiến tranh du kích cho Trần Văn Đôn, Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim, những người sau nầy trở thành tướng lãnh của QLVNCH.

Vợ là Phạm Thị Nhậm, em ruột giáo sư Phạm Thiều, nguyên đại sứ tại Tiệp Khắc.

2.3.3. Hoạt động tình báo

Sau Hiệp Định Genève, Lê Duẩn chỉ thị cho Phạm Ngọc Thảo không được tập kết ra Bắc phải ở lại để hình thành Lực lượng thứ 3.

Từ đó, Thảo dạy học ở một số tư thục Saigon.

Phạm Ngọc Thảo đã bị Đại tá Mai Hữu Xuân, Giám Đốc An Ninh Quân Đội, lùng bắt nhiều lần nhưng đều trốn thoát. Sau cùng, Thảo về Vĩnh Long làm nghề dạy học. Tỉnh nầy thuộc địa phận của Giám mục Phêrô Ngô Đình Thục, vốn đã quen biết với gia đình Thảo từ trước. Ngô Đình Thục coi Phạm Ngọc Thảo như con nuôi và bảo lãnh cho vào dạy học ở trường Nguyễn Trường Tộ.

Năm 1956- Phạm Ngọc Thảo được phép đưa vợ con về Saigon và vào làm việc ở Ngân Hàng QG. Rồi được chuyển ngạch sang quân đội với cấp bậc Đại uý “Đồng Hóa”.

Năm 1956- Do sự giới thiệu của Huỳnh Văn Lang, Tổng Giám đốc Viện Hối Đoái, Bí thư Liên Kỳ Bộ của đảng Cần Lao, Phạm Ngọc Thảo được cử đi học khóa Nhân Vị ở Vĩnh Long. Và Thảo đã gia nhập đảng Cần Lao.
image030 

2.3.4. Hoạt động trong Quân Lực VNCH

– Chức vụ Tỉnh Đoàn Trưởng Bảo An Vĩnh Long.

– Tuyên Huấn đảng Cần Lao Nhân Vị.

Thảo biết cách khai thác nghề viết báo của mình và về Binh pháp Tôn Tử. Chỉ trong vòng một năm, Thảo đã viết 20 bài báo nói về chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy, huấn luyện quân sự, phân tích binh pháp Tôn Tử, Trần Hưng Đạo. Những bài báo được giới quân sự chú ý và cả TT Diệm và Ngô Đình Nhu.

Năm 1957- Phạm Ngọc Thảo được chuyển về Phòng Nghiên Cứu Chính Trị Phủ Tổng thống với cấp bậc thiếu tá. Sau đó, giữ chức Tỉnh Đoàn trưởng Bảo An Bình Dương.

Năm 1960- Phạm Ngọc Thảo tham dự khóa Chỉ Huy Tham Mưu ở Đà Lạt. Giữ chức vụ Thanh Tra Khu Trù Mật.

Năm 1961- Phạm Ngọc Thảo được thăng trung tá, giữ chức Tỉnh trưởng Kiến Hòa để trắc nghiệm chương trình bình định. Thời gian nầy, Kiến Hòa (Bến Tre) trở nên ổn định không còn phục kích hay phá hoại nữa.

Tuy nhiên có nhiều tố cáo Thảo là Cộng sản nằm vùng. Thảo bị ngưng chức tỉnh trưởng Kiến Hòa và đi học khóa Chỉ Huy Tham Mưu ở Hoa Kỳ.

Lý do là, Thảo đã thả hơn 2000 tù nhân đã bị giam giữ và liên lạc với bà Nguyễn Thị Định.

2.3.5. Tham gia các cuộc đảo chánh

* Đảo chánh lần thứ nhất, 1963

Tháng 9 năm 1963, bác sĩ Trần Kim Tuyến, nguyên Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị (Thực chất là trùm mật vụ) và Phạm Ngọc Thảo âm mưu 1 cuộc đảo chánh Ngô Đình Diệm.

Phạm Ngọc Thảo đã kêu gọi được một số đơn vị như Quân Đoàn 3, Quân Đoàn 4, Biệt Động Quân, Bảo An sẵn sàng tham gia. Nhưng âm mưu bị nghi ngờ. Trần Kim Tuyến bị đưa đi làm Tổng Lãnh Sự ở Ai Cập.

Sau ngày đảo chánh 1-11-1963 , Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đỗ. Phạm Ngọc Thảo thăng chức Đại tá làm Tuỳ Viên báo chí trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Một thời gian sau, được cử làm Tuỳ viên Văn hóa tại Tòa đại sứ VNCH ở Hoa Kỳ.

* Đảo chánh lần thứ hai năm 1965

Đầu năm 1965, Phạm Ngọc Thảo bị gọi về nước vì Nguyễn Khánh muốn bắt Thảo. Vì thế, khi về đến phi trường Tân Sơn Nhất, Thảo đào nhiệm, bỏ trốn và bí mật liên lạc với các lực lượng đối lập để tổ chức đảo chánh.

Đảo chánh với lý do rất quan trọng mà Thảo nắm được là Nguyễn Khánh và Hoa Kỳ thỏa thuận sẽ ném bom xuống miền Bắc vào ngày 20-2-1965 . Vì vậy phải đảo chánh lật Nguyễn Khánh vào ngày 19-2-1965 .

Ngày 19-2-1965: Phạm Ngọc Thảo và Tướng Lâm Văn Phát đem quân và xe tăng vào chiếm trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh Saigon, bến Bạch Đằng và phi trường Tân Sơn Nhất. Tướng Nguyễn Khánh đào thoát bằng máy bay ra Vũng Tàu.

Ngày 20-2-1965: Hội Đồng các tướng lãnh họp tại Biên Hòa các tướng cử Nguyễn Chánh Thi làm chỉ huy chống lại đảo chánh. Nguyễn Chánh Thi ra lịnh cho Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát và 13 sĩ quan khác phải ra trình diện trong 24 giờ.

Ngày 21-2-1965:Các tướng tiếp tục họp tại Biên Hòa quyết định giải nhiệm Nguyễn Khánh và cử tướng Trần Văn Minh làm Tổng Tư Lệnh QLVNCH.

Ngày 22-2-1965: Quốc trưởng Phan Khắc Sửu ký sắc lịnh bổ nhiệm tướng Nguyễn Khánh làm Đại sứ lưu động. (Một hình thức trục xuất ra khỏi nước)

Ngày 25-2-1965: Nguyễn Khánh rời Việt Nam. Phạm Ngọc Thảo bỏ trốn.

2.3.6. Bị bắt và qua đời

Ngày 11-6-1965: Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát tuyên bố trả quyền lãnh đạo quốc gia lại cho Quân đội.

Ngày 14-6-1965: Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia được thành lập do tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch.

Phạm Ngọc Thảo phải rút vào hoạt động bí mật. Thảo cho xuất bản tờ báo Việt Tiến mỗi ngày phát hành 50,000 tờ, tuyên truyền tinh thần yêu nước chống Mỹ và Thiệu.

Phạm Ngọc Thảo có 1 hàng rào bảo vệ rộng lớn từ các Xứ Đạo Biên Hòa, Hố Nai, Thủ Đức, Saigon. Có nhiều linh mục giúp đở in ấn và phát hành. Chính quyền Thiệu-Kỳ kết án tử hình và treo giải thưởng 3 triệu đồng cho ai bắt được Thảo.

Võ Văn Kiệt (Sáu Dân) kể lại“Tôi thấy Thảo gặp khó khăn nên đi tìm anh để đưa về chiến khu, nhưng anh bảo vẫn còn khả năng đảo chánh để ngăn chận việc đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam”. (Võ Văn Kiệt)

Lâm Văn Phát ra trình diện và chỉ bị cách chức.

Phạm Ngọc Thảo phải trốn nhiều nơi, cuối cùng bị bắt tại Đan Viện Phước Lý, xã Vĩnh Thanh, quận Nhơn Trạch, Biên Hòa.

Lúc 3 giờ sáng ngày 16-7-1965, Thảo vừa ra khỏi Đan Viện Phước Lý thì bị An ninh Quân Đội phục kích bắt và đưa về 1 con suối nhỏ gần Biên Hòa để thủ tiêu. Tuy nhiên, Thảo không chết, chỉ bị ngất xĩu vì đạn trúng vào càm. Khi tĩnh dậy, Thảo lê lết về một nhà thờ và được Linh mục Cường, Cha Tuyên Uý của Dòng Nữ Tu Đa Minh cứu chữa.

Và Thảo bị phát giác, bị đưa về Cục An Ninh QĐ đường Nguyễn Bĩnh Khiêm. Thảo bị tra tấn cho đến chết vào đêm 17-7-1965. 43 tuổi.

Theo Larry Berman trong cuốnÓi>”Perfect Spy” thì TT Thiệu ra lịnh tra tấn và hành hạ Thảo cho thật đau đớn bằng cách dùng 1 cái thòng lọng bằng da, buộc quanh cổ và 1 cái khác thì siết mạnh nơi tinh hoàn. Cũng có tin nói rằng Đại uý Hùng Sùi bóp dái Thảo cho đến chết.

Phạm Ngọc Thảo có 7 con và vợ Thảo đi dạy hoc. Tất cả hiện đang sinh sống ở Hoa Kỳ. Có người con là bác sĩ ở Quận Cam, Cali.

Phạm Ngọc Thảo là 1 điệp viên đơn tuyến. Không có thượng cấp và thuộc cấp. Không thu thập tin tức mà chỉ tác động vào chính quyền.

Nhà nước CSVN truy tặng Thảo danh hiệu Liệt sĩ và quân hàm Đại tá QĐNDVN.

Cũng có nguồn tin cho rằng Phạm Ngọc Thảo là 1 gián điệp nhị trùng, nghĩa là làm việc cho CIA nữa.

 Trúc Giang

Minnesota ngày 20-10-2011
image031 image032 
image033 image034 
image035 image036
image037 image038 

About these ads

Điệp Viên Cộng Sản Nằm Vùng

VIỆT BÁO 09/11/2014

Đỗ Xuân Tê


Với bút hiệu Xuân Đỗ và bài “Hắn và cuốn Nhật Ký Đặng Thuỳ Trâm…” tác giả đã nhận giải danh dự Viết Về Nước Mỹ 2008. Ông định cư tại Mỹ theo diện H.O. và hiện là cư dân Riverside, nam California. Bài mới của tác giả là chuyện kể liên quan tới vụ án Huỳnh Văn Trọng, một điệp viên cộng sản nằm vùng leo tới chức Phụ Tá của Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu. Theo ghi chú của tác giả, đây là chuyện có thật, người kể chỉ thay đổi tên nhân vật.

* * *


Ông Trịnh và ông Tâm thân nhau từ hồi di cư vào Nam. Họ quen nhau thế nào người ta không rõ, nhưng hai gia đình đều cùng về ngụ cư tại thành phố Đà lạt, nơi ông Trịnh làm nhân viên cho Sở Địa dư của Pháp còn ông bạn trồng rau bỏ mối cho các tiệm ăn vùng Chi Lăng. Gia cảnh hai ông tạm đủ ăn, con cái học chung trường mấy đứa đều giỏi. Hai bà vợ tần tảo cũng hạp tính nhau, cuối tuần cho tụi nhỏ ăn chung, cho hai ông chồng bữa nhậu thịnh soạn sau khi họ cùng đánh mấy ván cờ tướng mà ông Trịnh thường trên cơ người bạn.

Ít năm sau, ông Trịnh bị thôi việc vì Pháp họ rút về nước, cơ quan ông giải thể, các con đã lớn, gia đình dọn xuống Sài gòn. Ông Tâm ở lại vẫn trồng rau nhưng cơ ngơi có khá hơn vì mua được miếng đất hoang mấy năm sau đã lên giá. Họ vẫn giữ liên lạc. Ông Trịnh ít trở lại thành phố sương mù, nhưng ông Tâm có dịp hay về Sài gòn, lần nào cũng ghé nhà bạn mình ở chơi mấy bữa.

Tôi cũng dân di cư, nhà nghèo nên ở cùng hẻm với con ông Trịnh. Cùng lứa tuổi nên học chung trường, tôi và anh em thằng San đều dân Chu văn An. Thằng anh giỏi toán thi nhảy tú tài còn đậu hạng cao, sau vào quân y học ngành bác sĩ, thằng em kém tôi hai tuổi rất giỏi hai môn lý hóa sau vào Sư phạm 4 năm đưa đẩy thế nào về trường dạy lại. Còn tôi chẳng giỏi môn gì, lại thích văn chương, cuối cùng đi lính được kéo về làm ngành viết lách.

Ông Trịnh có cô con gái vai trưởng nữ, anh con rể là một sĩ quan tác chiến ngành TQLC, đánh giặc quanh năm nhưng mỗi khi dừng quân hay về hậu cứ anh lại sáng tác, bài hay đăng trên mấy báo văn học ở Sài gòn, có một tác phẩm được in nhiều người biết tiếng và coi anh như một nhà văn quân đội.

Ông Trịnh rất quý các bạn con ông, nhờ bà vợ kế (bà lớn đã mất vì trọng bệnh) có sạp thịt heo ở chợ gần nhà nên anh em chúng tôi cứ ra nhà là có cơm ăn, học khuya ngủ lại không sao. Tôi chú ý có một ông người Bắc hay từ Đà lạt xuống, đám nhỏ hay kêu Bác Tâm. Lúc đầu tưởng là họ hàng sau biết họ là bạn của nhau. Ông khách hay ngủ lại trên gác sép, uống cà phê chơi vài ván cờ rồì lại xin phép chủ nhà đi có việc. Người chở ông thường là một tay xe ôm, đi đâu cứ đến khuya mới về. Có điều lần nào từ Đà lạt về cũng có một bao tải rau quả, trùng dịp tết có cả cành đào, nhưng bảo ăn cùng nhau bữa tối thì lại hay khước từ. Ông Trịnh cũng nể bạn chẳng hề thăc mắc cũng chẳng nghi ngờ hay bạn mình có đi mây về gió gì chăng, chỉ biết nếu ai để ý tay chở Honda lần nào cũng cùng khuôn mặt và hình như họ có biết nhau.

Lúc này chiến tranh đã đến hồi cao điểm, Việt Cộng khống chế các con lộ dẫn từ cao nguyên về Sài gòn. Đường Đà lạt ngang Định quán hay bị giật mìn, việc đi lại bằng xe đò hên xui may rủi. Ông Tâm vẫn ghé thăm người bạn già, có điều lạ là sau Tết Mậu Thân đi lại có vẻ thường xuyên hơn, ông đi máy bay của Air Vietnam, hình như ông có kết hợp mua ít hàng tạp hóa vì lúc này rau quả ế ẩm. Ông vẫn đi Honda ôm, chiều đi khuya về, có sẵn chỗ nằm cho ông trên gác sép như mọi lần. Ông Trịnh thấy bạn hơi khác trước, ít nói chuyện tay đôi dù thời gian ghé thăm có khi tới mấy ngày, đặc biệt ít đả động chuyện chính trị, hình như hạp nhau chuyện đánh cờ nhưng quan điểm chính trị dù cùng Bắc kỳ di cư nhưng ông bạn tỏ ra ghét Mỹ nhiều hơn là cộng sản.

Bẵng đi cả nửa năm không thấy ông Tâm ghé nhà, ông Trịnh tưởng bạn chắc đau ốm nên biên thư thăm hỏi. Không thấy hồi âm hai bên liên lạc tạm gián đọan. Sài gòn lúc này đang bàn tán vụ báo đăng liên quan đến ổ tình báo lớn của cộng sản nằm trong Phủ Đầu Rồng, ông Trịnh vốn hay quan tâm chuyện chính trị nên theo dõi rất sát. Mỗi lần tôi ra nhà là thế nào ông cũng bảo tôi ngồi riêng hai bác cháu trao đổi vụ Huỳnh Văn Trọng, viên cố vấn của ông Thiệu là người của phía bên kia. Biết tôi làm ở cơ quan trung ương được đọc nhiều tin tức mật, bố thằng San khai thác triệt để, hay làm vài món nhậu dã chiến hai bác cháu ngồi uống chung. Các con ông ông chỉ cho đánh cờ tay đôi, ít khi ngồi uống chung, lúc này cao thủ cờ tướng đã xuống tay nhiều ván chịu thua em thằng San.

Một hôm khoảng giữa năm 69, vừa đi làm về, thằng San gọi điện thoại bảo tôi ra nhà gấp. Vào nhà cảnh nhà như đưa đám. Tưởng ông cụ mất hóa ra ông mới bị cảnh sát khám xét nhà và bắt đi từ tối qua. Tội gì không thấy nói, giam ở đâu không biết, hỏi gạn ông tổ trưởng thì hình như nhà ông Trịnh có chứa…cộng sản nằm vùng. Việc của tôi lúc này là xem ông bị đưa đi đâu đề còn thăm nuôi và hỏi ra sự tình. Ông cụ lại cao máu không có thuốc men cũng dễ đột tử.

Tôi có quen mấy bạn làm bên an ninh, trong số này có anh bạn nhà văn Thảo Trường, nhờ anh tìm dùm manh mối. Ông Trịnh bị đưa về cảnh sát đặc biệt của Tổng nha đường Nguyễn Trãi, không cho thăm gặp vì còn trong vòng điều tra liên quan đến một vụ gián điệp lớn. Bó tay.

Nhưng mười ngày sau họ cho thăm và bảo người nhà tiếp tế thuốc cao máu. Thằng San lúc này là sinh viên năm cuối của quân y được nhà cử đi thăm. Mặc đồ sĩ quan, mấy tay cảnh sát có sự thông cảm dù không khí có căng thẳng. Thằng con không nhận ra bố, ông cụ chắc bị ăn đòn trông như cái mền rách. Quả thật ông Trịnh than bị hỏi cung tra tấn đau quá, dặn con về gặp cậu Tê (tên nhà hay gọi tôi) kiếm chỗ chạy để họ đừng đánh, chứ không chắc bố chết mất. Thằng San sót ruột thấy bố mình có tội gì đâu lại bị tai bay vạ gió, ông cụ buột miệng cũng tại…bác Tâm.

Tại ai cứ để đó, lúc này phải lo cứu ông. Cả nhà thì bối rối nhưng tôi tin tôi làm được. Biết người phụ trách mảng điều tra này là trung tá Nguyễn Mâu, vừa là phụ tá về cảnh sát đặc biệt của tổng nha, ông được quân đội phái sang, rất có uy tín và trở thành hung thần của các mạng lưới nằm vùng của cộng sản. Vụ Huỳnh văn Trọng đổ bể ông được Tông tông giao cho chấp pháp, không ai có quyền xin sỏ can thiệp vì ông này rất sạch. Cũng cần nói không có con mắt tinh tường của Nguyễn Mâu, nhạc sĩ phản chiến TCS đã vào hộp từ lâu và số phận sẽ phải chờ đến tháng tư đen.

Tôi gặp ngay xếp lớn của tôi nguyên là giám đốc cảnh sát đô thành thời tướng Loan, kể lể sự tình và xin ông gọi phôn giới thiệu cho gặp Nguyễn Mâu, chủ yếu là xin nhân viên của ông đừng…đánh bố thằng San, không xin gì thêm. May mắn là ông cho chúng tôi gặp. Ba thằng tôi, một là con đẻ, một con rể, một là bạn của gia đình. Tôi mở lời và đi thẳng vào vấn đề, được ông hứa sẽ chỉ thỉ cho nhân viên chấm dứt việc đánh đập và yêu cầu ba đứa tôi làm đơn bảo lãnh sinh mạng chính trị cho ông Trịnh. Từ đây tôi có thiện cảm với NM dù không ưa cái lối tra tấn kiểu cộng sản của nhân viên dưới quyền.

Lần thăm gặp sau, ông Trịnh cho biết đã được chuyển phòng, không bị đánh, tự viết lời khai và chờ ngày ra tòa, xét cho cùng tội tình gì chưa rõ, ông Trịnh vẫn chỉ là con tép riu. Họa vô đơn chí ít tháng sau con rể của ông trong một cuộc hành quân trực thăng vận tại rừng dừa Bến Tre, anh đã anh dũng hi sinh được quân đội truy tặng cấp tá và gắn bảo quốc huân chương trên quan tài.

Con cá lớn là bác Tâm đã vào rọ, không ngờ ông lại là móc xích quan trọng trong đường dây tình báo chiến lược của cộng sản gài vào nam từ hồi 54. Ông hay về Sài gòn là để họp và nhận chỉ thị. Ông chọn chỗ ông Trịnh vừa thân vừa an ninh, cảnh sát ít nhòm ngó vì dân nhà binh chúng tôi hay lui tới. Ông bị bắt vì vụ Huỳnh Văn Trọng (điệp viên cộng sản gài lại, leo cao tới chức phụ tá Tổng Thống Thiệu). Kẻ tố cáo lại là người hay đến nhà ông Trịnh đón ông đi bằng xe ôm mỗi khi ông về Sài gòn. Vậy là mối quan hệ giữa ông Tâm với ông Trịnh đổ bể.

Ông Trịnh thì tình ngay lý gian, cảnh sát cho ông là ngoan cố, chứa bạn cả chục năm mà cứ khai không biết hành tung, khổ nỗi là ông không biết thật cho nên càng quanh co càng dễ lãnh đòn đau. Thêm một chi tiết về lý lịch bản thân ông không nói cho các con là bác của thằng San tức anh trai ông Trịnh đã thoát ly theo kháng chiến từ thời đầu, về sau làm tới thứ trưởng bộ trưởng giáo dục của miền Bắc (ai quê Hải Dương đều biết ông này),. Cảnh sát dò tìm được mối liên hệ này và càng tin ông Trịnh là cảm tình viên của ông Tâm hoặc chính ông cũng là một tay trong.

Hôm tòa xử, mấy con ông và tôi có dự. Ông bị kêu án nhẹ nhất 5 năm, bác Tâm 18 năm. Trừ thời gian tạm giam ông thọ án thêm hai năm nữa. Ông được đưa về Chí Hòa, tiện cho việc thăm nuôi, số còn lại những người cộng sản thứ thiệt bị đưa ra Côn Đảo.

Từ ngày ông về nhà tôi ít liên lạc với gia đình, một phần thằng San đổi đi xa mãi Sư đòan 23 ở Ban Mê Thuột, anh con rể nhà văn thì đã biệt xa, chú em đã có gia đình ra ở riêng, bản thân ông thì bác cháu cũng khó nói chuyện, có cái gì vô hình làm ông và tôi ngăn cách.

Rồi tháng Tư 1975 ập đến, thằng San cùng vợ nhanh chân xuống tàu di tản, chú em kẹt lại nhưng vài năm sau cũng vượt biển sang Cali, tôi chậm chân uống nước đục đi tù không án ra mãi miền Bắc.

Nghe nhà tôi kể lại, gia đình ông Trịnh lại lên hương, bỗng dưng được kể là có công với cách mạng. Nhưng ông lúc này cũng già lại bệnh tật và hệ lụy hồi bị tra tấn nên chẳng tham gia gì ngoài chân tổ trưởng miễn cưỡng phải nhận, bà vợ vẫn bán thịt heo bọn cai thuế có sự nể vì. Chỉ ba cô con gái con bà sau lúc này đẹp như trăng rằm, nhờ lý lịch gia đình lần lượt ba chị em đều vào trường Y thành phố, nói cho ngay tụi nhỏ cũng có dòng xưa nay anh em nó đều học giỏi, khả năng chúng nó trội hơn nhiều so với bọn con ông cháu cha quyền chức đỏ.

Mười hai năm sau tôi từ nhà tù trở về thành phố, vật đổi sao dời người xưa cảnh cũ quay đi ngoái lại cũng chẳng còn ai. Bà vợ tôi nhắc tôi đi thăm ông Trịnh lúc này ông đang bị ung thư thời kỳ chót. Lần đầu gặp ông, ông rất vui vì chắc ông nhớ lại thời các con ông và tôi chơi chung học chung nay thì chúng đã nghìn trùng xa cách. Lần sau thì ông đã quá yếu, thăm hỏi xong bỗng ngoắc tôi lại gần, vừa ngó quanh xem không có ai, ông thều thào, anh nên tìm đường mà đi, sống với chúng nó không nổi đâu. Tôi gật đầu ra dấu tôi hiểu. Cảm xúc ngay lúc đó tôi nhận biết ông còn quí tôi và điều làm tôi nhẹ mình là ông vẫn không phải là người của phía bên kia. Người sắp chết bao giờ cũng nói thật và chí tình. Tôi cúi xuống hôn ông như một người con giống lần từ giã bố tôi. Mấy ngày sau ông mất.

Năm năm sau khi sang được Cali bằng con đường người Mỹ tìm dùm cho anh em chúng tôi những cựu tù cộng sản, tôi học lại chuyện này với mấy cậu con, các bạn tôi hình như giờ này mới thực sự hiểu bố. Quả thật trong chiến tranh cốt nhục tương tàn, người Nam kẻ Bắc kẹt giữa hai lằn đạn ngay cha con cũng khó hiểu nhau.

Có một chi tiết mà sang đây tôi mới được em thằng San cho biết, bác Tâm sau 75 từ Côn Đảo trở về, bác được tiếp đón linh đình cùng nhóm Võ Thị Thắng, sau về Đà lạt được sắp xếp vào chức phó thị ủy thành phố, có điều hai gia đình đã hết thân hình như ông Trịnh còn ấm ức điều gì đó với ông bạn mà tôi ngờ rằng vốn đã biết chẳng cùng chung lối mà sao chỗ bạn hiền nỡ tâm để họa cho nhau.

Đỗ Xuân Tê

CUỘC DI TẢN CỦA KHÔNG QUÂN VNCH hay Ngày Chim Vỡ Tổ

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Bảy Năm Phục Vụ Không Quân Việt Nam Cộng Hòa 1968-1975 của Đào Hiếu Thảo –  PEN Vietnam

Ngày Chim Vỡ Tổ:

Tập ‘Quân sử Không Quân’ trang 199 ghi lại: ‘Về Không Quân VNCH, ngoài một số nhỏ quân nhân và gia đình được di tản bằng phi cơ C130, C141 của KQHK từ ngày 20/4, đa số còn lại chỉ di tản sau ngày 28/4/1975, khi Bộ Tư lệnh KQ không còn hoạt động theo đúng chức năng của một Bộ Tư lệnh nữa.

Số lượng phi cơ của KQVN bay thoát được sang Utapao, Thái Lan, do các tác giả đưa ra, không thống nhất, theo Robert Miskesh trong ‘Flying Dragons: the South Vietnamese Air Force thì tổng cộng vào khoảng 132 chiếc, gồm khoảng 25 F-5, 27 A-37, 11 A-1, 13 C-47, 6 C-130, 3 AC-119, 5 C-7 và 45 UH-1., theo Wayne Muntza trong “The A-1 Skyraider in Viet Nam”: The Spad’s Last War, và Ralph Wetterhahn trong ‘Escape to Itupao thì con số máy bay được cho là 165 chiếc, thêm vào đó là các U-17 và O-1, ngoài ra không kể vài phi cơ dân sự của Air VN.

Cũng vào ngày cuối cùng, một số trực thăng đã bay ra đáp xuống các chiến hạm của HQHK, con số này được ước lượng là khoảng 100 chiếc, đa số là UH-1 và CH-47. Cũng có những chiếc tuy bay được ra biển nhưng do trục trặc kỹ thuật, hoặc hết nhiên liệu đã rớt xuống biển. Con số này được ước lượng là khoảng 18 chiếc.

37 năm sau ngày 30/4/1975, các tài liệu quân sự được giải mật và những bài hồi ký, bút ký của nhiều tác giả trong cuộc đã giúp ‘vẽ lại’ toàn cảnh (có thể chưa hoàn toàn chính xác) về cuộc di tản hay đúng hơn là ‘tự tan hàng’ của KQ VNCH.

Cuộc di tản chiến thuật, rút bỏ Quân Đoàn II vào ngày 6/3/1975 đã bỏ lại tại Pleiku 64 phi cơ các loại.

Ngày Quân Đoàn I tan hàng tại Đà Nẵng (30/3/1975), 180 phi cơ đã bị bỏ lại, trong số này có 33 phi cơ vận tải C-7 Caribou đang bị đình động còn bọc kin trong bao tồn trữ.

Trong những tháng cuối cùng của cuộc chiến, khả năng chiến đấu của KQ VNCH càng ngày càng bị giới hạn do không còn một hệ thống chỉ huy và kiểm soát hữu hiệu. KQ VNCH không có những phi cơ trang bị hệ thống chỉ huy, dẫn đạo không trợ bay trên vùng cần yểm trợ hành quân (theo phương pháp của KQ HK: dùng các C-130 làm trạm chỉ huy trên vùng). Trong khi đó sự kiện bị mất các đài Kiểm Báo và Không Trợ như Trung Tâm CRC (Combat Report Center), Panama Đà Nẵng, các Trạm CRP (Combat Report Point) Peacock PleiKu, Pyramid Ban Mê Thuột đã khiến Hệ thống Kiểm Báo Chiến Thuật trở thành tê liệt, vô hiệu. Tuy Trung Tâm CRC Tân Sơn Nhất vẫn còn hoạt động nhưng nhiệm vụ chinh lại không phải là để điều hành các phi vụ yểm trợ chiến trường, hoặc hướng dẫn oanh tạc các mục tiêu dưới đất. Các phi vụ oanh tạc tùy thuộc vào các phi cơ quan sát FAC (Forward Air Controller = Điều Không tiền tuyến) và tùy phi công có mặt trên vùng, nhận định mục tiêu bằng mắt thường.

Vào thời điểm của trận Xuân Lộc: KQVNCH còn 1492 phi cơ các loại, trong đó có 976 chiếc hoạt động được, 135 chiếc hư hỏng không bay được và 381 chiếc kể như phế thải. Lực lượng phi cơ chiến đấu gồm 169 chiếc A-37 (trong đó 92 chiếc khả dụng) và 109 F-5s (93 chiếc khả dụng).

Những phi vụ hành quân cuối cùng của KQ VNCH trên không phận Sài Gòn:

Trong những ngày cuối cùng của VNCH, KQVN vẫn còn hoạt động với một số phi vụ yểm trợ bộ binh và chống pháo kích. Đ/úy phi công Trần văn Phúc PĐ 518 ghi nhận một số phi xuất trong những ngày 28 và 29/4 như:

PĐ 518 với phi vụ Phi Long 51 do một phi tuần gồm 2 Skyraiders (một do Đ/úy Phúc và một do Th/tá Trương Phùng) bay vào sáng 29/4. Phi cơ của Th/tá Phùng bị phòng không cộng quân bắn hạ. Ông đáp xuống ruộng gần cầu Bình Điền, bị bắt và sau đó bị cộng quân hành quyết vào ngày 30/4.

PĐ 514 với một phi tuần 2 Skyraiders cất cánh từ Cần Thơ để bay trên không phận Sài gòn vào sáng 29, do các Th/tá Hồ ngọc Ân và Đ/úy Nguyễn Tiến Thụy điều khiển.

Những phi vụ Tinh Long của các AC-119 như Tinh Long 06, Tinh Long 07:

Tinh Long 07 (sáng 29/4) do Tr/úy Trang văn Thành điều khiển đã bị SA-7 của cộng quân bắn hạ, phi cơ gẫy làm đôi và rơi ngày tại vòng đai phi trường. Phi hành đoàn gồm 9 người, 8 hy sinh ngoại trừ nhân viên nhảy dù thoát được.

Theo Đ/úy Phúc: ‘Ngoài Tinh Long 07, còn có thể có thêm 2 AC 119 khác bị bắn hạ (?) (một rơi tại đường Ngô Quyền và một rơi tại Tân Tạo)’.

Sáng 30/4, một phi xuất A-37 (Tr/úy Nguyễn Mạnh Dũng PĐ 526 lái) từ Cần Thơ, phối hợp với O-1 (Đ/úy Mai Trí Dũng PĐ112 lái) từ Đồng Tâm, bay yểm trợ khu vực Hoàng Hoa Thám ngay trước giờ Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng. Đây có thể là phi vụ hành quân cuối cùng của KQ VNCH.

(Xin xem bài: Những Phi vụ hành quân sau cùng của KQ VNCH, của Trần Lý)

Những giờ phút cuối cùng tại Bộ Tư lệnh KQVNCH
Chiều 28/4, CSBV đã dùng 4 A-37 (lấy được từ Phan Rang) oanh kich phi trường TSN, gây tổn hại cho 3 chiếc C-119 và nhiều C-47.

Tối 28/4: một sự kiện ‘kỳ lạ’ đầy bí ẩn đã xẩy ra tại TSN: Tác giả Thiên Lôi Ngô Đức Cửu trong ‘Chuyện 30 năm trước’ (website bgkq.net/hoiky) ghi lại như sau:

… ‘8 giờ tối 28/4/1975, tôi trở về ụ đậu phi cơ đầu phi đạo 07 phải, nơi tạm trú của 3 Phi đoàn 524, 534 và 548 di tản từ các căn cứ về. Bước xuống xe, tôi thấy các nhân viên phi đạo đang bận rộn kéo các A-37 trang bị đầy bom đạn từ trong vòm trú ẩn ra đậu hàng ngang dài phía trước, cách ụ 50 feet. Tôi bước đến hỏi trưởng phi đạo tại sao dời phi cơ khỏi ụ ? Anh ta trả lời: “Theo lệnh Trung tá kỹ thuật và Bộ CH Hành quân.” Tôi vào phòng trong ụ, nhắc điện thoại gọi Trung tâm Hành quân, thì sĩ quan trực cho biết hình như lệnh của Bộ Tư lệnh KQ hay Bộ TTM gì đó ? Tôi hỏi: “Anh có biêt là hồi chiều phi đạo 07 vừa bị dội bom không ? Tôi liên lạc với Đ/tá Ước, nhưng không được. Trở lại bãi đậu, tôi yêu cầu trưởng phi đạo di chuyển phi cơ trở lại ụ nhưng không được.

Tôi tự hào trong hàng ngũ phi công khu trục KL VNCH, nhất là Không Đoàn 92 có các PĐ 524, 534, và 548 cho đến giờ phút này, 22 giờ 18 tối 28/4,  tât cả phi công đều có mặt ứng chiến, không thiếu một ai.

Suốt đêm tất cả anh em 3 phi đoàn chờ đợi, điều động cất cánh nhưng tuyệt nhiên không một tiếng điện thoại reo.

Nửa đêm, VC bắt đầu pháo kích và hơn 50 chục A-37 bị phá hủy. Giờ đây hơn trăm phi công chiến đấu bằng tay không ư?

6 giờ 15 sáng 29/4, tất cả phi công lên xe chạy về Bộ Chỉ huy KĐ 33. Đ/tá Thảo chạy vào rồi chạy trở ra. Đến nơi các phòng vắng lặng, không còn ai cả. Trở lại sân cờ KĐ 33, Đ/tá Thảo tuyên bố tạm thời tan hàng, anh em rán tự tìm lấy phương tiện di tản.

Mọi người xuống xe, nhưng chạy về đâu bây giờ ? Tan hàng, nghe thảm thiết quá. Một trong những đơn vị chiến đấu kiên cường nhất của QL VNCH, giờ đang bị bó tay. Lệnh ai cho sắp trên 50 chiếc A-37 hàng ngang, cánh liền cánh, xăng nhớt bom đạn trang bị đầy đủ để hủy diệt? Nếu không cho chúng tôi chiến đấu thì cũng để chúng tôi có phương tiện ra khỏi phi trường chứ ? Chúng tôi đâu có rã ngũ. 

Sự kiện phi cơ bị ‘tự hủy'(?) này cũng được ghi nhận trong ‘Can trường trong Chiến bại’ của Tướng Hải Quân Hồ văn Kỳ Thoại, trang 306-307′ như sau:

… ‘Tới đêm 28/4, tại căn cứ Duyên đoàn ở Vũng Tàu, một sĩ quan KQ cấp tá xin vào gặp tôi và cho biết có một số trực thăng đang đậu tại Vũng Tàu, có Tướng Huỳnh Bá Tính, Sư đoàn trưởng SĐ 3 KQ muốn đến gặp tôi, cần trình bầy một sự kiện quan trọng.

Tướng Tính vào căn cứ duyên đoàn gặp tôi và các tướng lãnh khác (Nguyễn duy Hinh, Trần văn Nhựt…) kể chuyện xẩy ra, rất bi thảm Ông không biết lịnh từ đâu… bỗng nhiên một số phi cơ phát nổ, sau đó được biết có lệnh của Saigon, cho phá hủy các phi cơ của KQ ?

Tướng Tính phân vân, không muốn về trình diện Bộ TLKQ khi ông chưa biết ai ra lệnh hủy phi cơ thuộc SĐ của ông ? Chúng tôi thuyết phục ông Tính liên lạc trực tiếp với Tướng Minh Tư Lệnh KQ.

Đêm 28 rạng sáng 29/4, cộng quân bắt đầu pháo kích vào phi trường TSN, phá hủy nhiều phi cơ.

Khoảng 8 giờ sáng, Tướng Phan Phụng Tiên, Sư đoàn trưởng SĐ5 KQ, đến gặp Tướng Minh, và sau đó bỏ đi.

10 giờ 30 phút sáng 29/4, sau khi họp riêng với Tướng Minh Tư lệnh KQVN, Tướng Nguyễn Cao Kỳ (không có một chức vụ chính thức nào trong Chính Phủ cũng như trong Quân lực VNCH) bay trực thăng riêng về Bộ TTM. Thấy không còn ai. Tướng Kỳ gặp Tướng Ngô Quang Trưởng đang ngồi không nên rủ Tướng Trưởng lên trực thăng, theo đoàn tùy tùng bay ra USS Midway đang đậu ngoài khơi Vũng Tàu.

Khoảng 11 giờ, Trung tướng Nguyễn văn Mạnh Cựu TMT Liên quân cùng với Trung tướng Dư Quốc Đống vào gặp Tướng Minh. Không thấy HK liên lạc như đã dự trù, Tướng Minh cùng các tướng tá Bộ binh và KQ tùy tùng đã di chuyển sang DAO để chờ di tản.

Từ 1 giờ trưa, Trung Tâm Hành quân KQ coi như bỏ trống. Các Phi đoàn trưởng ra lệnh tan hàng. Phi công bay đi đâu hoặc chạy đâu, tự ý quyết định.

Riêng SĐ 4 KQ tại Trà Nóc Cần Thơ, còn hoạt động (cho đến sáng 30/4 một số phi vụ vẫn từ Cần Thơ bay lên yểm trợ chiến trường quanh Sài Gòn) và Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Tần, Sư đoàn trưởng có thể được xem là vị Tư lệnh sau cùng của KQ VNCH (?)

Trong bài bút ký ‘Giây phút nát lòng’ (Lý Tưởng Tháng 4/2002) Tác giả Không Quân Liệt Lão, Chỉ huy trưởng Phòng vệ BTLKQ đã kể lại những giây phút tan hàng tại Tân Sơn Nhất với những đoạn tạm trích như sau:

… ‘ Tôi lên trình diện Tư lệnh bộ, toan phúc trình tình hình phòng thủ, nhưng chẳng ai bận tâm. Người người nhìn nhau đăm chiêu dường như trong thâm tâm ai cũng muốn buông rơi tât cả. Ai cũng thần sắc không còn, dũng khí tiêu tan như ‘đại bàng xệ cánh’. ‘Tôi trông chờ một lệnh họp khẩn cấp, duyệt xét tình hình chung, lấy quyết định tối hậu ‘Chiến’ hay ‘lui’ Chiến thì chiến ra sao ? Lùi thì lùi thế nào ? Có tuần tự, trước sau, không bỏ một ai hay hỗn loạn mạnh ai nấy chuồn ? Tôi chờ lệnh, nhưng không có lệnh!

Bài viết có thêm những chi tiết di tản của một số Tướng KQ và BB như:

… ‘ Tôi đưa tay chào nghiêm túc theo quân cách, Cửu Long (danh hiệu của Tướng Minh, Tư lệnh KQ), chào trả, ngập ngừng chân bước, ái ngại nhìn tôi và đột nhiên dứt khoát:
– Toa ở lại, đi sau với Lành (Tướng Võ Xuân Lành) nghe.

… ‘ Tôi mỉm cười, quay bước vào phòng tình hình, lúc này chỉ còn ông Linh, ông Lành. Ông Lượng đã đi đâu lúc nào tôi không biết. Được một lúc khoảng 10 giờ gì đó, Đ/Tá Vũ văn Ước đáp trực thăng trên sân banh, chạy vội vào gặp ông Lành, xong cùng ông Lành trở ra, kéo luôn theo tôi, miệng nói:
– Đi mày.
Tôi nhìn Lành, quay qua hỏi Ước: – Đi đâu ?
– Qua Tổng Tham Mưu (TTM) xem tìmh hình ra sao ?
Ước nói và nắm tay tôi lôi đi. Tôi, Ước, và Linh lên trực thăng qua đáp tại sân cờ trươc tiền đình Bộ TTM. Linh và Ước chạy lên văn phòng TTM trưởng.Tôi không theo.

Đảo mắt chỗ khác thấy trực thăng Tướng Kỳ. Đàn em trước kia của tôi hiện là cận vệ ông Kỳ, từ trực thăng nhảy xuống, chạy đến tôi nói nhỏ: – Trực thăng sẽ bay ra Blue Ridge. Ông hảy lên, cùng đi.Tôi hỏi: – Tướng đâu ?- Họp trên văn phòng TTM Trưởng.

Tôi bước lại trực thăng, nhìn vào thấy Đ/tá Hà Xuân Vịnh ngồi trên đó từ hồi nào. Tôi leo lên ngồi cạnh. Đang miên man suy nghĩ cho mạt vận của đất nước, mạt kiếp của mình thì ông Linh từ bộ TTM chạy ra một mình đến bên trực thăng có tôi và Vịnh đang ngồi đăm chiêu, mỗi người một ý nghĩ. Ông Linh cứ loanh quanh ở dưới chẳng chịu lên. Tôi vội leo xuống, lại gần Linh nhỏ to: ‘ Linh! Kỳ sẽ rút ra Đệ Thất hạm đội. Lên đi, hết cách thôi.’
Linh có điều gì bất ưng, nhất định không lên tàu.Tôi hỏi: Sao ? Linh nói: “Thiếu gì máy bay.” Tôi vội báo động: “Máy bay nào ? Còn duy nhất chiếc này thôi.” “Chiếc kia kìa.” Linh vừa nói vừa chỉ tay về chiếc trực thăng mà tôi, Ước và Linh vừa đáp hồi nẫy. “Tàu còn đó, hoa tiêu bỏ đi rồi.” Tôi nói với Linh vì thấy họ phóng xe jeep ra khỏi TTM.
Linh nhất định không lên tàu. Tôi đành ở lại bên anh. Tôi còn đang phân vân bàn thảo với Linh những bước kế tiếp thì ông Kỳ từ đại sảnh bộ TTM bước ra, đi về hướng trực thăng và dẫn theo số đông tướng lãnh, bay đi cùng Ước, để lại tôi và Linh tự quyết định lấy phận mình.

Tôi và Linh, cùng với Đặng Duy Lạc (Đ/tá Không Đoàn trưởng KĐ 62) không biết từ đâu chui ra, yêu cầu Quân Cảnh TTM hộ tống chúng tôi về lại Bộ TL KQ. Xe rồ máy phóng đi trực chỉ cổng Phi Long.

Tinh cầu trên vai, Linh cho lệnh mở cửa. Quân ta phớt tỉnh… không nghe. Đặng Duy Lạc vẫn ngồi yên như khúc gỗ. Tình hình thực gây cấn. Thấy ông Linh hết ‘linh’, tôi bước xuống xe tiến thẳng đến chỗ anh KQ bất tuân thượng lệnh, điềm đạm ra lệnh mở cổng. Anh líu ríu vâng lời.

Chúng tôi vào Bộ Tư lệnh KQ gặp ông Lành. Niềm tự hào của KQ đang ở chỗ này: Tướng Lành trước thế quân tan vỡ, quân binh đang đua nhau bỏ ngũ, ông vẫn trầm tĩnh, kiên trì thủ đài Chỉ huy Hành quân Chiến cuộc KQ. Ông giữ vững liên lạc với SĐ 4 KQ, SĐ KQ duy nhất còn hăng say chiến đấu trong khi nhiều đơn vị đã tự ngừng nghỉ.

Ông Linh tóm lược tình hình bên Bộ TTM cho ông Lành rõ. Ông Linh đề nghị rút khỏi Tân Sơn Nhứt. Tướng Lành nói với Linh trươc sự hiện diện của tôi và Đặng Duy Lạc:
– Moa chưa có lệnh..
Ông vẫn đợi lệnh. Chúng tôi vẫn đợi, vẫn chờ… nhưng chờ lệnh ai đây ? Mọi người đã bỏ đi cả rồi, tội cho ông Lành vẫn ngồi chờ lệnh, mà lệnh của ai đây ? Tôi buột miệng:- Ông chờ lệnh ai ? Còn ai đây nữa mà ra lệnh cho mình?Ông Lành trầm ngâm không nói, chúng tôi lặng yên chờ (lại chờ) quyết định của ông, chợt Tướng Lê quang Lưỡng (Nhảy dù) xịch xe jeep đến, thấy tụi này còn đương nhìn nhau, hỏi:- Tụi toa định làm gì đây ?Ông Lành ngượng nghịu chưa biết phải nói sao cho đỡ khó nói? Tôi nhìn thẳng Tướng dù nói nhanh:- Tụi này zulu đây. Ông có theo thì cùng đi ?- Zulu ? Zulu bỏ mấy đứa con (ý nói quân dù) lang thang. Sao đành!
Ông Lành hỏi:- Toa còn mấy đứa con ?- Sáu đứa chung quanh đô thành.

Lúc này trực thăng TQLC Mỹ đổ bộ và bốc người loạn cào cào trên không phận SàiGòn. Tôi đỡ lời ông Lành:- Tân sơn Nhất không giữ được. Không Quân chúng tôi phải rút khỏi tầm pháo địch trước đã.Ông Lưỡng vội hỏi: – Tụi toa định rút đi đâu ?Tôi nhanh nhẩu: – Có thể vùng 4… Có thể đi luôn!- Chờ moa một chút, cho moa về thu xếp với mấy đứa con cái đã.
Nói xong, ông Lưỡng lên xe jeep về sư đoàn Dù.

Trong khi chờ Tướng Dù trở lại, các sĩ quan cấp Không đoàn và Tham mưu Bộ Tư lệnh KQ hiện diện cùng với một số binh sĩ thuộc Tổng hành dinh KQ vội tập họp quanh chúng tôi tại tiền đình Bộ TL nghe ngóng tình hình. Tôi nói thẳng:- Dưới áp lực của pháo Cộng, Bộ TLKQ buộc phải rút khỏi đây. Ai muốn đi theo, hãy sẵn sàng. Kể từ giờ phút này, các anh không còn trách nhiệm gì với KQ nữa. Các anh có thể rời đơn vị, lo cho sự an nguy của vợ con càng sớm càng tốt.

Cùng trong lúc đó, Tướng Dù đã trở lại. Chúng tôi thảo luận kế rút đi. Sau k hi xét kỷ lại nghề bay trong chúng tôi, không có ai là hoa tiêu vận tải. Tướng Lành, Thảo nâu, Duy Lạc… đều là hoa tiêu phóng pháo. Ông Linh đề nghị qua DAO. Tôi hỏi nhỏ ông Linh: – SĐ 5 KQ thì sao ? Linh thở dài trả lời:
– Các hoa tiêu đã tự ý rút cả rồi.Sau phút suy tính, vị chỉ huy đoạn hậu BTLKQ cho lệnh rút. Tất cả lên 3 xe jeep trực chỉ cơ quan DAO. Tới cổng DAO, một dân sự Mẽo, mặc áo giáp, M17 cầm tay chặn lại và hách dịch ra lệnh:- Generals only.

Hai Tướng KQ, một Tướng Dù bước vào trong hàng rào kẽm gai. Tôi lắc đầu quay ra, tự tay gỡ kẽm gai bước khỏi vùng phân ranh Mỹ-Việt. Anh Mẽo gác cửa chẳng hiểu tại sao cái anh phi hành đã vào rồi lại bỏ ra trong khi nhiều người muốn vào lại không được.

Tác giả sau đó, cùng một số sĩ quan cấp Tá quay lại BTL KQ để tìm phương cách khác tự di tản.

(Ghi chú: Danh sách một số Tướng, Tá và chức vụ tại Bộ TLKQ, trong những ngày cuối cùng của VNCH

  • Trung Tướng Trần văn Minh, Tư lệnh KQVN
  • Thiếu Tướng Võ Xuân Lành, Tư lệnh phó
  • Chuẩn Tướng Võ Dinh, TM Trưởng
  • Ch/Tướng Đặng Đình Linh, TM Phó Kỹ thuật/Tiếp vận

Bác sĩ Phạm gia Lữ trong bài ‘Tân sơn Nhất trong giờ hấp hối’ (Lý Tưởng, tháng 4/2002) kể lại một số diễn biến tại Trung Tâm Y Khoa KQ..với nhiều tiết khá chua chát của một đơn vị hầu như bị… bỏ quên ?

…’Chiều thứ Hai 28/4, lệnh giới nghiêm 24/24 bắt đầu. Cổng Phi Long đóng cửa. Phi trường TSN vừa bị A-37 oanh kích trước đó.

Khoảng nửa đêm, Th/t L. nhào vào bô bô nói: – Tình hình thế này mà các cậu ngủ được thì lạ thật. Đàn anh biến đi đâu hết rồi.(hắn ám chỉ các anh lớn của KQ). Họ đang lập cầu không vận đi Côn Sơn kia kìa. SĐ5 KQ đang tổ chức di tản cho thân nhân binh sĩ thuộc sư doàn đi Côn Sơn.

Đêm 28/4, CQ pháo kich vào phi trường gây thiệt hại cho nhiều máy bay.

Khoảng 7 giờ sáng 29/4, trong lúc quanh quẩn tại BCHHKQ, tôi gặp Đ/tá H Giám đốc Trường Chỉ huy và Tham mưu Trung cấp KQ trước cửa văn phòng ông, vẻ buồn bã lộ trên nét mặt. Tuy thuộc cấp chỉ huy nhưng không có cánh, máy bay không có trong tay, nên cũng chẳng xoay sở gì được. Đ/tá Th. Chỉ huy trưởng Trung Tâm Kiểm báo, cũng là người rất kỷ luật, cứ nằm lỳ trong đơn vị để làm gương cho thuộc cấp nên cũng bị kẹt trong cơn hấp hối của TSN.

Khoảng 10 giờ, cùng Th/t Vũ BH thuộc trường CH/TM lái xe đi thăm tình hình.Trên đường chạy ra phi đạo, một dẫy dài xe hơi bỏ trống, nối dài từ cửa chính vào văn phòng Tư lệnh ra đến ngoài đường. Tôi gặp chiếc Falcon màu vàng nhạt của Th/tá Khoa (đen), vẫy tay ra hiệu cho anh ngưng lại và hỏi: – Đi đâu bây giờ ?Khoa trả lời vắn tắt: – Theo moa.Vừa khỏi vòng rào BTL, Khoa quẹo phải rồi quẹo trái, thì ra anh ở nhà cũ của LCK. Sau khi vợ con hành lý lên xe, chúng tôi nối đuôi nhau trở ra phi đạo. Trạm canh ra phi đạo không còn quân cảnh canh gác.

Bay đi Utapao:

Để thoát khỏi Việt Nam, các phi cơ vận tải, phản lực nếu đủ nhiên liệu có thể tự bay sang Singapore ( 590 miles về phia Tây-Nam) hoặc gần hơn là sang Utapao, Thái Lan (350 miles phia Tây-Bắc). Đa số các phi cơ vận tải và phản lực đã chọn Utapao, chỉ một số rất ít C-130 bay đến Singapore.

Bài viết chinh thức về cuộc di tản của các phi cơ VNCH đến Utapao trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến VN: Escape to Utapao của Tác giả Ralph Westerhaan đã được đăng trên Tập san Air and Space/ Smithsonian Số Dec-Jan 1997.

… ‘ Vài ngày trước khi có cuộc di tản của KQVNCH ra khỏi Sài gon, Tướng KQHK Harry Aderholt, Chỉ huy trưởng Phái bộ Quân viện HK tại Thái Lan (MAC-Thai) đã gửi Đại úy KQ Roger L YoungBlood bay đến Phi trường Trat, nằm sát biên giới Thái-Miên. Bay trên một chiếc phi cơ AU-23 của Không lực Thái Lan (AU -23 là một phi cơ cải biến từ loại Pilatus PC-6, có khả năng đáp được xuống những phi đạo thật ngắn) YoungBlood bay vòng vòng trên không phận Thái Lan cùng một phi công phụ VNCH. Phi công phụ này giữ tần số vô tuyến và hướng dẫn các phi cơ VN bay về Utapao.’

Skyraiders A-1:

11 chiếc Skyraiders đã đến được Utapao, gồm 5 A-1E, một A-1G và 5 A-1H. Trong số này 7 chiếc thuộc Phi đoàn 514, 3 chiếc thuộc PĐ 518 và 1 thuộc PĐ 530:

Chiếc Skyraider A-1H, số hiệu 139606 thuộc PĐ 518 là chiếc Skyraider sau cùng bay khỏi VN đến Utapao, phi công đã chở cả gia đình ‘nêm’ chật cứng trong phòng lái (danh từ lóng của KQ Mỹ gọi đây là một hell hole).

Trên một chiếc A-1E, phi công (Th/tá Hồ văn Hiển PD 514) đã cất cánh, chở theo 15 người, nhét cứng trong..’blue room’. Tác giả Phi Long 51 trong bài ‘Chuyến bay định mệnh’ (trên Diễn đàn Cánh thép) ghi lại:

… ‘ Sáng 29/4, tôi trở lại Bộ chỉ huy Hành quân KQ sau 10 giờ và khám phá ra PĐ 518 đã cất cánh đi Cần Thơ. Tôi gặp Tr/tá NCP trong BCH và tìm phi cơ để đi. Do cơ trưởng Lợi huớng dẫn, chúng tôi tìm được một AD-5 (chiếc này có 2 chỗ ngồi lái và một phòng trống khoảng 3x4x3 feet cao ở phía sau ghế pilot). Phi cơ trang bị đầy bom đạn. Sau khi thay bình điện, phi cơ rời ụ và tuy quá tải cũng cất cánh được. Không liên lạc được với đài kiểm soát, phi cơ bay đi Cần Thơ xin đáp nhưng bị từ chối, sau đó đành bay ra An Thới (Phú Quốc), thả bớt bom xuống biển. Tại An Thới, phi cơ được bỏ bớt đạn đại bác, bị tạm giữ không cho cất cánh. Đến 10 giờ sáng, sau khi có lệnh đầu hàng, phi cơ bay đi Utapao cùng với 15 người trên phi cơ.

Số Skyraiders bị bỏ lại là 40 chiếc, trong đó 26 chiếc bỏ lại ở TSN.

F-5s:

Trong số 26 chiếc F-5s bay thoát khỏi VN (gồm 22 chiếc F-5E và 4 chiếc F-5A/B), có 2 trường hợp đặc biệt được Anthony Tambini ghi lại trong F-5 Tigers over Việt Nam:

Một chiếc F-5F (loại 2 chỗ ngồi), đã chở theo 4 phi công trong 2 phòng lái, bằng cách tháo bỏ các dù, hạ ghế xuống thấp hết mức, một phi công ngồi và phi công thứ nhì đứng khom lưng đối mặt, lưng dựa vào cockpit. Phi cơ cất cánh khi phi trường đang bị pháo kích. Lúc đầu, phi cơ định bay lên với hệ thống thắng để mở. Cảm nhận được tình hình không thể bay lên, phi công đã phải mở dù ‘drag chute) để làm chậm vận tốc, sau đó đóng hệ thống thắng để phi cơ bay lên được và bay đi Thái Lan. Tuy nhiên, có lẽ hệ thống thắng đã bị hư hại khi bị pháo kích nên không còn sử dụng được. Phi cơ đáp xuống một phi dạo thô sơ và chật hẹp. Không ngừng được nên đâm vào cây và phát nổ, gây tử thương cho cả 4 phi công (Th/tá Mai Tiến Đạt, Nguyễn Đức Toàn, Ngô văn Trung và Đ/úy Lê Thiện Hữu.)

Một F-5A khác, cất cánh với 3 phi công, cất cánh ngược hướng bay, bay qua đầu các phi cơ đang đậu trên phi đạo chờ đến lượt bay lên. Phi cơ đến được Utapao.

Số F-5 bị bỏ lại gồm 87 chiếc, trong đó có 27 F-5E

A-37s:

Gần 50 chiếc A-37 đã bị hủy diệt trong đợt pháo kich đêm 28/4 (xem phần trên) và Đ/tá Thảo (KĐ trưởng KĐ 33) đã cho lệnh tan hàng vào khoảng 8 giờ sáng 29.

Th/tá Ngô Đức Cửu đón được một L-19 và về đáp Trà Nóc (Cần Thơ). Tại đây ông trình bày tình hình của Bộ Tư lệnh KQ Sàigòn (đã bỏ ngỏ) và hướng dẫn các PĐ A-37 còn lại bay đi Utapao: … ‘Từ Bình Thủy đi Utapao, hướng 300, khoảng 45 phút là đến. Anh em nên lấy bản đồ ra kiểm soát lại và ghi các chi tiết tần số tower.’
10 giờ sáng 30/4 sau khi có lệnh ‘đầu hàng’, căn cứ Bình Thủy cũng tự động tan hàng. Bãi đậu phi cơ vắng lặng, không còn quân cảnh, không còn chuyên viên kỹ thuật.

… ‘tôi rất thán phục anh em A-37 Cần Thơ, có nôn nóng nhưng rất trật tự, có thể nói là lịch sự. Tôi lên tiếng vì nhu cầu, tất cả hoa tiêu A-37 phải rời VN, anh em bắt cặp lấy, mỗi phi cơ phải đi được 3 người, không dù không hành lý. Ngoại trừ phi công bay ghế trái phải đội helmet để liên lạc. Tất cả phi cơ phải bay ở 12 ngàn bộ, không cần dưỡng khí.’

Đa số bình điện của các phi cơ yếu, Th/tá Cửu và Th/tá Kim (Liên đoàn trưởng Kỹ thuật) đã dùng APU khởi động từng phi cơ theo thứ tự. Th/tá Cửu lên chiếc sau cùng rời phi đạo để hợp đoàn với gần 30 chiếc A-37, bay về hướng Utapao.

Đây có thể được xem là ‘chuyến di tản’ trật tự và ‘thành công’ nhất của KQ VNCH.

Ngoài ra, còn có một A-37 đáp xuống một xa lộ gần căn cứ KQ Korat, phía Bắc Bangkok, gần một trường học, bom đạn còn đầy dưới cánh và Tướng Aderholt đã phải gửi một Đ/úy phi công Mỹ đến để bay chiếc này về căn cứ Udorn.

Theo thống kê 27 chiếc A-37 đến được Utapao. 95 chiếc bị bỏ lại VN.

Phi cơ vận tải:

Tân Sơn Nhất là căn cứ tập trung của nhiều phi đoàn vận tải của KQVNCH. Cuộc di tản cũng rất hỗn loạn, nhiều phi cơ bị bỏ lại vì không có phi công, không người đổ xăng. Có những trường hợp phi cơ không cất cánh nổi do quá tải, hay do quá vội. Một số phi cơ vận tải đã bay được sang Utapao vì đã ở sẵn và cất cánh từ Côn đảo. Tất cả đều chở vượt quy định. Có những C-47 bay đến Utapao với cả trăm hành khách (bình thường chỉ chở 30 binh sĩ), bánh đáp bị gãy khi chạm đất.

Phi công Hungphan trong bài hồi ký ‘Những giờ phút sau Tinh Long 07’ ghi lại: Sáng 29/04/75

…’ Đồng loạt không ai bảo ai, chúng tôi tháo chạy về phia Không đoàn bộ (PĐ 437), bên cạnh là đại bản doanh của PĐ 435, chúng tôi đang ngơ ngác tìm nơi trú ẩn, thì thấy ông PĐ trưởng Tr/tá MMC bước ra, nhìn chúng tôi lên tiếng: ‘ Giờ này pilot quý lắm, ai ở phi đoàn nào về phi đoàn nấy.’ Chúng tôi im lặng rút sâu vào tầng dưới của SĐ bộ, thấy đủ mặt văn võ bá quan. T/Tá Vinh con 435, T/Tá Vinh Trô 437, Tr/Tá Dinh, Đ/úy Chư… đã có mặt từ lúc nào, gần giống một cuộc họp của Không đoàn.

Không biết thời gian nặng nề dai dẵng này kéo dài bao lâu, thỉnh thoảng có tiếng pháo kích như để phá tan bầu im lặng. Tiếng pháo vẫn vang lên bên ngoài, bỗng có tiếng điện thoại reo trên lầu, rồi im lặng. Tất cả khuôn mặt không dấu vẻ lo lắng đợi chờ. Tình hình căng thẳng, khoảng mười phút sau, tiếng chuông điện thoại lại reo lên. Chưa hết tiếng reo đột nhiên có tiếng của ai đó hét to: “Ra xe (chưa ai nghe điện thoại).” Không ai bảo ai, chúng tôi chạy nhanh lên xe.

Tôi cũng nhảy lên một chiếc Step van. Chạy được một quảng, 4, 5 anh phòng thủ với súng ống đầy mình, chạy ra chận xe lại. Có tiếng trong xe la lớn: ‘ĐM, lên xe luôn, giờ này mà chặn cái gì?’ thế là thêm đông. Đến parking, tôi chạy về chiếc GZA 027, Herky 027 mà tôi biết tàu tốt vì tôi mới bay về tối hôm qua. Trên phòng lái, có độ 10 ông pilot C-130 !!! Phí thật.

Chỉ một phút sau, chúng tôi take-off. Hai phút sau đã lên cao độ an toàn (T/Tá Nhân nhẩy vào ghế pilot thay Đ/úy Chuân, ngồi co-pilot là Tr/Tá Đinh).

(14 chiếc C-130 bị bỏ lại, 9 chiếc đến được Utapao, ngoài ra còn 1 chiếc đã đào thoát sang Singapore từ khoảng đầu tháng 4)

Tác giả ‘Không quân liệt lão’ trong bài ‘Giây phút não lòng’ (xem phần trên) ghi tiếp:

… “Thảo bảo tôi: “Mình ra khu trực thăng, moa thấy nhiều lắm, đậu phía gần phi đạo hướng Bà quẹo đó.” Đến khu trực thăng, lên chiếc nào mở máy cũng không nổ, tàu nào cũng khô ran (Tướng Tiên cho lệnh rút xăng khỏi tàu vì sợ các phi công… tự động tan hàng). Chọn trực thăng không xong, Thảo Nâu chở tôi trên jeep đi tìm Cessna. Gặp Cessna, Thảo leo lên, bảo tôi ngồi ghế phài. Thảo quay máy, máy nổ. Bỗng nhiên con tàu xao động dữ dội. Quan quân ở đâu đông thế đang dành nhau leo lên tàu. Cessna chỉ có 5 chỗ, làm sao chở nỗi cả chục người. Không ai chịu xuống.

Tôi tự quyết định, nhường chỗ, mở cửa buớc xuống leo lên jeep để lái đi. ,có QC Vân cùng bỏ Cessna lái đi..tìm xem còn chiếc nào để quá giang..

Trên đường rời khỏi SĐ 5KQ, ngang qua văn phòng Tư lệnh phó SĐ, thấy có ánh đèn, cửa mở, tôi đậu xe bước vào.. Gặp Đinh thạch On ngồi thẫn thờ sau bàn giấy..Tôi hỏi:

– On, sao còn ngồi đây? Tât cả bỏ đi hết rồi, anh cũng đi đi thôi.
On như người mất hồn: “C-130 tụi nó lấy trốn cả rồi.”
Tôi nhắc: “Còn C-47 mà.” On thở dài: Đã lâu lắm, tôi không lái C-47.

.. Sau khi ngồi chờ ông On lôi quyển kỹ thuật C-47 ra ‘ôn bài’, cả đám đi tìm C-47 để chạy. Đến bãi đậu, các phi cơ đều bất khả dụng: hoặc không xăng, hoặc bị trúng đạn pháo kích. Đang tuyệt vọng, cả đám tìm được một C-47 đang nằm trong hangar. khóa kín..Đó là chiếc phi cơ riêng của Tư lệnh Vùng II. Sau đó có thêm Đ/úy Qui chạy đến. Phi cơ chở đến gần 80 người cộng theo thiết bị linh tinh… cố gắng cất cánh… sau cùng đến được Utapao.

Nhóm của BS Phạm gia Lữ (xem phần trên) sau đó đến phi đạo C-47 để tìm máy bay di tản, có chiếc không khởi động được do bình điện yếu. Chiếc DC-6 ‘Bình Long Anh Dũng’ tuy nằm cạnh nhưng được canh giữ. Sau đó tìm được chiếc C-47 của Tư lệnh KQ, Kh bắn bể khóa. Tất cả leo lên tàu để bay ra Côn sơn. Sau những trục trặc như không có bản đồ phi hành, phi cơ hết dầu thắng (tìm được 2 gallon nơi đuôi phi cơ), phi cơ đáp được xuống Côn Sơn. Th/tá Khoa bay thêm một chuyến trở lại Saigon (TSN đã bỏ ngỏ) để đón thân nhân và bay lại ra Côn Sơn. Dùng nón sắt để chuyển xăng, phi cơ đã bay đi Utapao sáng 30/4 khi DV Minh ra lệnh đầu hàng.

Tác giả Nguyễn Cao Thiên trong bài ‘PĐ 314, Chuyến bay không phi vụ lệnh ‘(Đặc san Liên khóa 64SVSQ, 2009) ghi lại một số chi tiết mô tả tình trạng hoảng loạn, vô trật tự tại TSN khi phi trường bị pháo kich. Sau khi PĐ phó Tấn từ KĐ trở về cho biết ‘Trên đó có ai đâu ? vắng hoe ?’.. Mạnh ai nấy chạy tự tìm phi cơ để bay đi. Có phi cơ cất cánh quá vội, quên cả gỡ kẹp đuôi nên rơi ngay tại phi trường. Chiếc C-47 của PĐ 314 bay đến Utapao với trên 40 người.

(16 chiếc C-47, đủ loại kể cả EC, AC đến được Utapao. 38 chiếc bỏ lại.)

Ngoài ra cũng có 3 AC-119 và 6 C-7A Caribou đến Utapao, 37 chiếc AC-119 cùng 6 chiếc C-119 vận tải bị bỏ lại. Số Caribou lên đến 33 (trong tình trạng đình động)

Tại Utapao còn có:

– 14 chiếc Cessna U-17 Skywagon

– 12 chiếc UH-1

– 3 chiếc O-1 Bird dog

Bảng tổng kết của HK ghi nhận: số phi cơ của KQVN bỏ lại còn có 434 chiếc UH-1, 114 chiếc O-1, 32 chiếc CH-47 Chinook và 72 phi cơ các loại khác gồm U-17, O-2A, T-37, T-41 và cả U-6 Beaver..
Bay ra biển:

Các phi cơ trực thăng (UH-1 và Chinook) khi tự động tan hàng, đa số tìm đường thoát bằng cách bay ra biển để đáp xuống bất cứ tàu bè nào đang di chuyển ngoài khơi: đáp trên chiến hạm Mỹ, nếu có chỗ đáp là tốt nhất, đáp trên chiến hạm VN và trong tình trạng ‘bi thảm ‘nhất’ là đáp xuống biển, phi công tự thoát, nếu may mắn sẽ được tiếp cứu và vớt lên tàu.

Trường hợp đặc biệt nhất được ghi vào lịch sử KQ và HQ Hoa Kỳ là trường hợp đáp của một L-19 chở đầy ‘hành khách’ trên Hàng Không Mẫu hạm..

Sau đây là một số trường hợp được kể lại trong các bài hồi ký:

Phi đoàn Thần Tượng 215

Khoảng 10 giờ sáng 29/4, bộ chỉ huy Phi đoàn 215 đã dùng 3 trực thăng để ‘di tản ‘về Côn Sơn. Trên các trực thăng có Phi đoàn trưởng (Tr/tá Khưu văn Phát), PĐ phó (Th/tá Đức) và các phi đội trưởng. Tuy nhiên do hết xăng nên cả 3 chiếc sau khi gặp tàu chở dầu của hãng Shell đã cố gắng thả người (nhảy từ máy bay xuống sàn tàu từ cao độ chừng 3 m) và phi công còn lại sau cùng đã đáp xuống biển, bơi thoát khỏi chiếc phi cơ đang chìm và được canô vớt. Cả 3 phi công (Đ/úy Chín, Đ/u Vĩnh và Th/tá Lương) đều được an toàn. (Vĩnh Hiếu: Phi đoàn Thần tượng Giờ thứ 25)

Phi đoàn Lôi Vũ 221:

Phi đoàn di tản từ Biên Hòa về TSN trong đêm 27/4, khi phi trường bị pháo kích. Chiều 29/4, Tr/Tá Nguyễn văn Trọng, PĐT tuyên bố giải tán phi đoàn. 13 trực thăng của phi đoàn bay được ra hạm đội HK. Trong đoàn di tản còn có Đ/tá Phước, Đ/tá Vy (Sư đoàn phó SĐ 1 KQ) (Tâm tư Lôi Vũ -52, Van Nguyên).

Phi đoàn Lôi Thanh 237 (Chinook CH-47)

Ngày 29/4, lúc 4 giờ sáng, 4 trực thăng Chinook CH-47 đậu song song với nhau trước phi cảng Hàng Không dân sự. Các nhân viên phi hành chờ quyết định của Th/tá Nguyễn văn Ba, Phi đoàn phó, nhưng ông vẩn trì hoãn chờ PĐ trưởng (Tr/tá Ch.) còn đang kẹt ở Biên Hòa. Các sỉ quan tham mưu của PĐ đều vắng mặt. Sau đó, ông quyết định di tản 4 phi cơ khả dụng đi Vũng Tàu. Khi 4 phi cơ vứa đáp xuống Vũng Tàu thì phi trường này cũng vừa bị pháo kích. Chỉ 3 phi cơ bay về Cần Thơ, một chiếc đã tự tách khỏi hợp đoàn. Ba phi cơ đáp xuống Mỹ Tho, 1 bay trở lại Sàigòn để đón gia đình Khi trở lại Mỹ Tho, phi cơ bị trục trặc nên đành bỏ lại nơi bờ sông. Hai chiêc còn lại cất cánh lúc 2 giờ trưa, bay ra hạm đội HK, thả người xuống chiến hạm Kirk và phi công ‘ditching’ để sau đó được vớt (Chuyến bay cuối cùng – Nguyển văn Ba – Lý Tưởng Úc châu, số kỷ niệm Ngày Không Lực 1-7-2011)
O-1 Birđ Dog (L-19) đáp trên Hàng Không Mẫu hạm:

Một trường hợp đặc biệt nhất của cuộc di tản, được ghi vào quân sử Hoa Kỳ, phi cơ hiện được lưu giữ tại viện bảo tàng là trường hợp dùng L-19 đáp xuống Hàng không Mẫu hạm Midway của Thiếu tá Lý Bửng, Sĩ quan trưởng phòng hành quân của PĐ Sao Mai 114/ KĐ 62 CT/ SĐ 2 KQ.

Việc O-1 đáp trên Hàng không Mẫu hạm đang di chuyển là chuyện không thể tưởng tượng nổi, ngay cả với các phi công Hoa Kỳ và những chuyên viên thiết kế máy bay của hãng Cessna.
Điều gây ‘kinh ngạc’ hơn nữa là trên phi cơ còn có thêm 6 người (vợ và 5 đứa con) ngồi chật cứng trên ghế sau.
Phi công Lý Bửng kể lại như sau (Chuyến bay về vùng tự do của KQ Lý Bửng- Đặc san Lý Tưởng số 02/2010):

… ‘Sáng 29/4, tôi, Hường, và Nhị cùng bay chiếc O-1 này ra Côn Sơn. Vợ con tôi đã ra Côn Sơn bằng phương tiện trực thăng trước, hình như của PĐ 215. Chiếc O-1 này tình trạng máy tốt, chỉ có vô tuyến là không hoạt động được. Tôi cất cánh từ TSN trong lúc phi trường đang bị pháo kich. Chúng tôi quyết định bay ra Côn sơn vì không rõ tình hình Cần Thơ. Đêm nghỉ tại Côn Sơn, chúng tôi chưa biết chắc sẽ đi Thái Lan bằng phi cơ gì. 
Sáng 30/4, có lệnh đầu hàng. Tôi sắp xếp cho tất cả anh em PĐ 114 trật tự lên các C-123 và C-130 đi Thái Lan. Tôi và gia đình dự trù sẽ đi chiếc C-123 sau cùng nhưng chiếc này bị hư không cất cánh được. Khoảng 130 người còn lại đành chờ tàu HQ. Cảnh tượng xuống tàu rất hỗn loạn. Tôi quyết định dùng chiếc O-1 mà tôi đã bay ra Côn Sơn hôm qua để chở cả gia đình để bay đi nhưng chưa biết đi đâu? Trời rất xấu, mưa mù mịt, tôi bay rase motte trên mặt biển, khoảng từ 500 đến 700 bộ. Trong lúc bay, tôi thấy nhiều trực thăng bay ra biển, tôi cũng lấy hướng bay này cho đến khi thấy chiếc hàng không mẫu hạm.

Chiếc O-1 bị hỏng hệ thống vô tuyến nên tôi không thể liên lạc được với ai. Tôi dùng phương thức bay qua đài kiểm soat của chiến hạm, lắc cánh để cho biết hệ thống vô tuyến bị hỏng và xin đáp. Dưới mẫu hạm bắn hỏa pháo đỏ liên tiếp ra dấu cho biết là họ không chấp thuận cho hạ cánh có lẽ vì không còn chỗ ? Tôi lấy bản đồ, giấy tờ trong máy bay viết chữ xin hạ cánh vì phi cơ còn có vợ con và buộc vào botte để thả xuống sàn tàu. Sau đó nhân viên trên tàu xô một số trực thăng xuống biển và dọn các trực thăng khác để lấy chỗ cho tôi đáp. Phi đạo họ dành cho cho tôi đáp là cạnh ngắn, khoãng 150 feet…’

Sau một lần đáp thử để ước lượng các thông số kỹ thuật, như gió ngang, sự di chuyển của mẫu hạm. Phi công Lý Bửng đã đáp thành công xuống Mẫu hạm Midway trước sự kinh ngạc và thán phục của nhân viên thủy thủ trên tàu.

Trong ‘chiến dịch di tản’ Frequent Wind’:

Hàng không mẫu hạm Midway đã tiếp nhận khoảng 60 trực thăng của KQ VNCH, trong đó có chiếc UH-1 của Tướng Kỳ và cả vài trực thăng của Air America..

Chiến hạm USS Kirk, trong thời gian yểm trợ đoàn tàu di tản của HQ VNCH đã là nơi đáp cho 16 chiếc trực thăng của KQ VNCH. Sàn đáp của chiến hạm chỉ dành cho một trực thăng nên sau khi đáp, trực thăng phải đẩy xuống biển để lấy chỗ cho chiếc kế tiếp. Ngoài 16 chiếc UH-1, còn có 1 Chinook sau khi thả người trên sàn đáp đã phải đáp xuống biển, phi công được cứu thoát. Số người trên các trực thăng đáp xuống USS Kirk lên đến gần 200 người. USS Kirk chở được về Subic Bay 3 chiếc UH-1.

Các chiến hạm khác như Blue Ridge, Mobile (LK 115) đều tiếp nhận các trực thăng của KQVN.

Tài liệu của Air America ghi nhận một số trường hợp các phi công VN dùng súng ‘tạm mượn’ phi cơ của Air America để bay ra Hạm đội Hoa Kỳ: Chiếc UH-1H (69-16715) của Air America màng dấu hiệu ICSS (Ủy Ban Liên hợp 4 bên) đã do phi công VN bay ra đáp tại Chiến hạm Blue Ridge trưa ngày 29/4. Tất cả có 6 chiếc trực thăng bị phi công VN “mượn tạm”, trong đó 5 chiếc loại UH-1 và một chiếc Bell 204B (?), chiếc Bell này sau đó đáp trên USS Kirk. (Air America in South Viet Nam: The Collapse. Tác giả Joe Leeker)

Số phận những phi cơ… đến được Utapao:

Ngay khi các phi cơ của KQ VNCH đáp xuống Utapao, vừa ngừng bánh, tắt máy, các nhân viên phi đạo lập tức sơn lại cờ chuyển từ VNCH sang thành máy bay của Hoa Kỳ. Người Thái Lan không muốn ‘chứa chấp’ những người Việt vừa phải bỏ nước ra đi nên HK đã phải lập cầu không vận, dùng các C-141 để đưa người tỵ nạn sang Guam.

Một trục trặc nhỏ đã xẩy ra: 65 người, tất cả trên cùng một chuyến C-130 đến Utapao đã đòi trở về VN. Dưới sự lãnh đạo của Tr/úy Cao van Le (?), những nhân viên KQVN này khi bay khỏi TSN, không biết là họ sẽ phải biệt xứ trong khi gia đình còn kẹt lại tại VN… và dọa sẽ tự tử nếu không được như ý. Một Đại tá KQVN và một Tuyên úy quân đội HK đã giúp điều đình để giải quyết vấn đề, chỉ còn 13 người cương quyết đòi về. Sau cùng cả 13 người đã được chích thuốc ngủ để đưa lên C-141 đi Guam.

CSVN đã lên tiếng đòi hỏi chủ quyền về những máy bay tỵ nạn tại Thái. Hà Nội đã đòi đưa một phái đoàn đến Thái để kiểm kê các phi cơ. Chính quyền Thái do áp lực của Hà Nội đã đòi’ tạm giữ’ các máy bay đang ở Utapao. 
Tướng Aderholt cho biết’ các phi cơ này thuộc quyền sở hữu của HK theo một điều khoản có ghi trong Thỏa ước Viện trợ Quân sự Mỹ-Việt’ nhưng chưa chắc Thái Lan đồng ý nên ông tìm cách chuyển các phi cơ khỏi Thái càng nhanh càng tốt. Trước hết, Aderholt ‘tặng’ cho Tư lệnh KQ Thái Lan 5 chiếc F-5 để mua chuộc giới quân sự Thái (Thật ra Aderholt không có quyền nhưng trước chuyện đã rồi, HK khó lấy lại được 5 phi cơ này). Khi Hàng không mẫu hạm Midway ghé một căn cứ HQ Thái Lan gần Utapao ngày 5/5, khoảng 140 phi cơ đủ loại đã được chở ra khỏi Thái Lan (trong số này có lẽ gồm cả một số phi cơ, trong tổng số 93 chiếc của Không lực Kmer đã bay sang Thái khi Nam Vang thất thủ). Bốn chiếc Skyraiders được Aderholt cho bay đi, cất giấu tại Căn cứ Takhli. Mẫu hạm Midway đã chở về Guam 101 phi cơ của KQVN, trong đó có 21 chiếc F-5E.

Theo ‘Escape to Utapao’ một chiếc C-123K được đưa ra khỏi Thái (số đuôi 54-00592). Chiếc này hiện ở Phi trường Avra Valley và không ai biết về trường hợp này. (Theo danh mục trong Flying Dragons trang 164 thì chiếc này của KQVN)

Tài liệu của Hải Quân Thái Lan ghi nhận: Trong danh mục phi cơ thuộc HQ Thái Lan có một số phi cơ ‘cũ’ của KQVN như:

– C-47A (43-48101, VNAF)

– VC-47D (43-48777, VNAF ‘EY’

– AC-47D (43-49095, VNAF ‘EK’

– RC-47 (43-49701, VNAF) và (43-49925, VNAF ‘EF’) và (44-76418, VNAF ‘EB’)

– EC-47 P (45-1044, VNAF ‘WA’)

Ngoài ra còn 3 chiếc U-7 mang các số đuôi 71-1438; 71-1442 và 7-1455 được ghi là VNAF(?)
Trần Lý
(tháng 4/2012)

Chiến dịch Hồ Chí Minh và ngày 8 tháng tư năm 1975

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Không có mô tả ảnh.

Ngày 8 tháng 4 năm 1975, tại Lộc Ninh, Bộ Chỉ huy Chiến dịch Giải phóng Sài Gòn – Gia Định được thành lập với thành phần: Tư lệnh: Đại tướng Văn Tiến Dũng, Chính ủy: Phạm Hùng, các Phó Tư lệnh: Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Lê Đức Anh, Trung tướng Đinh Đức Thiện, Quyền Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền, sau đó bổ sung Trung tướng Lê Trọng Tấn làm Phó Tư lệnh và Trung tướng Lê Quang Hòa làm Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị. Có hai nhân vật lãnh đạo không phải là quân nhân tham gia là các ông Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt.


Ngày 14 tháng 4, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam gửi Bức điện số 37/TK cho Bộ Chỉ huy Chiến dịch Giải phóng Sài Gòn – Gia Định: “Đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh”.

Sau khi đã hoàn thành công tác chuẩn bị và tập trung một khối lượng rất lớn lực lượng và phương tiện trong thời gian ngắn nhất ở vùng kế cận Sài Gòn, chiều 26/4, chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn. Từ năm hướng các quân đoàn đồng loạt tiến công Sài Gòn.

Từ 26 đến 28/4, quân ta đã chọc thủng tuyến phòng ngự vòng ngoài, đập tan sự kháng cự của các sư đoàn địch, tiếp cận Sài Gòn. Địch bị rối loạn hoàn toàn về chiến lược. Từ chiều 28/4, các cánh quân ngụy không còn nhận được lệnh từ Tổng hành dinh và các tướng chỉ huy nữa vì đã tháo chạy ra nước ngoài.

Chiều 28/4/1975, Trần Văn Hương từ chức Tổng thống VNCH, tướng Dương Văn Minh lên thay. Tối 28/4/1975, Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh ra lệnh tổng công kích trên toàn bộ mặt trận.

Vào sáng ngày 29/4, các cánh quân của ta cùng tiến vào trung tâm Sài Gòn.

5 giờ sáng ngày 29/4/1975, các cánh quân của ta từ nhiều hướng đồng loạt đánh vào Sài Gòn. Với ưu thế áp đảo, quân ta ào ạt tiến công vừa bao vây tiêu diệt và làm tan rã bọn địch còn lại ở vòng ngoài, vừa nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm 5 mục tiêu đã định ở bên trong.

Sáng 30/4, Quân đoàn 1 đã chiếm được trung tâm hành quân Bộ Tổng tham mưu và khu Bộ Tư lệnh các binh chủng VNCH. Quân đoàn 3 chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và nhà làm việc của Bộ Tổng tham mưu VNCH. Quân đoàn 4 chiếm Bộ Quốc phòng VNCH và Cảng Bạch Đằng, Đài Phát thanh. Đoàn 232 chiếm Biệt khu Thủ đô và Tổng nha Cảnh sát VNCH.
Quân đoàn 2 chiếm Dinh Độc Lập, bắt gọn toàn bộ nội các mới của VNCH, kể cả Tổng thống Dương Văn Minh (vừa nhậm chức ngày 28/4).


Trên sóng phát thanh, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Đúng 11 giờ 30 ngày 30/4/1975, cờ Cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc lập, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch. Từ đây, đất nước thống nhất, non sông liền một dải sau 30 năm chia cắt.