CHƯƠNG 2: HAI CHUYẾN CÔNG CÁN CỦA ĐẠI SỨ J.B.SEABORN TẠI HÀ NỘI

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln


Ngày 18 tháng 6 năm 1964. Thế là đại sứ J.B. Seaborn tới Hà Nội sau biết bao nôn nóng và sau chặng dừng chân ngắn tại Phnôm Pênh và Viêng Chăn.

Chiếc ô tô màu trắng của Uỷ ban Quốc tế giám sát và kiểm soát việc thi hành Hiệp nghị Genève về Việt Nam đưa ông rời sân bay Gia Lâm. Phong cảnh ở đây khác với phong cảnh ở Canađa, thậm chí khác với phong cảnh Sài Gòn mà ông cũng mới biết lần đầu trong đời. Những thửa ruộng mới gặt kế tiếp nhau chạy vùn vụt, lửa rực cháy trên ngọn các cây phượng bên đường, một phố ngoại ô bé nhỏ và xơ xác. Tuy mới đến Hà Nội lần thứ nhất, ông nhìn phong cảnh mà không để ý lắm, vì ông đang nghĩ đến nhiệm vụ mà ông phải hoàn thành.

Tưởng cũng cần nhắc rằng sau nhiều giờ thảo luận sôi nổi, thậm chí cả những cuộc thảo luận hàn lâm về hai từ giám sát và kiểm soát, các thành viên của Hội nghị Genève về Đông Dương đã thoả thuận thành lập một Ủy ban Quốc tế có nhiệm vụ giám sát và kiểm soát việc thi hành Hiệp nghị Genève tại mỗi nước Đông Dương. Theo sự dàn xếp được nhất trí chấp nhận, Ủy ban gồm một đại diện cho các nước xã hội chủ nghĩa là Ba Lan, một đại diện cho các nước phương Tây là Canađa và một chủ tịch là Ấn Độ, một nước lớn theo con đường hoà bình, trung lập, đại diện cho các nước đang phát triển.

Ông Seaborn đến Việt Nam lần này với tư cách đại diện cho Canađa trong Uỷ ban Quốc tế về Việt Nam. Từ khi Hiệp nghị Genève về Việt Nam có hiệu lực và từ tháng 8 năm 1954, Uỷ ban Quốc tế bắt đầu công việc của mình, Canađa xứng đáng là đại diện cho phương Tây. Đại diện của họ ủng hộ lập trường của Chính quyền Ngô Đình Diệm. Ở miền Nam Việt Nam, họ làm ngơ trước việc nhà cầm quyền vi phạm các quyền tự do dân chủ, đàn áp những người trước đây đã tham gia kháng chiến chống Pháp và trước việc đưa trái phép vào miền Nam Việt Nam những cố vấn quân sự và vũ khí, vật tư chiến tranh của Mỹ.

 Ở miền Bắc Việt Nam, họ ủng hộ việc cưỡng bức những người công giáo đi di cư vào miền Nam, cố lùng sục xem có vũ khí, đạn dược của các nước xã hội chủ nghĩa được đưa trái phép hay không. Trong các cuộc họp của Uỷ ban Quốc tế họ đóng vai “người biện hộ” cho Sa tăng luôn luôn chống lại mọi quan điểm và lý lẽ của đồng sự Ba Lan, do đó gây nhiều khó khăn cho ông chủ tịch Ấn Độ.

Vốn là một tham tán của sứ quán Canađa tại Mát-xvơ-va, lần này Seaborn được giao trọng trách là trưởng đoàn Đại biểu Canađa trong Uỷ ban Quốc tế. Ông có thể hài lòng với sự bổ nhiệm đó ở một địa bàn chiến lược nhằm ngăn chặn nguy cơ cộng sản từ vĩ tuyến 17. Nhưng suốt từ khi rời Sài Gòn cho đến lúc này, chân đã đặt trên mảnh đất Hà Nội, thủ đô Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mà ông chỉ mới biết tên sau Điện Biên Phủ, ông bận tâm đến một nhiệm vụ khác mà ông có những lý lẽ riêng và lý lẽ chung để cho là quan trọng hơn nhiều so với nhiệm vụ đại sứ trong Uỷ ban Quốc tế.

Khi ông mới được chọn vào cương vị này, ngày 1 tháng 5 năm 1964 tại Ottawa, Ngoại trưởng Mỹ D.Rusk và W.Sunivan đã cùng Thủ tướng L.Pearson và Ngoại trưởng P.Martin của Canađa bàn về nhiệm vụ đặc biệt của ông. Người ta yêu cầu ông “Lưu lại Hà Nội nhiều thời gian hơn các tiền nhiệm của ông. Ông cần tìm cách gặp được Cụ Hồ và đồng nghiệp của Cụ, báo cho họ biết một cách đầy đủ quyết tâm của Hoa Kỳ đi đến cùng trong vấn đề này”. Ông biết rõ Hoa Kỳ “chắc chắn sẽ chọn con đường mở rộng các hoạt động quân sự”. Trừ phi Hà Nội chấm dứt chiến tranh, nếu không Hoa Kỳ sẽ dùng không quân và hải quân đánh Bắc Việt Nam cho đến khi Hà Nội chấm dứt chiến tranh (Xem: Ngoại giao bí mật trong chiến tranh Việt Nam, tập văn kiện về thương lượng của Tài liệu Lầu Năm Góc do Gioóc-giơ. C.Hearing xuất bản, Phòng báo chí Trường Đại học Texas, Austin 1983 trang 16 và 23, sau đây gọi tắt là ngoại giao bí mật trong chiến tranh Việt Nam. W.Sunivan lúc đó là Chủ tịch Liên ban công tác về Việt Nam ở Bộ Ngoại giao Mỹ, sau này là Đại sứ Mỹ ở Lào và phụ tá của Kissinger). 

Ngày 28 tháng 5 năm 1964, tại Niu Oóc, Tổng thống Hoa Kỳ L.B.Johnson đã gặp Thủ tướng Canađa Pearson. Nội dung cuộc trao đổi, báo chí khi đó không nói đến, nhưng chính Tổng thống Johnson sau này đã nhắc lại trong cuốn hồi ký Cuộc đời Tổng thống của tôi. Trong điện văn số 2133 gửi ngay sau đó cho đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, Bộ Ngoại giao Mỹ đã viết rõ ràng:

“Tổng thống đã nói với ông Pearson rằng ông muốn Hà Nội biết rằng Tổng thống, trong khi là người của hoà bình, không có ý định cho phép người Bắc Việt Nam tiếp quản Đông Nam Á. Tổng thống cần một người đối thoại tin cẩn và có trách nhiệm để chuyển cho Hà Nội một thông điệp về thái độ của Mỹ. Trong khi vạch ra những nét đại cương về lập trường của Hoa Kỳ, đã có thảo luận về củ cà rốt và cái gậy… Sau khi biểu thị lòng mong muốn đóng góp thiện chí vào cố gắng đó, ông Pearson đã bày tỏ nỗi lo ngại. về tính chất của cái gậy… Ông nói rằng ông hết sức dè dặt về việc sử dụng vũ khí nguyên tử, nhưng cho rằng việc tiến công trừng phạt bằng bom vào các mục tiêu có phân loại một cách rõ ràng sẽ là một việc khác… Ông nói rằng cá nhân ông muốn biết về phương sách của chúng ta để đi tới các biện pháp đó nếu thông điệp chuyển qua đường Canađa thất bại, không tạo được việc làm giảm sự xâm lược của Bắc Việt Nam, và Canađa muốn chuyển thông điệp trong bối cảnh đó” (M.M.McLear: Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày, Nhà xuất bản Thêm Me-tu-en Luân Đôn, 1982, tr.131).

Cũng trong thời gian có cuộc họp cấp cao Mỹ – Canađa tại Ottawa, W.Sunivan và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Paul Martin làm việc với ông Seaborn. Ông được trao cho một đề cương những điều cần nói với Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phạm Văn Đồng và được biết thêm rằng “Người Mỹ không chỉ muốn Canađa chuyển một thông điệp mà còn muốn có một sự đánh giá về mặt tình báo khả năng chiến tranh của Bắc Việt Nam” (M.M.McLear: Sđd, tr.132.).

Ông Seaborn vui lòng nhận các điều kiện làm việc và khẩn trương thu xếp công việc để đi Việt Nam. Ông cần nhận thức rõ sứ mệnh của mình khi chính Tổng thống Johnson đã nói chuyện với ông trước khi ông lên đường để tỏ lòng tin cậy ông và nhấn mạnh hai nhiệm vụ chuyển thông điệp và nắm tình hình Bắc Việt Nam

Đến Sài Gòn, ông nắm thêm tình hình qua tiếp xúc với các đồng sự Ấn Độ, Ba Lan, với đại sứ Hoa Kỳ và ông phấn khởi được Hà Nội trả lời là Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận tiếp ông. Ông đã được hai ngoại trưởng Dan Rusk và Martin dặn đó. Ông lại được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trang bị cho một bản mười ba điểm chi tiết hoá các nhiệm vụ mà ông được giao, trong đó đặc biệt có điều bốn:

“Ông Seaborn thông qua các lý lẽ, biện luận và quan sát thái độ của người Bắc Việt Nam để hình thành một sự đánh giá trạng thái tinh thần của Bắc Việt Nam. Ông cần rất nhạy bén về:

  1. Sự khác biệt liên quan đến sự chia rẽ về chiến tranh.

b. Thất vọng hoặc mỏi mệt về chiến tranh.

c. Dấu hiệu về việc Bắc Việt Nam muốn nói chuyện với phương Tây.

d. Dấu hiệu về phe phái trong Đảng và Chính phủ.

đ. Dấu hiệu về mẫu thuẫn giữa phái quân sự và phái chính trị.

Người ta còn yêu cầu ông khai thác bản chất và ưu thế ảnh hưởng của Trung Quốc ở Bắc Việt Nam và đánh giá thực chất và ảnh hưởng của người Xô Viết. Điều mười hai còn nói: ông có thể xem lại môi tương quan về sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ, Bắc Việt Nam và tài nguyên mà Trung cộng có thể sử dụng ở Đông Nam Á. (Xem G.C. Hearing: Ngoại giao bí mật trong chiến tranh Việt Nam, tr. 22.).

Seaborn cần vạch rõ qua kiểm tra xem có phải cụ Hồ Chí Minh tự đánh giá mình quá cao mà lao vào cuộc chiến hay Cụ cảm thấy rằng đồng minh Trung Quốc sẽ ủng hộ mình đến cùng. Chúng ta cần biết có phải quyết tâm hăng say hiện nay của Cụ là do áp lực của những phần tử thân Trung Quốc trong hàng ngũ Việt Nam hay do chính những tham vọng của Cụ thúc ép. Nhà báo M.Mclear gọi nhiệm vụ của ông Seaborn là một nhiệm vụ chủ yếu mang tính chất gián điệp” (M.M.Mclear: Sđd, tr. 137-138.).

Washington ngoài cái gậy còn trao cho ông một củ “cà rốt”:

Nếu Hà Nội chấm dứt chiến tranh Hoà Kỳ sẽ:

Một: Hành động để nối lại buôn bán giữa Bắc và Nam Việt Nam “giúp vào việc thiếu lương thực của Bắc Việt Nam hiện nay”.

Hai: Viện trợ thực phẩm cho Bắc Việt hoặc bán cho Bắc Việt lấy tiền địa phương. 

Ba: Bỏ sự kiểm soát của Hoa Kỳ đối với tích sản của Bắc Việt Nam và giảm kiểm soát của Hoa Kỳ trong buôn bán Hoa Kỳ – Bắc Việt Nam.

Bốn: Thừa nhận Bắc Việt Nam về ngoại giao và trao đổi đại diện ngoại giao.

Năm: Rút quân đội Hoa Kỳ xuống còn ba trăm năm mươi cố vấn, số lượng khi ký Hiệp nghị Genève và được Hiệp nghị này cho phép.

Sáu: Sẽ cho phép Hà Nội rút bất kỳ nhân viên Việt Cộng nào muốn rời khỏi Nam Việt Nam… Chính phủ Nam Việt Nam sẽ ân xá cho các phiến quân thôi không chống lại quyền lực của Chính phủ (Xem G.C.Heanng: Ngoại giao bí mật trong chiến tranh Việt Nam, tr. 23.). 

Ông vững lòng lên đường ra Hà Nội và lúc này đây, khi đang leo những bậc thềm đá cao của Phủ chủ tịch, ông càng vững lòng, tuy không khỏi một chút phân vân về kết quả chuyến công cán.

Thượng tá Mai Lâm, Phó trưởng phái đoàn liên lạc Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam bên cạnh Uỷ ban Quốc tế, đón ông ở bậc cuối cùng với nụ cười hữu nghị. Hai người rẽ về bên phải tới phòng khách phía Tây, nơi Thủ tướng thường tiếp các đại sứ.

 Ông Seaborn hơi bối rối trước sự giản dị của phòng khách và nhất là trước sự khiêm tốn niềm nở của một nhà chính trị lớn, một nhà ngoại giao có tiếng luôn luôn biểu lộ một sắc thái phương Đông.

Sau những lời chúc mừng và thăm hỏi lễ tân, ông Seaborn bày tỏ niềm vui mừng được thay mặt nước ông làm việc trong Uỷ ban Quốc tế vì hoà bình ở Đông Dương và khu vực. Ông nói những đóng góp của Canađa trong Uỷ ban Quốc tế và nếu những điều ông mới được biết về những khó khăn mà Uỷ ban Quốc tế nói chung, đoàn Canađa nói riêng, đang gặp phải trong lúc này và nói tiếp:

“Canađa luôn luôn quan tâm theo dõi sự phát triển ở vùng này và thấy rằng tình hình ngày càng nghiêm trọng. Canađa quan tâm đến hoà bình và mong muốn đóng góp cố gắng của mình theo hướng đó”.

“Thưa Ngài Thủ tướng, Ngài biết quan hệ giữa Canađa và Hoa Kỳ là hữu nghị và rất chặt chẽ. Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi hiểu một cách sâu sắc những suy nghĩ của Hoa Kỳ, rằng Tổng thống Johnson là con người của hoà bình. Ông ta muốn tránh một sự đụng độ giữa các cường quốc lớn nhưng cũng quyết tâm không để Đông Nam Á rơi vào sự kiểm soát của cộng sản thông qua các hoạt động lật đổ và chiến tranh du kích”.

Đến đây ông dừng lại – một cái dừng lại đầy kịch tính – và xin phép chuyển một thông điệp của Chính phủ Hoa Kỳ cho Chính phủ Việt Nam. Ông lại dừng lại nhìn Thủ tướng – một cái dừng của người tình báo để đó xét.

Về phía Thủ tướng; không một dấu hiệu nào phản đối hay khước từ. Ông Seaborn đọc một bản đánh máy:

Một: Hoa Kỳ biết rõ là Hà Nội nắm quyền kiểm soát đối với Việt cộng ở miền Nam Việt Nam và đó là nguyên nhân gây ra tình hình nguy hiểm hiện nay trong khu vực này;

Hai: Hoa Kỳ có lợi ích phải chống đối lại một thắng lợi của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở miền Nam Việt Nam;

Ba: Hoa Kỳ quyết tâm kiềm chế Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong phạm vi lãnh thổ do Hiệp nghị Genève quy định;

Bốn: Hoa Kỳ bảo đảm với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là Hoa Kỳ không tìm cách lật đổ chế độ cộng sản ở Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hoặc đặt căn cứ quân sự ở Nam Việt Nam;

Năm: Tham vọng của Hoa Kỳ là có giới hạn nhưng sự kiên nhẫn của Hoa Kỳ đã trở nên hết sức mỏng manh;

Sáu: Nhiều nước cộng sản đã được lợi về kinh tế do có quan hệ chung sống hoà bình với Hoa Kỳ như Nam Tư…”

 Ông Seaborn nhấn mạnh rằng ông lo sợ một sự leo thang chiến tranh và nghĩ rằng điều đó chẳng có lợi cho ai “nếu Bắc Việt Nam bị tàn phá nặng nề”. 

Cuối cùng, ông hỏi Hà Nội có thông điệp gì muốn chuyển cho Tổng thống Johnson.

Từ đầu, Thủ tướng chăm chú nghe ông Seaborn trình bày, không một lần ngắt lời ông, cũng không lúc nào tỏ ra đồng tình hay chấp nhận những lời ông nói.

Khi nghe ông đại sứ hỏi có thông điệp gì chuyển cho Tổng thống Hoà Kỳ không, Thủ tướng liền trả lời:

– Không! Không! Lúc này không!

Và nói tiếp :

Chúng tôi vui mừng được thấy Canađa trong Uỷ ban Quốc tế. Chính phủ chúng tôi và bản thân tôi có quan hệ tốt, hợp tác với Uỷ ban Quốc tế cũng như với Canađa trong mười năm qua vì chúng tôi thi hành Hiệp nghị Genève đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam. Nhưng người Mỹ đã can thiệp vào Việt Nam, cản trở sự thống nhất đất nước Việt Nam. Họ đã thất bại trong chính sách phiêu lưu của họ nhưng hiện nay họ đang đẩy sự can thiệp đầy tội ác, vô cùng nguy hiểm lên một bước mới, gây nên tình hình rất nghiêm trọng ở Đông Nam Á.

Chúng ta phải học tập để cùng tồn tại trong hoà bình, tìm ra một giải pháp cho vấn đề đã làm tổn hại chúng ta, nhưng đó phải là một giải pháp đúng đắn! Phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp nghị Genève! Người Mỹ phải rút đi! Phải để công việc của miền Nam Việt Nam cho người Việt Nam giải quyết! Việc này cần có sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, không có nhóm nào đại diện cho quyền lợi của quảng đại quần chúng miền Nam Việt Nam như Mặt trận Dân tộc Giải phóng. 

Cần có một giải pháp đúng đắn cho vấn đề thống nhất nước Việt Nam. Chúng tôi muốn thống nhất đất nước một cách hoà bình, không có áp lực bên ngoài. Chúng tôi muốn có thương lượng quanh bàn Hội nghị một cách thành thật, thoả mãn yêu cầu của nhau với sự thu xếp thuận lợi cho cả hai bên. Chúng tôi không vội vã. Chúng tôi muốn nói chuyện nhưng chúng tôi sẽ chờ đợi cho đến khi miền Nam Việt Nam sẵn sàng. Tôi thấy đó là điều khó chấp nhận đối với Hoa Kỳ. Tôi thấy rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ cho Chính phủ miền Nam Việt Nam. Họ có thể đưa thêm nhiều nhân viên quân sự nữa vào. Tôi rất đau lòng khi thấy chiến tranh sẽ tiếp diễn, mở rộng và tăng cường. Nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục chiến đấu và nhất định sẽ thắng!”

Thủ tướng từ từ uống một ngụm nước chè rồi nói tiếp:


– Các ông phương Tây, các ông không thể hiểu, hoàn toàn không thể hiểu, sức mạnh của một dân tộc khi họ đã quyết tâm đứng lên kháng chiến vì độc lập và tự do của Tổ Quốc. Cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam Việt Nam chúng tôi vượt xa mọi sự tưởng tượng. Họ làm cho cả chúng tôi phải ngạc nhiên.

 Ông hãy nhìn lại tình hình miền Nam Việt Nam từ sau khi ám sát Diệm. Phong trào đấu tranh của nhân dân đã phát triển mạnh như một dòng thác lũ. Triển vọng cho Hoa Kỳ là không có lối ra. Tăng cường quân sự cho Nguyễn Khánh sẽ chẳng giúp được gì. Nhân dân miền Nam Việt Nam đã quá rõ bộ mặt của chúng, cần có một Chính phủ liên hợp dân tộc. Chính phủ liên hợp dân tộc ở Lào là một ví dụ. Chúng tôi không có quân ở Lào nhưng Hoa Kỳ đã can thiệp vào. Hàng ngày máy bay Mỹ từ hướng Lào sang xâm phạm vùng trời chúng tôi. Những đơn vị biệt kích đã thâm nhập lãnh thổ chúng tôi đế tiến hành phá hoại.

Thủ tướng nhấn mạnh:

– Nếu Hoa Kỳ tăng cường chiến tranh ở miền Nam Việt Nam thì sẽ là một cuộc chiến đấu quyết liệt đến cùng, Hoa Kỳ không bao giờ giành được thắng lợi bất cứ trong tình huống nào.

Thủ tướng nhắc lời của nhà báo Mỹ Walter Lipmann: Mỹ chưa thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Đại sứ Seaborn hứa sẽ chuyển về Washington những điều nói trên.

Thủ tướng:

– Ông có thể không tin những điều tôi nói, nhưng tôi bảo đảm với ông những gì tôi nói đều xuất phát từ lòng chân thành và thẳng thắn. 

Ông Seaborn:

– Như Ngài vừa nói, có phải một điều kiện để lập lại hoà bình là trước hết miền Nam Việt Nam phải trung lập không?

– Không – Thủ tướng ngắt lời đại sử – Tôi không nói đến vấn đề trung lập như là bước đầu tiên. Miền Nam Việt Nam trung lập bao nhiêu lâu là do nhân dân miền Nam quyết định. Tôi không dự đoán!

Ông Seaborn:

– Mặt trận Dân tộc Giải phóng đại diện cho một lực lượng ở miền Nam Việt Nam nhưng không phải là tất cả và cũng không phải là đa số. Tôi hoan nghênh Mặt trận sẽ được tham gia vào một liên hiệp sẽ xuất hiện, nhưng tôi sợ rằng việc liên hiệp sẽ sớm mở đường cho Mặt trận tiếp quản Nam Việt Nam, điều đó đã xảy ra ở một vài nơi.

Thủ tướng không trả lời câu này và có ý định chuyển câu chuyện sang hướng khác. Thủ tướng nói:

– Tôi vui mừng qua thông điệp của Hoa Kỳ thấy Hoa Kỳ không có ý định đánh chúng tôi.

 Ông đại sứ nói ngay:

– Hoa Kỳ không muốn đưa chiến tranh ra Bắc Việt nhưng sẽ bị buộc phải làm việc đó nếu bị đẩy quá xa. Sự kiên nhẫn của Hoa Kỳ không phải là không có giới hạn. 

Chậm rãi, Thủ tướng nói:

– Nếu chiến tranh bị đẩy ra miền Bắc Việt Nam, miền Bắc sẽ chiến đấu. Chúng tôi có các bạn bè của chúng tôi. Ông biết đấy, chúng tôi là một nước xã hội chủ nghĩa, là một thành viên trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa. Nhân dân chúng tôi sẽ đứng lên tự vệ. Chúng tôi không có hành động gì đẩy Hoa Kỳ đi vào con đường đó, chúng tôi không khiêu khích Hoa Kỳ.

Đại sứ Seaborn xin cáo từ. Thủ tướng nói thêm:

– Tôi chờ đợi có cuộc nói chuyện thêm nữa với ông đại sứ. Lần sau ông sẽ gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lần này Người đi nghỉ. Người có gửi lời chào ông.

Chuyến công cán của ông Seaborn tại Hà Nội theo yêu cầu của Washington đã hoàn thành, ông Seaborn trở về ngay Sài Gòn. Tại đây ông đã làm báo cáo gửi đồng thời cho Ottawa và Washington. .

Cuộc nói chuyện với Thủ tướng Phạm Văn Đồng được tường thuật rất đầy đủ.

Khi nói về Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông Seaborn viết: “Ông Phạm Văn Đồng trong suốt câu chuyện đã cố gắng gây cảm giác thành thật, nhận thức tính nghiêm trọng của những điều chúng ta đã thảo luận, và không có gì tỏ ra hung hăng và hiếu chiến” .

Khi nói về ý kiến của những người ông đã gặp ở Hà Nội, ông viết: Không một người Việt Nam nào tôi đã gặp nói đến Liên Xô và Trung Quốc. Ông Đồng chỉ nói một cách gián tiếp rằng nước ông là thành viên của nhóm nước xã hội chủ nghĩa trong khuôn khổ khả năng Hoa Kỳ đưa chiến tranh ra miền Bắc”.

Người Pháp cho tôi biết rằng Bắc Việt Nam lo ngại về một sự chia rẽ hoàn toàn giữa Liên Xô và Trung Quốc làm cho họ rơi vào sự kiểm soát của Trung Quốc, điều mà họ hết sức chống lại càng lâu được chừng nào càng tốt”

Về sự chia rẽ trong nội bộ Bắc Việt Nam, Seaborn nhấn mạnh tính ôn hoà trong lời nói của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ông nói: Cụ Hồ Chí Minh có uy tín vô cùng to lớn và được sùng bái như một vị á thánh, đứng trên mọi phe phái. Các đại diện

không cộng sản ở Hà Nội chống lại ý kiến cho rằng có thể có phe có nhóm ở Hà Nội. Họ thấy lòng tự hào dân tộc rất cao trong những lời tuyên bố dứt khoát của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và trong lời kêu gọi tự lực tự cường của Hà Nội. 

Về tình trạng có dấu hiệu mỏi mệt vì chiến tranh hay không, Seaborn cho rằng không có bằng chứng nào cho thấy dấu hiệu đó, và rõ ràng mọi người Việt Nam đều nhấn mạnh quyết tâm chiến đấu chừng nào còn cần thiết. Cũng không thấy người dân ở Bắc Việt buồn hay lo lắng như người Nam Việt Nam. Các sĩ quan Canađa trong tổ (của Uỷ ban Quốc tế ở địa phương) cũng không thấy một bằng chứng nào về sự bất bình trong nhân dân (M.M.Mclear: Sđd, tr 147-148.).


Chuyển được thông điệp của Nhà Trắng cho lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, biết được câu trả lời trước mắt của Hà Nội đối với thông điệp của Washington, nắm được tinh thần người dân Bắc Việt Nam trước nguy cơ chiến tranh lớn có thể xảy ra, có những tin tức đầu tiên về quan hệ của Bắc Việt Nam với Liên Xô, Trung Quốc, đó là những kết quả của chuyến công cán đầu tiên của đại sứ Seaborn tại Hà Nội. Chuyến đi này được Bộ Ngoại giao Mỹ đánh giá cao, vì đây là người đầu tiên của Mỹ sau gần hai mươi năm được trực tiếp nói chuyện với những nhà lãnh đạo Hà Nội để tìm hiểu tình hình chiến lược theo yêu cầu của Mỹ.

Trong bản báo cáo gửi Ottawa và Washington sau chuyến công cán đầu tiên tại Hà Nội, ông J.B.Seaborn đã ngỏ ý muốn được tiếp tục nhiệm vụ liên lạc với Hà Nội và sẽ “hoan nghênh bình luận của Bộ Ngoại giao Canađa và của Washington về bất kỳ gợi ý nào cho cuộc nói chuyện lần sau”

Nhưng trong chuyến máy bay riêng của Uỷ ban Quốc tế ra Hà Nội ngày 10 tháng 8 năm 1964, ông suy nghĩ và thấy sự việc chuyển biến quá nhanh.

Ngày 2 tháng 8 năm 1964, tàu khu trục US Maddox của Hải quân Hoa Kỳ bắn phá hai đảo Hòn Mê, Hòn Ngư của Bắc Việt Nam.

Ngày 4 tháng 8, hai tàu khu trục US Maddox và C.TurnerJoy thuộc phân đội đặc nhiệm 72.1 bị tàu phóng ngư lôi của hải quân Bắc Việt Nam chặn đánh trong lãnh hải Việt Nam.

Ngày 5 tháng 8, máy bay Mỹ ném bom trả đũa vào các căn cứ Hải quân Bắc Việt Nam.

Ngày 7 tháng 8, Quốc hội Mỹ, với tuyệt đại đa số phiếu (chỉ có hai phiếu chống), thông qua một nghị quyết về “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” cho phép Tổng thống “thi hành mọi biện pháp cần thiết bao gồm cả việc sử dụng lực lượng vũ trang” để giúp đỡ thành viên nào hoặc các nước bảo vệ của tổ chức hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) yêu cầu Hoa Kỳ giúp đỡ bảo vệ tự do.

Theo yêu cầu gấp rút của Mỹ, Seaborn lại ra Hà Nội gặp các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam.

Hà Nội nhộn nhịp chuẩn bị đi vào chiến đấu: đường phố bắt đầu có những ụ súng phòng không, những hố cá nhân, những hầm trú ẩn công cộng, nhà ga, bến xe chật ních phụ nữ, trẻ em đi sơ tán. Một không khí nghiêm trang nhưng không hốt hoảng. Tác động trực tiếp của tình hình mới đối với ông là lần này ông không được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp ngay như lần trước, mà phải đợi đến ngày 13 tháng 8.

Khi ông tới Phủ chủ tịch, Thủ tướng đang đợi ông. Ông xin lỗi về sự chậm trễ do có báo động và đi ngay vào câu chuyện. Ông xin phép được chuyển tới Thủ tướng một thông điệp của Hoa Kỳ theo chỉ thị của Chính phủ Canađa. Thủ tướng im lặng, vẫn bình tĩnh, lịch sự.

Ông đại sứ đọc một bản viết:

“Một: Bắc Việt Nam nói tàu chiến Mỹ bắn phá đảo Hòn Ngư và đáo Hòn Mê là không đúng. Sự thật tàu US Maddox không hề tấn công hai đảo đó, vì lúc sự việc xảy ra cũng như ngày hôm sau, nó ở cách xa đấy một trăm hải lý về phía Nam, gần vĩ tuyến 17. Cuộc tấn công của Bắc Việt ngày 2 tháng 8 Chính phủ Hoa Kỳ có thể chấp nhận được là do tính toán sai.

Hai: Nhưng lý do của cuộc tấn công của Bắc Việt đêm 4 tháng 8 vào hai tàu khu trục Mỹ thì không thể hiểu được. Chỉ có thể coi đó là một cuộc tấn công có tính toán trước. Cuộc công kích xảy ra một cách vô cớ cách bờ biển sáu mươi hải lý. Chỉ có thể coi đó là một mưu toan nhằm chứng minh rằng Mỹ là con hổ giấy hoặc khiêu khích Mỹ.

Ba: Hoa Kỳ đã trả lời bằng cuộc bắn phá tàu ngư lôi cùng căn cứ và thiết bị của nó. Đó là cuộc đánh trả hạn chế và thích đáng Chính sách của Hoa Kỳ là yêu cầu Bắc Việt phải hạn chế tham vọng của mình ở Nam Việt Nam. Hoa Kỳ quyết tâm giúp Nam Việt Nam chống xâm lược và lật đổ. Hoa Kỳ không có ý định thiết lập các căn cứ quân sự ở miền Nam hoặc lật đổ Chính phủ Hà Nội. 

Bốn: Hoa Kỳ biết rõ Hà Nội đang lãnh đạo du kích ở miền Nam và phải chịu trách nhiệm về việc đó. Hà Nội cũng kiểm soát cả Pa thét Lào và can thiệp vào Lào.

Năm: Hoa Kỳ duy trì quan hệ bình thường và có nhiều kết quả với một số nước xã hội chủ nghĩa. Các nước đó được lợi về mặt kinh tế do có quan hệ hữu nghị với Hoa Kỳ.

Sáu: Sau những sự kiện xảy ra, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua quyết định hầu như nhất trí tán thành các biện pháp của Chính phủ Hoa Kỳ. Điều đó chứng tỏ Chính phủ và nhân dân Mỹ kiên quyết chống lại các cố gắng của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhằm lật đổ Chính phủ Nam Việt Nam và Chính phủ Lào. Hoa Kỳ cho rằng vai trò của Bắc Việt Nam ở Nam Việt Nam và Lào đã làm cho tình hình trở nên nguy kịch” 

Theo cách ông đọc thì hình như thông điệp đó đến đây là hết. Nhưng sau này, khi các tài liệu của Lầu Năm Góc được công bố, người ta mới biết là ông ta, không hiểu vì sao, đã không đọc một đoạn nữa như sau: “Nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiếp tục đường lối hiện nay thì họ có thể tiếp tục phải chịu những hậu quả.Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cần biết mình phải làm gì nếu muốn hoà bình được lập lại” (Tài liệu Lầu Năm Góc, thời báo New York xuất bản, 1971, tr. 289.). 

Ông Seaborn chờ đợi, mắt chợt thấy các cửa kính của phòng khách đều có dán những mảnh giấy cắt để đề phòng bom nổ gần. Thủ tướng không để ông chờ lâu:

“Tôi rất tiếc đã tiếp ông vì những lời ông nói không đáng nghe. Tôi tiếp ông là tiếp một đại sứ trong Uỷ ban Quốc tế chứ không phải để nghe và trả lời những luận điệu giả dối và bịa đặt. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có quan hệ hết sức tốt với Uỷ ban Quốc tế. Tình hình đang nguy kịch, đáng lẽ phải cộng tác với nhau để làm được một cái gì, Uỷ ban Quốc tế và mỗi thành viên của nó cần giúp sức vào việc thi hành Hiệp nghị Genève, duy trì hoà bình. Hoà bình đang bị đe doạ. Mỹ có hành động xâm lược đối với miền Bắc là điều nhất định sẽ xảy ra. Các chính khách Mỹ đã nhiều lần tuyên bố mở rộng chiến tranh ra miền Bắc đề gỡ thế bí ở miền Nam. Đó là nguyên nhân của cuộc tấn công ngày 5 tháng 8. Cuộc bầu cử (ở Hoa Kỳ) là lý do thứ hai, Johnson phải tỏ ra cao giọng hơn đối thủ của mình. Và lý do nữa: Hoa Kỳ muốn Quốc tế hoá chiến tranh”.

Một phút dừng. Thủ tướng nói tiếp:

“Tương lai sẽ ra sao?”. 

Rồi nói ngay: “Nguyên nhân dẫn đến cuộc tấn công ngày 5 tháng 8 vẫn còn nguyên, do đó Chính phủ Mỹ sẽ có những hành động xâm lược mới. Tình hình đã rất nguy hiểm”. 

“Chủ trương của chúng tôi là làm mọi việc để cố duy trì hoà bình nhưng Hoa Kỳ đã không tán thành Hiệp nghị Genève, can thiệp và xâm lược miền Nam, đến nay sa lầy vào thế bí, không có lối thoát, lại muốn mở rộng chiến tranh ra miền Bắc để gỡ thế bí đó. Đó là một tính toán sai lầm. Chúng tôi muốn duy trì hoà bình ở miền Bắc, bây giờ việc đó trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Nếu Mỹ gây chiến tranh, chúng tôi buộc phải tự vệ. Chiến tranh có thể xảy ra. Cuộc chiến đấu của chúng tôi là yêu nước. Cả thế giới ủng hộ chúng tôi…”.

Với giọng nghiêm nghị, Thủ tướng nói tiếp:

“Khác với Triều Tiên là một bán đảo khuất nẻo, nếu chiến tranh lan ra miền Bắc Việt Nam, có thể sẽ lan ra cả vùng Đông Nam Á. Nếu Mỹ gây chiến, Mỹ sẽ thất bại to lớn, không có kết quả nào khác”.

“Với ông, một Đại biểu trong Ủy ban Quốc tế, yêu cầu ông tìm cách ngăn ngừa không để xảy ra những sự kiện nghiêm trọng hơn. Tình hình đã quá nghiêm trọng rồi. Uỷ ban Quốc tế có nhiệm vụ ổn định tình hình để đi đến một giải pháp, giải pháp đó là trở lại Hiệp nghị Genève. Tổng thống De Gaune cũng cho rằng giải pháp cho vấn đề Việt Nam là Hiệp nghị Genève. Ủy ban Quốc tế có vai trò quan trọng, cần chuẩn bị cho vai trò đó, không phải bằng cách đi theo lập trường của Hoa Kỳ mà theo lập trường của Hiệp nghị Genève”.

Thấy Thủ tướng dứt lời, đại sứ Seaborn nói ngay:

“Tôi xin lỗi phải làm nhiệm vụ theo chỉ thị của Chính phủ tôi. Vai trò trung gian là vai trò nhiều khi bạc bẽo vì phải nói những điều khó lọt tai người nghe, nhưng đã là người lính thì phải làm đúng chỉ thị. Thưa Thủ tướng không nên bắn vào người đưa thư.”

“Trong những sự kiện đã xảy ra cũng có những chi tiết khó tin nhưng điều quan trọng là tìm ra được cách không để tình hình nguy hiểm tái diễn. Có một điều tôi tin là Hoa Kỳ không muốn đầu độc bầu không khí, không để xảy ra chiến tranh thế giới và cũng không phải là điên rồ”.

Về cuộc công cán thứ hai, đại sứ Seaborn nhận xét: “Tôi dè dặt mà nói rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trước những tuyên bố công khai (của Mỹ) và các cuộc vận động bằng các công hàm mà tôi đã chuyển, đã không bị thuyết phục…” phải từ bỏ quyết tâm trong việc theo đuổi đường lối của họ.

Sau này, khi cục diện chiến tranh đã thay đổi thuận lợi rõ ràng cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ông còn nói:

“Sau chuyến công cán thứ hai sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ – một sự kiện lạ lùng – Hà Nội tin một cách chính đáng rằng họ không cần phải nhượng bộ. Hà Nội có lý do để tỏ ra không mềm dẻo. Họ hoàn toàn tin chắc rằng nếu họ giữ thái độ cứng rắn càng lâu bao nhiêu thì họ sẽ tạo ra được những khả năng mà họ mong muốn và lịch sử đã chứng minh rằng họ đúng” (M.MMcLear: Sđd tr.162).

Trong một bị vong lục về chuyến .công cán thứ hai của ông Seaborn tại Hà Nội, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã viết: “Đây là thời cơ thứ hai bị bỏ lỡ. Nội dung thương lượng của chuyến công cán đã bị cản trớ hoàn toàn do thời điểm sắp xếp nó và do việc tập trung vào các sự kiện mới xảy ra trước đó hơn là vào các vấn đề rộng rãi đã được đề cập đến một cách xa xôi trong cuộc gặp gỡ tháng 6″ (M. M. McLlear: Sđd, tr.162-16 3.Xem thêm: Gioóc-giơ C. Hearing: Sđd Công cán của Xi-bo-nơ tại Hà Nội. Từ trang 4 đến trang 44) .

Về phần mình, Tổng thống L.B.Johnson cho rằng hai chuyến công cán của đại sứ Seaborn là những gợi ý hoà bình đầu tiên của mình và ông đã yêu cầu ông Seaborn thăm đó “cơ hội hoà bình”. Sau chuyến công cán thứ hai, ông viết trong hồi ký “Cuộc đời Tổng thống của tôi “:

“Hà Nội không quan tâm gì đến một giải pháp hoà bình hay một sự thoả hiệp nào. Họ đã đóng sầm cánh cửa đối với đề nghị hoà bình của Hoa Kỳ. Và sau chuyến công cán tháng 8 của ông Seaborn., họ càng đóng cánh cửa một cách gay gắt hơn” (L.B.Johnson: Cuộc đời Tổng thống của tôi, tiếng Pháp, Nhà xuất bản Buchet Chastel, Paris, 1972, tr. 91). 

Bộ Ngoại giao Mỹ nói đúng khi cho rằng Washington đã bỏ lỡ một thời cơ thương lượng, nhưng đã nói không đúng khi cho rằng nguyên nhân thất bại của chuyến công cán tháng 8 của đại sứ Seaborn là thời điểm, nghĩa là sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, vì đó là bằng chứng không thể chối cãi rằng sự kiện đó là nhằm chuẩn bị dư luận cho việc mở rộng và tăng cường chiến tranh.

Nhận xét của Tổng thống Johnson hoàn toàn không đúng sự thật, vì cái gọi là sự kiện Vịnh Bắc Bộ đã được xác minh là một sự kiện được dựng lên, một sự dối trá, nhiệm vụ giao cho đại sứ Seaborn tại Hà Nội sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ và cuộc ném bom ngày 5 tháng 8 thực chất chỉ là sự hăm doạ tăng cường chiến tranh, không thể gọi là một gợi ý hoà bình. Chính bom Mỹ đã bịt cánh cửa thương lượng với Hà Nội. 

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Trước khi chìm trong bóng tối của chiến tranh và bạo lực, Afghanistan từng là một quốc gia phát triển mạnh mẽ về văn hóa, giáo dục, thời trang và cơ sở hạ tầng. Đó từng là nơi mà phụ nữ được đi học, được làm việc và được ăn mặc theo sở thích của mình.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại

Hình ảnh những người phụ nữ Afghanistan năm 1940.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 1.

Cuộc sống ở Kabul vào những năm 1950 – 1970.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 2.

Năm 2016, trong số 23 triệu dân số ở Afghanistan, chỉ có 5% phụ nữ có thể đọc và viết. Nhưng Afghanistan không phải lúc nào cũng như vậy. Năm 1940, Afghanistan từng là mảnh đất có nền văn hóa rực rỡ và cơ hội dành cho tất cả mọi người.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 3.

Nơi đây có những công trình kiến trúc hiện đại. Khoa học và giáo dục phát triển mạnh, phụ nữ mặc váy, lái ô tô, được nghe nhạc và học đại học.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 4.

Những hình ảnh về Afghanistan cách đây hàng chục năm cho thấy Afghanistan từng phát triển như thế nào trước khi chìm vào bóng tối, bạo lực và chiến tranh như hiện nay.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 5.

Cách đây hơn nửa thế kỷ, phụ nữ ở Afghanistan có thể theo đuổi nghề y. Phụ nữ và đàn ông có thể tới rạp chiếu phim cùng nhau hay gặp nhau ở trường đại học.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 6.

Chính phủ Afghanistan vào thời điểm đó cũng thúc đẩy nhiều dự án lớn nhằm cải thiện các cơ sở hạ tầng quốc gia. Chẳng hạn, ngành cầu đường và xây dựng các nhà máy điện lớn đã phát triển mạnh. Mọi người đều tin rằng giáo dục sẽ đưa một đứa trẻ tới một tương lai tươi sáng.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 7.

Một cửa hàng băng đĩa ở Kabul năm 1960.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 8.

Một dàn hợp xướng ở Afghanistan.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 9.

Sân bay Kandahar hiện đại được xây dựng vào năm 1960.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 10.

Các tiếp viên hàng không của Afghanistan.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 11.

Kabul xinh đẹp và yên bình.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 12.

Thành phố Kabul hiện đại của năm 1960.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 13.

Đường phố Kabul cách đây hơn nửa thế kỷ.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 14.

Các du khách nước ngoài tại một điểm cắm trại ở Vườn Quốc gia Band-e-Amir.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 15.

Một con đường ở Afghanistan.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 16.

Các bà mẹ và những đứa trẻ ở một sân chơi dành cho trẻ em tại Afghanistan

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 17.

Sinh viên Đại học Kabul năm 1960.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 18.

Các cô gái đến trường học.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 19.

Những người phụ nữ Afghanistan xuống đường biểu tình năm 1980.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 20.

Một lớp học dành cho phụ nữ năm 1980.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 21.

Một lớp học ở Kabul năm 1960.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 22.

Một người phụ nữ Afghanistan đang làm việc.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 23.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 24.

Khoa Sinh học, Đại học Kabul ở Afghanistan.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 25.

Nhà thiết kế Safia Tarzi tại một studio của ông ở Kabul năm 1969. Thời trang của Afghanistan từng có ảnh hưởng với thế giới vào cuối những năm 1960.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 26.

Những người phụ nữ Afghanistan cách đây hơn nửa thế kỷ.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 27.

Năm 1969, tạp chí thời trang Vogue đã xuất bản một bài báo mang tên “Cuộc phiêu lưu ở Afghanistan” nói về những buổi trình diễn thời trang ở Kabul và sự thanh lịch của thành phố này.

Những hình ảnh khó tin cách đây hơn nửa thế kỷ về một Afghanistan tươi đẹp và hiện đại  - Ảnh 28.

Còn đây là hình ảnh quen thuộc về phụ nữ Afghanistan mà chúng ta thấy ngày nay.

PHẦN MỘT: CUỘC TIẾP XÚC BÍ MẬT VIỆT NAM – HOA KỲ TRƯỚC

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

PHẦN MỘT: CUỘC TIẾP XÚC BÍ MẬT VIỆT NAM – HOA KỲ TRƯỚC HỘI NGHỊ PARIS

CHƯƠNG 1 – DI SẢN CỦA BỐN ĐỜI TỔNG THỐNG

Tổng thống L.B. Johnson


Tổng thống L.B. Johnson đã quyết định tiến hành cuộc chiến tranh hạn chế ở miền Nam Việt Nam và cuộc chiến tranh bằng không quân ở miền Bắc Việt Nam. Đương nhiên ông phải chịu trách nhiệm về quyết định đó. Nhưng chịu trách nhiệm đưa nước Mỹ vào cuộc chiến tranh Việt Nam đâu phải chỉ có riêng ông. Còn phải kể các vị tiền nhiệm của ông, những người từng bước đã tăng cường sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam.

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, dù đã có mặt ở Phi-líp-pin từ năm 1898, nước Mỹ nói chung vẫn chấp nhận sự thống trị của Pháp ở Đông Dương. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa quân phiệt Nhật sụp đổ, chủ nghĩa thực dân Pháp thất bại, phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Dương giành những thắng lợi đầu tiên cơ bản. Nước Mỹ, kẻ chiến thắng chủ yếu trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, ngày càng chú ý đến tình hình Đông Dương. Với chủ trương “ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản”, bao vây Liên Xô và Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, sự chú ý đó ngày càng tăng, đã đưa nước Mỹ đến cuộc chiến tranh Triều Tiên kéo dài ba năm và sau đó dính líu ngày càng sâu vào Lào và Việt Nam.

Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt


Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt đã nhiều lần chê Pháp thực hiện một chính sách thực dân làm cho đời sống nhân dân các nước Đông Dương ngày càng tồi tệ hơn trước khi Pháp đến.


Trước triển vọng chiến thắng ba nước “Trục”, tại Hội nghị Yalta tháng 2 năm 1945, Roosevelt đưa ra đề nghị thiết lập sự uỷ trị ở Đông Dương dưới hình thức một hội đồng quản trị gồm đại biểu Pháp, đại biểu người Đông Dương, đại biểu Phi-líp-pin, đại biểu Trung Quốc, đại biểu Liên Xô. Nhưng đề nghị đó bị Anh phản đối và sau Hội nghị Yalta gần hai tháng, Roosevelt chết.

Tổng thống Harry Truman

Lên thay Roosevelt trong bối cảnh phong trào cách mạng sôi sục của những năm 1944 – 1945 ở Đông Á, Truman chủ yếu lo giúp chế độ Tưởng Giới Thạch, chống lại những thắng lợi trong cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Ông ta đã đồng ý để quân Tưởng Giới Thạch giải giáp quân Nhật ở Bắc Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở lên (quân Anh làm nhiệm vụ đó từ vĩ tuyến 16 trở xuống) với ý đồ giúp họ lật đổ Chính quyền nhân dân do Việt Minh dựng lên để đưa những phần tử thân Tưởng vào làm “những con ngựa thành Troie”. 

Nhưng do cuộc chiến tranh ở Trung Quốc ngày càng phát triển và sự kiểm soát của Việt Minh lan ra toàn quốc Việt Nam, Chính quyền Truman phải lùi một bước, chịu để thực dân Pháp trở lại Đông Dương. Giữa năm 1950, phái đoàn Cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) được đưa sang Việt Nam. Trong tài khoá năm 1954, viện trợ của Mỹ cho các cố gắng chiến tranh của Pháp ở Đông Dương tăng lên một tỷ đô-la. Phái đoàn MAAG đã có ba trăm bốn mươi hai sĩ quan và binh lính Mỹ.

Sau khi Hiệp định đình chiến ở Triều Tiên được ký ngày 26 tháng 7 năm 1954, Tổng thống Eisenhower lần đầu tiên chính thức trình bày thuyết Domino dự đoán Mianma, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a sẽ bị uy hiếp nếu cộng sản thắng ở Đông Dương. Cuộc chiến tranh Triều Tiên đã cho biết thế nào là một cuộc chiến tranh trên lục địa châu Á đối với Mỹ, dù Mỹ là một cường quốc hàng đầu, Chính quyền Eisenhower sợ một cuộc chiến tranh thứ hai với Trung Quốc, nhưng vẫn chủ trương răn đe và ngăn chặn Trung Quốc ở phía Đông Nam Á.

Tổng thống Dwight Roosevelt


Chính sách của Washington là đe doạ Trung Quốc, động viên và tìm cách giúp đỡ Pháp tiếp tục chiến tranh. Ngày 12 tháng 1 năm 1954, J.F.Dunes tuyên bố học thuyết “trả đũa ồ ạt”, hàm ý răn đe Trung Quốc. Tướng Paul Ely, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Pháp, được phái đi nắm tình hình Điện Biên Phủ sau khi Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đánh chiếm hai cứ điểm kiên cố ở ngoại vi phía Bắc của khu Trung tâm Điện Biên Phủ ngày 13 và 14 tháng 3 năm 1954. 

Sau đó, Paul Ely sang Washington yêu cầu Mỹ viện trợ bổ sung để tăng cường lực lượng không quân Pháp. Tổng thống Eisenhower phê chuẩn kế hoạch của đô đốc Radford, Chủ tịch Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, đề nghị Mỹ can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương, giúp Pháp cứu vãn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. 

Theo Radford, hai trăm máy bay của không quân Mỹ sẽ cất cánh từ các hàng không mẫu hạm đậu dọc bờ biển Việt Nam tấn công các căn cứ Quân đội Nhân dân Việt Nam nhằm ngăn chặn việc bao vây Điện Biên Phủ. Các máy bay hạng nặng đóng trên đất Phi-líp-pin sẽ phối hợp. Tán thành chủ trương không để Đông Dương rơi vào tay cộng sản, Tổng thống Eisenhower quyết định nếu không có cách nào khác để ngăn chặn điều đó, Mỹ sẽ can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương, nhưng chỉ can thiệp nếu có được hai điều kiện sau đây:

  1. Được sự ủng hộ của các nước Đồng minh, trước hết là Anh.
  2. Pháp phải trao hoàn toàn độc lập cho các nước Đông Dương.

Eisenhower còn tuyên bố nếu Quốc hội không tuyên chiến thì sẽ không can thiệp.

Đầu tháng 4 năm 1954, khi tướng Navarre báo cáo Điện Biên Phủ có thể mất nếu không có cuộc oanh tạc của không quân Mỹ, Chính phủ Pháp chính thức yêu cầu Mỹ can thiệp, nhưng Washington đã quyết định không can thiệp. Dunes muốn thuyết phục Pháp tiếp tục chiến đấu với một liên minh chống cộng do Mỹ cầm đầu, nghĩa là ông ta muốn quốc tế hoá cuộc chiến tranh Đông Dương. Ý ông ta là lôi kéo Anh, Pháp, Australia, New Zeeland, Thái Lan, Phi-líp-pin, Campuchia, Lào phối hợp với Mỹ và Chính phủ Bảo Đại trong một hành động thống nhất để giữ Đông Dương không rơi vào tay cộng sản. Anh sợ rằng một hành động như vậy sẽ làm hỏng thời cơ đem lại hoà bình ở Hội nghị Genève (từ tháng 2 năm 1954, bốn nước lớn: Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô họp tại Berlin đã thoả thuận sẽ có một Hội nghị Quốc tế về Đông Dương).


Mặc dầu sự phản đối kiên quyết của Anh, một số quan chức Mỹ vẫn còn muốn can thiệp bằng không quân và hải quân Mỹ vào chiến tranh Đông Dương với điều kiện là các Cố vấn Mỹ ở Việt Nam phải được giữ trách nhiệm to lớn trong việc huấn luyện các lực lượng của Chính phủ thân Pháp và được chia sẻ trách nhiệm trong việc vạch kế hoạch quân sự “với người Pháp”. Tuy không muốn kéo dài chiến tranh, Pháp cũng không muốn chia sẻ trách nhiệm với Mỹ.

Chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954, Pháp đại bại ở Điện Biên Phủ.

Ngày 8 tháng 5, Hội nghị Genève về Đông Dương khai mạc. Từ ngày 24 đến ngày 29 tháng 6, Eisenhower và Dunes đã có cuộc họp quan trọng với Churchin và Eden tại Washington. Họ đã thoả thuận về một kế hoạch giải quyết chiến tranh Đông Dương: ngừng bắn ở Đông Dương, lực lượng Việt Nam rút khỏi Lào và Campuchia; ít nhất phải giữ nửa Nam Việt Nam, không loại trừ khả năng thống nhất Việt Nam bằng biện pháp hoà bình; có một Uỷ ban Quốc tế để giám sát việc thi hành hiệp nghị. Pháp được thông báo về kết quả đó và cũng đồng ý. Về kế hoạch sau khi hiệp nghị được ký kết, Mỹ làm áp lực để chính phủ Bảo Đại chấp nhận Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng (cũng trong tháng 6 này) mà Ngô Đình Diệm thì ai cũng rõ là con bài mà Mỹ đã dự trữ từ lâu. Mặt khác, từ tháng 7, Dunes tích cực vận động thành lập khối liên minh phòng thủ Đông Nam Á.

Tướng Henri-Eugene Navarre

Vào những giờ đầu của ngày 21 tháng 7, các hiệp nghị đình chỉ chiến sự riêng về mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia được ký kết. Về Việt Nam, hiệp nghị quy định nước Việt Nam tạm thời chia làm hai miền lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời, giữa hai miền có một khu phi quân sự ở hai bên vĩ tuyến 17. Miền Bắc Việt Nam do Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quản lý, miền Nam Việt Nam do Quốc gia Việt Nam quản lý. Trong vòng ba trăm ngày, các lực lượng kháng chiến sẽ rút về Bắc Việt Nam, các lực lượng dưới sự chỉ huy của Pháp sẽ rời Bắc Việt Nam để vào miền Nam. Dân thường được phép đi lại giữa hai miền Việt Nam trong ba trăm ngày đầu của Hiệp nghị đình chỉ chiến sự. Không bên nào được phép tăng cường lực lượng quân sự trong khu vực mình quản lý hoặc cho phép nước ngoài thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ mình. Một Uỷ ban Quốc tế gồm đại diện Ấn Độ, Ba Lan, Canađa (do Ấn Độ làm chủ tịch) sẽ giám sát và kiểm soát việc thực hiện hiệp nghị đình chỉ chiến sự. Ở Campuchia không có chia cắt, lực lượng kháng chiến Khơ-me không có khu vực riêng. Ở Lào, lực lượng kháng chiến rút về hai tỉnh Phông Xa Lỳ và Sầm Nưa trong khi chờ đợi tổ chức tổng tuyển cử trong phạm vi cả nước. Quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Campuchia và Lào. Ở mỗi nước đó cũng có một Uỷ ban Quốc tế giám sát và kiểm soát riêng, với thành phần như ở Việt Nam.

Cùng ngày 21, Hội nghị Genève thông qua bản Tuyên bố cuối cùng công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, Lào và Campuchia: độc lập, chủ quyển, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Về việt Nam, bản tuyên bố khẳng định việc chia cắt chỉ là tạm thời và hai miền Bắc-nam sẽ được thống nhất sau khi có một Chính phủ được bầu ra bằng tổng tuyển cử tự do tổ chức dưới sự giám sát của Uỷ ban Quốc tế. Việc chuẩn bị tổng tuyển cử sẽ do nhà đương cục có thẩm quyền hai miền tiến hành một năm sau hiệp nghị đình chỉ chiến sự. Cuộc bầu cử chính thức sẽ được tổ chức vào tháng 7 năm 1956.

Mỹ ra một tuyên bố riêng, chấp nhận mười hai trong số mười ba điều của tuyên bố cuối cùng, tức là chấp nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia, chấp nhận nước Việt Nam sẽ được thống nhất bằng tổng tuyển cử tự do năm 1956. Điều cuối cùng của tuyên bố mà Mỹ có ý kiến khác là cách xử lý khi có vi phạm Hiệp nghị ngừng bắn.

Chính trong lúc đại diện Mỹ tuyên bố tại Hội nghị Genève rằng Hoa Kỳ sẽ không xâm phạm đến việc thi hành Hiệp nghị Genève vừa được ký kết, bằng vũ lực hay đe doạ dùng vũ lực, Tổng thống Eisenhower tuyên bố trắng ra rằng: “Bản thân Hoa Kỳ đã không phải là một bên đương sự trong các quyết định tại Hội nghị và không bị các quyết định đó ràng buộc” (Tài liệu Lầu Năm Góc, Thượng nghị sĩ M. Graven xuất bản, Bi-cơn Trét, Boston, tập 1, tr. 605.).

Mặt khác, ngày 8 tháng 9 năm 1954, chưa đầy hai tháng sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Mỹ đã cùng Anh, Pháp, Australia, New Zeeland, Phi-líp-pin, Thái Lan, Pa-ki-xtan ký Hiệp ước Manila thành lập khối SEATO, trong đó các nước ký kết “Hành động để đối phó với nguy cơ chung, phù hợp với các tiến trình hợp hiến” trong trường hợp một trong số các nước này bị vũ trang xâm lược. Hiệp ước quy định một khu vực bảo hộ của nó, bao gồm toàn bộ lãnh thổ của các nước châu Á tham gia Hiệp ước, mở rộng sự bảo hộ tới Campuchia, Lào và Việt Nam. Sau này Vương quốc Campuchia và Vương quốc Lào đều bác bỏ sự bảo hộ đó.

Ngày 1 tháng 10 năm 1954, Tổng thống Eisenhower gửi cho Ngô Đình Diệm một công hàm (được công bố ngày 23 tháng 10 năm 1954) cam kết sự ủng hộ hoàn toàn và sự viện trợ của Hoa Kỳ đối với Nam Việt Nam.

 Đây là cơ sở pháp lý và chính trị của sự dính líu của Hoa Kỳ đối với Nam Việt Nam. Ý nghĩa lớn không che giấu của nó là Mỹ ủng hộ hoàn toàn một Chính phủ chống cộng ở miền Nam Việt Nam. Tác dụng trước mắt của nó là cảnh cáo các lực lượng thân Pháp, các giáo phái rằng Ngô Đình Diệm đã được Washington chọn làm công cụ của chính sách của Mỹ.

Về phía mình, Ngô Đình Diệm đã biết công khai đáp lại cam kết của Mỹ bằng lời tuyên bố nổi tiếng: “Biên giới của Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17″.

Tướng Lowton Conins được Eisenhower cử làm đại sứ đặc biệt với những quyền hạn rất rộng để phối hợp các hoạt động của các tổ chức Mỹ ở miền Nam (phái đoàn viện trợ quân sự MAAG, phái đoàn viện trợ kinh tế USOM, phái đoàn hành chính Michigan), thực hiện kế hoạch loại trừ ảnh hưởng của Pháp, kể cả Hoàng đế Bảo Đại, giành lấy trách nhiệm về quân sự ở miền Nam Việt Nam.

Trong khuôn khổ nhiệm vụ đó, ngày 13 tháng 12 năm 1954, Conins đã ký với tướng Paul Ely, cao uỷ Pháp ở miền Nam Việt Nam một hiệp ước quy định Mỹ thay thế Pháp về mặt quân sự ở miền Nam Việt Nam. Quân đội Sài Gòn được giảm từ hai trăm bảy mươi nghìn người xuống chín mươi nghìn người (để giảm những lực lượng thân Pháp) trước khi xây dựng những đơn vị mới mà Mỹ kiểm soát được. Pháp phải giảm quân đội viễn chinh của họ ở miền Nam từ một trăm năm mươi nghìn người xuống ba mươi nghìn người. Tháng 4 năm 1956, Pháp tuyên bố rút khỏi Đông Dương, mặc dầu về pháp lý họ vẫn còn trách nhiệm đối với Hiệp nghị Genève.

Ngô Đình Diệm không chịu đáp ứng các đề nghị của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về việc tổ chức cuộc tổng tuyển cử theo quy định của Hiệp nghị Genève năm 1954 để thống nhất nước Việt Nam, thậm chí khước từ cả việc lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền về kinh tế, văn hoá. Diệm tổ chức tuyển cử riêng rẽ, dựng lên ở miền Nam Việt Nam một Quốc gia riêng biệt gọi là Việt Nam Cộng hoà.

Với chính sách từ bỏ Đông Dương của Pháp và sự thất bại của các lực lượng thân Pháp ở miền Nam Việt Nam, Tổng thống Eisenhower có nhiều lý do để tuyên bố trong cuộc vận động bầu cử năm 1956 rằng thế giới tự do đã có “một chỗ đứng vừng chắc” ở Đông Dương và các nước không cộng sản tại đây đang được đặt dưới sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn” (Peter Pooler. Nước Mỹ và Đông Dương từ Roosevelt đến Nixon. Nhà xuất bản Thông tin lý luận, Hà Nội, 1986, tr. 71.) 

Sự thật là với sự ủng hộ mạnh mẽ đãnh cho Ngô Đình Diệm, Eisenhower đang đưa miền Nam Việt Nam vào một cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng. 

Ngay sau khi Hiệp nghị Genève có hiệu lực và mặc dầu chưa kiểm soát được hoàn toàn miền Nam Việt Nam, Chính quyền Ngô Đình Diệm đã thẳng tay đàn áp các cuộc biểu tình hoan nghênh đình chiến và thống nhất đất nước, bắt bớ và giam cầm những người yêu nước, yêu hoà bình. Sau khi đã củng cố chính quyền, nhất là sau khi khước từ tổng tuyển cử tự do trong phạm vi cả nước và biến miền Nam thành một Quốc gia riêng biệt, chống cộng, thì họ thi hành ráo riết chính sách trả thù những người kháng chiến cũ – một chính sách được nâng lên thành quốc sách.

Chính sách tàn bạo đó làm dấy lên phong trào đấu tranh ngày càng mạnh của đồng bào miền Nam. Ngày 20 tháng 12 năm 1960, những người yêu nước ở miền Nam thuộc những xu hướng chính trị, những tôn giáo khác nhau đã thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam với cương lĩnh hoà bình, độc lập dân chủ, trung lập. Nhiều vùng nông thôn rộng được giải phóng. Các tầng lớp nhân dân ở thành thị ngày càng bất bình. Thế của Chính quyền Ngô Đình Diệm ngày càng lung lay.

Khi Eisenhower rời Nhà trắng năm 1960, ông đã để lại cho Tổng thống Kennedy một gánh nặng, một bài toán nan giải ở miền Nam Việt Nam. Nói đúng ra, Eisenhower đã để lại hai gánh nặng: vấn đề miền Nam Việt Nam và vấn đề Lào. 

Đối với Kennedy cũng như đối với người tiền nhiệm của ông, vấn dề Lào là vấn đề an ninh của Thái Lan theo thuyết đôminô. Từ khi lực lượng cánh hữu làm đảo chính lật đổ thủ tướng trung lập Souvanna Phouma, tình hình Vương quốc Lào càng rõ. Quân trung lập của tướng Song Le phối hợp với quân Pathét Lào đánh bại quân của tướng Phu Mi Nô Sa Văn, uy hiếp Luông Prabang, Viên Chăn. 

Lầu Năm Góc muốn Mỹ can thiệp mạnh hơn nữa vào Lào, nhưng Tổng thống Kennedy tán thành tham dự một Hội nghị quốc tế nhằm bảo đảm nền trung lập của Lào. Hội nghị Genève về Lào khai mạc ngày 16 tháng 5 năm 1961 phải kéo dài vì ba hoàng thân Lào không thoả thuận được với nhau về việc lập Chính phủ liên hiệp ba phái.Việc Pa thét Lào đánh chiếm Nậm Thà được coi như một Điện Biên Phủ của nước Lào buộc Mỹ phải gây sức ép với phái hữu để giải quyết cho xong việc lập Chính phủ liên hiệp, mặc dầu Mỹ đưa năm nghìn quân chiến đấu Mỹ vào Thái Lan và đưa hạm đội 7 vào Vịnh Thái Lan. Cuộc khủng hoảng ở Lào chỉ là tạm thời giải quyết vì sau khi ngoại trưởng trung lập Quinim Pholsena bị lực lượng thân Mỹ ám sát, nước Lào lại rơi vào một cuộc xung đột mới.

Trong khi đó, Kennedy đứng trước một miền Nam Việt Nam đang rung chuyển cả về quân sự và chính trị, ông đề ra chủ trương đưa một lực lượng đặc biệt “chống nổi dậy” và một trăm cố vấn quân sự sang miền Nam Việt Nam để ngăn chặn cộng sản thống trị miền Nam Việt Nam. Mặc dầu được CIA báo cáo rằng từ tám mươi đến chín mươi phần trăm số Việt cộng ở miền Nam được tuyển lựa ở địa phương và hầu hết vũ khí của họ là do họ tự kiếm lấy, Kennedy cuối cùng lựa chọn kiểu “chiến tranh đặc biệt” với công thức vũ khí và chỉ huy Mỹ cộng với quân đội Sài Gòn. Kế hoạch Stanley-Taylor mà ông phê chuẩn bao gồm ba giai đoạn:

1. Bình định miền Nam Việt Nam trong mười tám tháng, xây dựng các cơ sở ở miền Bắc Việt Nam.

2. Tăng cường quân sự, khôi phục kinh tế ở miền Nam Việt Nam và tăng cường các hành động phá hoại ở miền Bắc Việt Nam.

3. Phát triển kinh tế miền Nam Việt Nam và tấn công miền Bắc Việt Nam.

Về quân sự, Washington lập một Bộ chỉ huy tác chiến ở Sài Gòn giao cho tướng Paul D.Harkin phụ trách. Từ chín trăm bốn mươi tám người tháng 11 năm 1961, số cố vấn quân sự tăng lên hai nghìn sáu trăm người tháng 1 năm 1962 và mười một nghìn ba trăm người tháng 12 năm 1962. Trong năm tài chính bắt đầu từ tháng 7 năm 1961, viện trợ tăng lên hai trăm tám mươi bảy triệu đô-la so với hai trăm lẻ chín triệu đô-la năm trước. Năm 1963 viện trợ ba trăm bảy mươi sáu triệu đô-la. 

Về chính trị, các cố vấn Mỹ giúp Ngô Đình Diệm xây dựng hệ thống ấp chiến lược mà mục đích quân sự là cắt nguồn tiếp tế và nguồn tuyển quân của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và mục đích chính trị là kiểm soát chặt chẽ người dân. Chính quyền Ngô Đình Diệm dự định đưa hai phần ba số dân nông thôn vào ấp chiến lược và thực tế đã đưa được ba mươi ba phần trăm số đó vào tháng 10 năm 1962. Mỗi “ấp chiến lược” thật ra là một trại tập trung với hệ thống đồn bất và lớp lớp dây thép gai chung quanh. Chính sách ‘ấp chiến lược” gieo rắc căm giận vào lòng người dân chỉ mong muốn làm ăn yên ổn và càng thúc đẩy họ nghe theo tiếng gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Đến năm 1963, “chiến tranh đắc biệt” đã bị thất bại. Chính quyền Sài Gòn vẫn không kiểm soát được nông thôn miền Nam

Trong khi đó, ở Sài Gòn và các thành thị lớn khác nhiều nhóm chính trị đấu tranh đòi dân chủ, hoà bình và trung lập. Những phát súng mà quân đội Diệm nổ vào những Phật tử không vũ trang biểu tình hoà bình ở Huế ngày 8 tháng 5 năm 1963 đã làm cho sự chống đối của cộng đồng Phật tử ở miền Nam bùng nổ với sức mạnh không gì ngăn cản nổi. Yêu sách của họ không có gì quá đáng: nếu những người Thiên chúa giáo được trương cờ tôn giáo trong buổi lễ của họ thì những Phật tử cũng được phép trương cờ Phật giáo như thế. 

Phong trào phản đối Diệm – Nhu phân biệt tôn giáo, giết hại Phật tử bùng cháy như một vệt thuốc súng từ Huế đến Sài Gòn và các tỉnh khác, nhanh chóng được các tầng lớp nhân dân rộng rãi ủng hộ, trước hết là sinh viên. Thượng toạ Thích Quảng Đức tự thiêu ngày 10 tháng 6 năm 1963 châm lửa không phải chỉ vào thể xác mình mà vào cả một thùng thuốc súng, làm rung chuyển xã hội miền Nam Việt Nam và kích động phong trào phản chiến ở ngay nước Mỹ.

Nói cho đúng, Kennedy không tán thành việc đàn áp Phật tử của Ngô Đình Diệm nhất là sau này vào tháng 8 các đơn vị quân sự của Diệm đã tấn công vào các chùa lớn ở miền Nam và bắt giam hàng trăm nhà sư, kể cả những người lãnh đạo phong trào phản đối. Ở nhiều nơi, Phật tử đã cầm súng chống lại quân đội. Ngô Đình Diệm không chịu hoà giải với những Phật tử. Đại sứ Cabot Lodge, một nhà ngoại giao sành sỏi, đã từng là ứng cử viên Phó Tổng thống của Đảng Cộng hoà năm 1960, được cử sang thay đại sứ Nolting với những quyền hạn rộng rãi để đối phó với cuộc khủng hoảng. Ông ta cũng không thuyết phục được Diệm thay đổi chính sách và cuối cùng đã ủng hộ cuộc đảo chính của Dương Văn Minh, đưa đến cái chết của anh em Diệm – Nhu ngày 2 tháng 11 năm 1963.

Ngay từ ngày 12 tháng 12 năm 1961, Tổng thống Kennedy tuyên bố với các nhà báo: “Chúng ta không thấy đoạn cuối của đường hầm nhưng tôi phải nói rằng tôi không nghĩ là nó đen tối hơn so với năm trước, mà có phần sáng sủa hơn” (Pi-tơ A.Pu-lơ. Sđd, tr. 116.) 

Nhưng việc ủng hộ nhóm đảo chính Dương Văn Minh và việc lật đổ tập đoàn Diệm – Nhu (mà lúc đầu Kennedy đã hết sức giúp đỡ) đã không mang lại sự thay đổi nào trong tình hình miền NamViệt Nam như ông mong muốn. Ngược lại, nó chỉ làm cho tình hình trầm trọng thêm, bế tắc hơn. Chưa tìm được giải pháp cho cuộc khủng hoảng toàn diện ở miền Nam Việt Nam sau cái chết của Diệm – Nhu, Kennedy chỉ biết tiếp tục các cố gắng quân sự cho đến khi, hai mươi ngày sau cái chết đó, ông bị ám sát tại Dalas.

Thất bại trong chính sách ủng hộ Ngô Đình Diệm và chiến tranh đặc biệt, Kennedy đã để lại cho Phó Tổng thống L.B.Johnson, người thay thế ông nắm quyền tối cao của nước Mỹ một miền Nam đen tối hơn cuối năm 1961, với những thất bại mới trên chiến trường, những rắc rồi mới trong tình hình chính trị ở Sài Gòn. Nhà Trắng, Bộ Ngoại giao, Lầu Năm Góc tranh cãi ráo riết về một sự lựa chọn, về kế hoạch sắp tới ở miền Nam Việt Nam, hoặc đúng hơn là ở Việt Nam và Lào. Nhưng tất cả đều bối rối, dù họ là “diều hâu” hay “bồ câu”

Nhận xét tình hình đó, hãng UPI ngày 7 tháng 3 năm 1964 viết: “Vấn đề không còn phải là xem xét có phải là ta đang thua cuộc chiến tranh hay không, mà là xem xét Hoa Kỳ và Nam Việt Nam đang thua cuộc chiến tranh với tốc độ nào và liệu còn có một hy vọng mỏng manh nào đế cứu vãn tình hình không” (Vụ thông tin báo chí Bộ Ngoại giao Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà: Hai mươi năm can thiệp và xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, tiếng Pháp, Hà Nội, 1965.).

Đương nhiên, Tổng thống mới của nước Mỹ, với những trách nhiệm cao cả của mình, không thể dễ dàng đồng tình ngay với nhận xét đó. Ông còn phải đánh giá lại tình hình miền Nam Việt Nam và tình hình Đông Dương nói chung, xét duyệt tất cả các phương án của các cố vấn quân sự và dân sự, cân nhắc tác động đối nội và đối ngoại của mỗi sự lựa chọn có thể có, thăm đó Quốc hội và tranh thủ sự đồng tình của Quốc hội, thăm dò đồng minh Trung Quốc và các đối thủ trực tiếp của mình là Bắc Việt Nam.

Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Paris

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

SaoVang:

Tên sách: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Paris
Tác giả: Lưu Văn Lợi – Nguyễn Anh Vũ
Nhà xuất bản: Công an Nhân dân
Năm xuất bản: 2002

“Cuộc chống Mỹ, cúu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”.
Trích Di chúc của Chủ tịch HỒ CHÍ MINH


LỜI TỰA CHO LẦN TÁI BẢN

Các Cuộc Thương Lượng Lê Đức Thọ - Kissinger Tại Paris PDF/Ebook

Chúng tôi đã xuất bản cuốn “Tiếp xúc bí mật Việt Nam – Hoa Kỳ” trước Hội nghị Paris (năm 1990, tái bản năm 2000) và cuốn “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Paris” (năm 1996). Theo yêu cầu của nhiều bạn trong và ngoài nước, nay chúng tôi tái bản hai cuốn thành một tập duy nhất với những bổ sung cần thiết để người đọc có thể có bức tranh liên hoàn của quá trình chuyến biến ngoại giao từ chiến tranh sang hoà bình ở Việt Nam. Cuộc chiến tranh đến nay đã kết thúc gần ba mươi năm, mộ các chiến sĩ đã xanh bất chấp lòng người chưa vơi bớt nhớ thương.

Trong thời gian đó, ông Mac Namara, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng của Tổng thống L.B. Johnson, suy nghĩ ngày đêm để tìm xem có cơ hội hoà bình nào ở Việt Nam bị bỏ lỡ hay không. Ông bà cùng nhiều tướng tá Mỹ đã tham chiến ở Việt Nam và nhiều nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu Mỹ sang Việt Nam trao đổi ý kiến với các cựu đối thủ của họ với lòng mong muốn cùng nhau tìm sự xác nhận rằng bên này hay bên kia đã bỏ lỡ những cơ hội kết thúc cuộc chiến tranh. Là người cùng dự hội thảo với họ, tôi thấy họ đã phân tích mọi tài liệu có thể có, lật đi lật lại các vấn đề, xem xét mọi khía cạnh trong những cuộc tranh luận cởi mở, thẳng thắn. Rất tiếc, sau nhiều cuộc gặp nhau, các nhà nghiên cứu Mỹ đi đến kết luận “tranh cãi không cùng” (argument without end).

Vấn đề đúng là phức tạp, lô-gích của người Việt Nam và lô-gích của người Mỹ dùng là khác nhau, nhưng chỉ có một sự thật,sao mà khó tìm thế.

 Chúng tôi nghĩ như mọi người rằng chiến tranh là chiến tranh và nó có quy luật của nó. Khi Johnson quyết định đưa lính Mỹ sang trực tiếp chiến đấu ở miền Nam Việt Nam và cho máy bay Mỹ trực tiếp ném bom miền Bắc Việt Nam, ông tuyên bố tại Baltimore “sẵn sàng thương lượng không điều kiện” với Hà Nội, hay khi ông quyết định đưa 500.000 quân Mỹ sang miền Nam Việt Nam, ông mở chiến dịch ngoại giao lớn nhất trong nhiệm kỳ Tổng thống của ông, có phải ông thật sự muốn chấm dứt chiến tranh không? Trước Chúa, chắc ông cũng không dám nói thật, địch thủ của ông làm sao tin được. Nhưng dư luận Mỹ cũng như dư luận thế giới cũng hiểu rằng ông cần tỏ thiện chí hoà bình đế che giấu ý đồ mở rộng chiến tranh ở Việt Nam sau khi “chiến tranh đặc biệt” thất bại. 

Khi chiến tranh lớn bắt đầu giữa nước Việt Nam nhỏ bé và lạc hậu và nước Mỹ siêu cường hùng mạnh, so sánh lực lượng nghiêng hẳn về phía Mỹ và người ta gọi đó là cuộc đấu tranh giữa David và Goliath của thế kỷ. Tất nhiên nhân dân Việt Nam phải chống lại xâm lược bằng mọi khả năng, kể cả việc tập hợp lực lượng hoà bình thế giới và Mỹ đồng tình và ủng hộ với cuộc chiến đấu tự vệ chính đáng của mình và khi đó tất nhiên họ không thể tin những “sáng kiến hoà bình” của Nhà trắng. Bất cứ ở đâu và bất cứ thời nào khi chiến tranh mới nổ ra, tất cả các bên tham chiến đều tìm thêm đồng minh, tranh thủ thêm sự đồng tình làm cho so sánh lực lượng thay đổi có lợi cho mình, đó là điều tất nhiên, là nhu cầu cần thiết vì như một tướng Mỹ đã nói “trong chiến tranh không gì thay thế được chiến thắng”. Nhưng cao quý hơn, đúng ra là tối cần thiết hơn chiến thắng là hoà bình, hoà bình giữa các Quốc gia, hữu nghị giữa các dân tộc. Khát vọng hoà bình của con người sâu sắc đến mức người ta cho rằng “một nền hoà bình tồi còn tốt hơn chiến tranh.

Người ta có lý do, có thể nói bằng chứng, rằng trong những năm 60 thế kỷ trước, những người cầm quyền ở Mỹ luôn nói hoà bình nhưng khi hoà bình nằm trong tầm tay họ thì họ lại vứt bỏ. Hiệp định Genève năm 1954 nhằm chấm dứt chiến tranh Đông Dương hoàn toàn phù hợp với giải pháp bảy điểm mà Tổng thống Eisenhower đã thoả thuận với Thủ tướng Churchin ngày 29 tháng 6 năm 1954 nhưng ngày 23 tháng 10 năm 1954 chính Eisenhower lại gửi thư cho Ngô Đình Diệm báo rằng Mỹ sẽ cung cấp viện trợ kinh tế và quân sự cho Ngô Đình Diệm, Chính phủ và quân đội của ông ta để xây dựng miền Nam Việt Nam thành một Quốc gia độc lập và chống cộng.

 Năm 1962, Mỹ ký Hiệp định Genève về trung lập của Vương quốc Lào nhưng ngay sau đó lại bác bỏ một đề nghị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam về việc chấm dứt chiến tranh và đưa miền Nam Việt Nam vào con đường hoà bình trung lập theo mô hình Lào. Một lần nữa, Washington đã bác bỏ một giải pháp mà chính họ đã chấp nhận. Chẳng phải đó là hai cơ hội hoà bình mà Mỹ đã bỏ lỡ đó sao?

 
Từ thực tế đó người ta buộc phải đặt câu hỏi họ muốn gì, hoà bình hay chiến tranh, khi họ nói thiện chí hoà bình. Chỉ kể từ Westphalie, cái gì bảo đảm hoà bình giữa các Quốc gia, từ khi có Liên Hiệp Quốc cái gì bảo đảm an ninh thế giới? Ai cũng hiểu rằng đó là sự tôn trọng chủ quyền của các Quốc gia, đó là sự từ bỏ sử dụng vũ lực trong quan hệ giữa các Quốc gia. Ông Mac Namara muốn chấm dứt chiến tranh nhưng quyền tiếp tục hay chấm dứt chiến tranh nằm trong tay Tổng thống Johnson, việc ông rời bỏ Lầu Năm Góc là chuyện dễ hiểu. Mà chừng nào ông Johnson còn ảo tưởng chặn được chủ nghĩa cộng sản ở vĩ tuyến 17 Việt Nam thì ông còn chưa chịu xem xét mọi cơ hội hoà bình ở Việt Nam. Ngay ông Nixon đã ở trong tình thế phải chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, chịu rút quân Mỹ về nước rồi mà vẫn còn muốn duy trì Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu để Thiệu tiếp tục chiến tranh với vũ khí và Cố vấn Mỹ. Rõ ràng chừng nào những người cầm quyền Mỹ còn nghĩ có thể chiến thắng Việt cộng thì không làm gì có cơ hội hoà bình trừ trường hợp Việt cộng chịu chấm dứt chiến tranh theo điều kiện của Mỹ.

Cái gốc của vấn đề không phải là có hay không có cơ hội hoà bình, là chấp nhận hay khước từ cơ hội, mà là tôn trọng hay không tôn trọng chủ quyền của nhau, là sử dụng hay không sử dụng vũ lực trong quan hệ với nhau, đơn giản là tôn trọng hay không tôn trọng hoà bình, an ninh thế giới.

Có người Mỹ đã nhắc đến bài thơ của thi sĩ Samuel Taylor Coleridge về người thuỷ thủ già giết con hải âu, con chim thành kính mang điềm lành tới người đi biển, để rồi con tàu gặp không biết bao nhiêu gian nan, hiểm hoạ. Đó chính là bài học của chiến tranh Việt Nam về xử lý quan hệ ngoại giao giữa các Quốc gia.

Việc tìm kiếm hoà bình ở Việt Nam đã kéo dài, đầy khó khăn và trở ngại. Nhưng

“Đến khi kết thúc mọi sự tìm kiếm Ta sẽ tới nơi mà chúng ta đã bắt đầu.”
T.S. Eliot

Cuối cùng chiến tranh đã chấm dứt ở Việt Nam. Chúng ta vui mừng là hai nước đã khép lại quá khứ, ra sức lấp bằng cái hố ngăn cách mà chiến tranh đã khơi ra, bình thường hoá quan hệ với nhau. Một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên hữu nghị và hợp tác, bắt đầu vì hoà bình và phát triển.

Hà Nội, mùa Xuân năm 2002

Lưu Văn Lợi

Tuyên Ngôn Độc Lập VNDCCH

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

 Bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam được Hồ Chí Minh soạn thảo, và đọc trước công chúng tại vườn hoa Ba Đình (nay là quảng trường Ba Đình) ngày 2 tháng 9 năm 1945. Đây được nhiều người xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ ba của lịch sử Việt Nam, sau bài thơ thần Nam quốc sơn hà ở thế kỷ X và Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi viết năm 1428.

Lịch sử

Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp từ giữa thế kỷ 19. Trong Chiến tranh thế giới thứ haiĐế quốc Nhật Bản đã thay Pháp chiếm đóng Việt Nam từ năm 1940. Khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh giữa năm 1945, Việt Minh có cơ hội lớn để chiến thắng. Cơ hội này đã được Việt Minh tận dụng.

Sáng ngày 26 tháng 8 năm 1945, tại ngôi nhà số 48 Hàng NgangHà Nội, Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong số các quyết định của cuộc họp này, Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ Lâm thời ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 30 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh mời một số người đến góp ý cho bản Tuyên ngôn độc lập do ông soạn thảo.[5]31 tháng 8 năm 1945, ông bổ sung thêm cho dự thảo Tuyên ngôn độc lập[5] và đến 2 tháng 9 năm 1945, ông đọc bản Tuyên ngôn độc lập trong cuộc mít tinh trước hàng chục vạn quần chúng, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cuối tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh lo chuyện tác động đến các lãnh đạo của phe Đồng Minh theo hướng công nhận nền độc lập của Việt Nam, cũng như chuyện ông phải nắm quyền lực nhà nước hoặc phải tự thể hiện bản thân như là biểu tượng dân tộc của sự thống nhất và tự quyết. Hồ Chí Minh đã lựa chọn một cách tiếp cận hoàn toàn khác với các vua, chúa trước đây của Việt Nam khi ông trực tiếp đọc bản Tuyên ngôn chứ không cần thông qua bên bên trung gian nào đó. Điều này cũng khác hẳn với Đế quốc Việt Nam, bên đã không triệu tập một buổi đọc bản Tuyên ngôn độc lập có sự tham gia của quần chúng. Còn lễ thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại, cựu hoàng dường như không được mời nói chuyện trước công chúng cho đến lúc đọc lời tuyên bố thoái vị đầy cảm xúc trước đám đông ở cổng Ngọ Môn tại Huế vào ngày 30 tháng Tám. Cái cách Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn cũng phảng phất nét tương đồng với không khí lộng lẫy và hoành tráng của các buổi lễ chính trị tại Tây Âu, Hoa Kỳ và Liên Xô. Hồ Chí Minh đã lựa chọn quảng trường Puginier, sau này được gọi là quảng trường Ba Đình, một nơi rộng rãi không bị các chướng ngại vật che khuất tầm nhìn nhằm đủ chỗ chứa lượng khán thính giả càng nhiều càng tốt dù chỉ có vài ngày thông báo. Đối với đồng bào Công giáo, ngày hôm đó cũng là ngày “Lễ hội những người tử vì đạo Việt Nam” của Công giáo, tưởng niệm những người đã chết vì đức tin của mình, đặc biệt vào thế kỉ 19, nên các nhà thờ ở Hà Nội buổi sáng đó tràn ngập người tham dự thánh lễ. Việc lựa chọn ngày 02/09 của Hồ Chí Minh còn nhằm gắn kết chính quyền mới với phía Giáo hội Thiên chúa giáo. Các linh mục sau buổi lễ của mình đã cùng các con chiến hướng về Quảng trường Ba Đình để tham dự buổi lễ. Những nhà sư trụ trì ở những ngôi chùa cũng làm tương tự vậy. Các giáo viên trang bị còi hay loa dẫn đầu đám trẻ con hát những bài ca cách mạng. Đám thanh niên đặc biệt chú ý đến cách những lá quốc kì đỏ rực mà những nhóm thiếu nữ đang cầm tương phản với những chiếc áo dài trắng tinh khôi. 

Nội dung bản tuyên ngôn 

Bản tuyên ngôn gồm 3 phần:

  • Phần 1: Cơ sở pháp lý của bản tuyên ngôn.
  • Phần 2: Cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn.
  • Phần 3: Lời tuyên bố độc lập.

Toàn văn bản tuyên ngôn 

Hỡi đồng bào cả nước,Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!Vì những lẽ trên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Những người ký tên gồm: Hồ Chí Minh (chủ tịch), Trần Huy LiệuVõ Nguyên GiápChu Văn TấnDương Đức HiềnNguyễn Văn TốNguyễn Mạnh HàCù Huy CậnPhạm Ngọc ThạchNguyễn Văn XuânVũ Trọng KhánhPhạm Văn ĐồngĐào Trọng KimVũ Đình HòeLê Văn Hiến.

Diễn biến ngày 02 tháng 9 năm 1945 

Theo tường thuật của nhà báo Hồng Hà, báo Cứu quốc của Việt Minh, ông Nguyễn Hữu Đang đọc chương trình buổi lễ và giới thiệu Chính phủ lâm thời, chủ tịch Chính phủ đọc Tuyên ngôn độc lập, các thành viên Chính phủ tuyên thệ, ông Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng Bộ Nội vụ giãi bày tình hình trong nước và nhiệm vụ của Chính phủ, ông Trần Huy Liệu tường trình vào Huế nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại, ông Nguyễn Lương Bằng đại biểu của Tổng bộ Việt Minh thuật qua lại cuộc tranh đấu của Việt Minh để mưu giải phóng cho dân tộc…. Sân khấu được làm vội vã từ gỗ và được trang hoàng bằng lớp vải trang trí trắng và đỏ, do đó cho phép hầu hết khán thính giả có thể thấy được những vị lãnh đạo mới của mình, dù chỉ như những chấm li ti. Hồ Chí Minh và các đồng sự của mình đã cố gắng truyền trực tiếp bản Tuyên ngôn độc lập đến mọi miền Tổ quốc nhưng các vấn đề kỹ thuật lúc đó đã không cho phép điều này diễn ra. Mặc dù đã ở nước ngoài trong suốt hơn 30 năm nhưng phong cách nói tiếng Việt của Hồ Chí Minh vẫn đầy tự tin và mạnh mẽ. Bản tuyên ngôn độc lập có độ dài vừa đủ do những người Việt tham gia buổi lễ hôm đó phần lớn còn chưa tiếp xúc với hoạt động mít-ting kiểu châu Âu như thế này bao giờ. Ngày mùng 2 tháng 9 năm đó, nhiều gia đình đã dọn dẹp nhà cửa và chuẩn bị đốt pháo để ăn mừng buổi lễ.

Từ Phủ Toàn quyền, Jean Sainteny, viên chức cao cấp của nước Pháp Tự do (Free French) – nước Pháp sau khi được giải phóng khỏi Phát-xít Đức – có mặt ở Hà Nội, đã quan sát hàng chục ngàn người Việt Nam đi thành từng hàng băng qua đại lộ Brière-de-l’Isle để tiến vào quảng trường. Jean Sainteny ngạc nhiên trước sự tham gia công khai của giới Công giáo và sửng sốt trước sự trật tự của đám đông, không có bất kì hành vi gây rối nào. Không ai có cử chỉ thù địch đối với Jean Sainteny hay đối với tòa nhà phủ Toàn quyền.[10]Vấn đề an ninh cũng được suy xét đáng kể, với đội quân danh dự của Quân Giải phóng đảm bảo không ai trong số khán thính giả có thể tới gần khán đài trong phạm vi 20 mét, những công nhân và sinh viên có vũ trang cũng được xếp đặt tại mọi góc của mấy khu vườn, và một đơn vị tự vệ cảnh giác trước bất kì sự quấy rối nào từ hướng Thành Hà Nội nơi quân Pháp vẫn còn bị Nhật giam giữ. Trước cuộc mít-tinh, lính Nhật ở khu đất thuộc Phủ Toàn quyền đã thiết lập mấy khẩu súng máy chĩa về quảng trường, làm những nhà tổ chức phải dựng lên một bức màn người gồm những dân quân tự vệ với chỉ thị thà chết còn hơn rút lui.

Mặc dù chương trình được mong đợi bắt đầu vào đúng 2 giờ chiều, nhưng xe hơi chở các thành viên trong nội các Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đến trễ hai mươi lăm phút khi phải đi xuyên qua các đám đông. Hồ Chí Minh dẫn đầu những người còn lại bước nhanh lên khán đài, điều làm ngạc nhiên nhiều người đứng xem vì họ mong chờ những người cầm quyền sẽ di chuyển với phong thái từ tốn và trang nghiêm. Trong khi hầu hết các đồng sự của ông trên khán đài đều mặc đồ vest Tây và thắt cravate, nhưng ông Hồ cố ý chọn mặc bộ đồ khaki phai màu với cổ cao và mang đôi dép cao su trắng. Sau lễ chào cờ và hát quốc ca, Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Nội vụ, bước tới micrô giới thiệu Hồ Chí Minh, người được chào mừng bằng những tiếng hô vang dội được sắp xếp trước, “Độc lập! Độc lập!” Ông Hồ vẫy tay trước khán thính giả trong vài phút, đoạn nâng hai bàn tay lên để kêu mọi người im lặng. Bằng giọng Nghệ Tĩnh đặc trưng, ông Hồ lúc đó bắt đầu đọc Tuyên ngôn Độc lập. Một mối liên kết và sự thể hiện lòng tôn trọng đối với người dân mà chưa từng có vị quân vương Việt Nam nào trong lịch sử thể hiện đã được tạo ra khi Hồ Chí Minh có những tương tác với quần chúng khi ông hỏi: “Đồng bào có nghe rõ không?” và đám đông đồng thanh hô vang “Rõ!”.

Trong buổi lễ này, thông qua bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh cũng đã kêu gọi các nước Đồng minh ủng hộ nền độc lập chân chính do nhân dân Việt Nam vừa tự tay giành được thông qua Cách mạng tháng Tám. Ông tuyên bố rằng Chính phủ lâm thời đã huỷ bỏ hết mọi hiệp ước do Pháp kí trong quan hệ với Việt Nam và bãi bỏ hết mọi đặc quyền của người Pháp. Ông cảnh báo rằng người Việt “kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”. Kết thúc bài phát biểu của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu từng bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời với quần chúng nhân dân và tất cả đều làm lễ tuyên thệ nhậm chức. Võ Nguyên Giáp khi đó bước tới và đọc một diễn văn dài đầy vẻ nghiêm trang để tô điểm thêm cho bản Tuyên ngôn. Sau đó, Trần Huy Liệu, bộ trưởng bộ thông tin và tuyên truyền, báo cáo trước khán thính giả về buổi lễ thoái vị của Bảo Đại ở Huế ba ngày trước đó, và rồi trao thanh kiếm hoàng gia và ấn cho Hồ Chí Minh. Là một người có khả năng ăn nói thiên bẩm, Trần Huy Liệu dường như đã làm cho đám đông cười ồ lên và vỗ tay khi mô tả sự cáo chung của chế độ quân chủ. Hòa vào bối cảnh đó, ông Hồ tuyên bố rằng thanh kiếm, trước đây được dùng để đàn áp dân chúng, giờ đây sẽ được dùng để “chặt đầu kẻ phản bội”.[16] Đại diện cho Tổng bộ Việt Minh là Nguyễn Lương Bằng sau đó nói ngắn gọn về nhu cầu cần thống nhất và đấu tranh, phát biểu thẳng thừng rằng đánh Pháp là chuyện cần thiết. Vào một thời điểm nào đó giữa buổi lễ lúc chiều, hai chiếc máy bay Tia chớp P-38 của Mỹ sà xuống thấp ngay trên đám đông, một sự kiện được tuyên bố ngay tức thì và ai cũng tin là đại diện cho lời chào mừng của Mỹ dành cho chính quyền non trẻ của Việt Nam. Cuối cùng, trước khi kết thúc buổi lễ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chúng ta sẽ phải trải qua nhiều khốn khó và đau khổ hơn nhiều. Đồng bào phải ủng hộ chính quyền, để sau này có thêm nhiều buổi ăn mừng và thắng lợi!” Buổi lễ kết thúc bằng việc đoàn người có tổ chức ở quảng trường sau đó diễu hành ra phố, giải tán ở hồ Hoàn Kiếm, và gia nhập vào bầu không khí vui chung cho đến giờ giới nghiêm.

Tại Sài Gòn

Vào thời điểm đó, do hạn chế về phương tiện kỹ thuật nên các diễn biến ở Hà Nội không được truyền đến Sài Gòn nhưng từ bài diễn văn ứng khẩu của Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ Trần Văn Giàu, nhân dân miền Nam nói chung và nhân dân Sài Gòn nói riêng đã thể hiện lòng quyết tâm ủng hộ cách mạng, ủng hộ mặt trận Việt Minh, bảo vệ nền độc lập non trẻ của Việt Nam.[20]

Lễ đài lễ độc lập 2-9-1945 tại Sài Gòn đặt trên đường Cộng Hòa (nay là đường Lê Duẩn), ngay phía sau nhà thờ Đức Bà. Hầu hết người dân Sài Gòn đều đổ ra đường, thành một biển người chưa từng thấy ở thành phố này. Cờ rợp trời: cờ đỏ sao vàng của Việt Minh, cờ các nước đồng minh, cờ của các đoàn thể. Khẩu hiệu giăng đầy các con đường lớn: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm!”, “Đả đảo thực dân Pháp!”, “Độc lập hay là chết!”… bằng năm thứ tiếng: Việt, Hoa, Anh, Pháp, Nga.

Lễ độc lập cử hành đúng 14g chiều. Nhưng mới 12g trưa, dưới mặt trời đứng bóng, các đoàn thể dân chúng, các toán dân quân từ trong các trụ sở ở Châu Thành, từ các vùng ngoại ô kéo về đại lộ Cộng Hòa (tức đại lộ Norodom vừa đổi tên) tập trung sau nhà thờ Đức Bà. Buổi lễ bắt đầu bằng nghi thức chào quốc kỳ. Lúc đó, bản Tiến quân ca của Văn Cao chưa được phổ biến trong Nam nên ban quân nhạc cử bài Quốc tế ca và bản Thanh niên hành khúc, nhạc của Lưu Hữu Phước

Theo thông báo của ban tổ chức buổi lễ, đúng 14g chiều hôm ấy, tại quảng trường Ba Đình ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Đài tiếng nói Việt Nam (lúc đó đặt tại Bạch Mai nên còn gọi là Đài Bạch Mai) sẽ trực tiếp truyền thanh buổi lễ ở Hà Nội trên làn sóng 32m. Ban tổ chức sẽ tiếp sóng Đài Bạch Mai để đồng bào Sài Gòn nghe bản Tuyên ngôn độc lập qua hệ thống loa phóng thanh đặt dọc theo đường Cộng Hòa và các ngả đường gần đó.

Tuy nhiên, việc tiếp sóng không thành công. Nửa giờ trôi qua, dân chúng bắt đầu bàn tán xôn xao. Một số người cảnh giác đặt ra nghi vấn: phải chăng có kẻ phá hoại? Mặc dù hoài nghi này không có chứng cớ, song trong bối cảnh lúc đó nó vẫn thuyết phục được nhiều người. Mãi về sau này người ta mới biết lý do của sự cố này: đài phát của ta quá yếu, máy thu của ta quá cũ, thời tiết chiều hôm ấy lại xấu.

Để trấn an quần chúng, ban tổ chức buổi lễ đề nghị ông Trần Văn Giàu phát biểu. Ông Trần Văn Giàu suy nghĩ vài phút, ghi vội lên giấy mấy ý chính, rồi bước lên lễ đài, ứng khẩu một bài diễn văn. Lúc đó, các nhà báo chưa sử dụng máy ghi âm nên ghi lại bài diễn văn bằng phương pháp tốc ký để công bố toàn văn trên các báo xuất bản ở Sài Gòn ngày hôm sau.

Mở đầu, ông Trần Văn Giàu tuyên bố một đổi thay lớn trong lịch sử nước nhà sau Cách mạng Tháng Tám: “Việt Nam từ một xứ thuộc địa đã trở thành một nước độc lập. Việt Nam từ một đế chế đã trở thành một nước cộng hòa. Việt Nam đương tiến bước trên đường sống”. Song cuộc hồi sinh của dân tộc đang bị kẻ thù đe dọa: “Kẻ địch toan tính một cuộc âm mưu gác lại ách nô lệ trên cổ 25 triệu đồng bào… Chúng tôi đã nắm được bằng cớ chắc chắn là họ toan dùng võ lực thình lình lật đổ chính phủ dân chủ cộng hòa để đặt lại một quan toàn quyền như thuở trước”.

Do đó, ông khuyên đồng bào hãy đề cao cảnh giác: “Mừng thắng lợi, nhưng đồng bào chớ say sưa vì thắng lợi. Bởi vì Việt Nam yêu quí của chúng ta đương gặp một tình cảnh nguy nan. Không khéo lo, nước ta dân ta có thể bị tròng lại ách nô lệ”.

Ông Trần Văn Giàu hỏi những người dự lễ: “Đồng bào ở đây có ai thừa nhận một quan toàn quyền cai trị xứ ta không? Có ai chịu bó tay để cho chế độ thực dân – ra mặt hay giấu mặt – trở lại không?”. Sau mỗi câu hỏi của ông, cả triệu người đồng thanh đáp lại: “Không! Không! Không!” vang dội một góc trời.

Tiếp sau sự đồng tâm ấy, ông Trần Văn Giàu nhắc lại những điều đã nói với đại diện chính phủ Pháp:

“Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng ký kết với Cộng hòa Pháp những hiệp ước cộng tác về kinh tế, về văn hóa, luôn về binh bị nữa, nếu Pháp công khai thừa nhận quyền độc lập của chúng tôi. Nhược bằng trái lại, các người kể chúng tôi như tôi mọi thì liên hiệp với dân chúng cách mạng Pháp, chúng tôi thề chết (chứ) không nhượng bộ trước bất cứ một sự hăm dọa hay khiêu khích nào”. Thay mặt hàng triệu người dân Nam bộ, ông nói lên quyết tâm bảo vệ tổ quốc: “Chúng ta thề cương quyết đứng bên cạnh chánh phủ, chống mọi sự xâm lăng, dầu chết cũng cam lòng”.

Ông kết thúc bài diễn văn bằng lời kêu gọi: “Quốc dân hãy sẵn sàng chiến đấu!… Đứng lên! Ngày độc lập bắt đầu từ nay! Tiến tới, vì độc lập, vì tự do, tiến tới mãi! Không một thành lũy nào ngăn nổi chí của muôn dân trên đường giải phóng!”.

Ý nghĩa 

Về mặt chính trị, bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Đây là biểu tượng cho việc chấm dứt sự cai trị của các thế lực ngoại quốc ở Việt Nam. Bản tuyên ngôn đã đưa tới cho người đọc và người nghe một thế giới quan kịch tính, một lịch sử cô đặc, một vài khẳng định táo bạo, những cụm từ sinh động, và hình tượng đầy cảm xúc. Trong bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên liệu được việc Pháp sẽ quay lại và Hoa Kỳ sẽ can thiệp vào Việt Nam. Bản Tuyên ngôn độc lập đã nêu bật các giá trị bình đẳng giữa các quốc gia, các quyền cơ bản của con người và của các dân tộc, quyền tự quyết dân tộc và quyền được hưởng độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia. Bản Tuyên ngôn Độc lập đã tố cáo và lên án những tội ác man rợ của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam về các mặt chính tri, kinh tế, văn hóa… Đồng thời khẳng định, Việt Nam – một nước thuộc phe Đồng minh trong Chiến tranh Thế giới thứ hai – đã giành độc lập sau khi chiến thắng Phát-xít Nhật Bản, trước đó người Pháp đã hai lần trao quyền đại diện và bảo hộ đối với Việt Nam cho Phát-xít Nhật nên Pháp không còn đủ tư cách để đại diện cho nhân dân Việt Nam nữa. Bản Tuyên ngôn Độc lập còn khẳng định với thế giới cơ sở pháp lý về quyền của dân tộc Việt Nam được hưởng tự do độc lập, đồng thời cũng vạch ra cơ sở thực tế là Việt Nam đã là một nước tự do và độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ nước nào. Đồng thời, bản Tuyên ngôn cũng khẳng định nhân dân Việt Nam sẽ giữ nền độc lập, tự chủ mới giành được bằng mọi giá. Bản tuyên ngôn độc lập để thể hiện sự tôn trọng ngoại giao mà Hà Nội dành cho Paris và Washington khi Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập Mỹ 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp 1791. Việc này đã tạo ra bức tranh đối lập giữa những lý tưởng mà Pháp và Mỹ vẫn đang cổ súy với thực tại đau khổ trong 80 năm Việt Nam bị Pháp cai trị.

Cách mạng Tháng Tám và ý nghĩa của độc lập, tự do

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/thanh-tuu-nhan-quyen-viet-nam/cach-mang-thang-tam-va-y-nghia-cua-doc-lap-tu-do-631945

QĐND – Cách mạng Tháng Tám (CMT8) có giá trị vĩ đại không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại. Thế nhưng hiện nay, vẫn có thế lực từ bên ngoài với tâm địa đen tối, bằng những lập luận thiếu tử tế hòng xuyên tạc và phủ định giá trị của CMT8.

Họ cho rằng không cần phải làm CMT8 vì với xu thế chính trị sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thực dân Pháp rất muốn và sẽ tự trao trả độc lập cho Việt Nam. Hơn nữa, họ còn cho rằng dân tộc Việt Nam cũng không cần độc lập mà cứ là một thuộc địa của Pháp thì sẽ phát triển hơn. Đáng buồn và đáng giận là vẫn có những người Việt Nam thuộc thế hệ sau được hưởng thành quả từ xương máu của thế hệ đi trước, nhưng vì thiếu hiểu biết, suy nghĩ nông cạn đã bị ảnh hưởng từ những thông tin sai trái, để rồi có những lời lẽ vô ơn khi nhắc tới CMT8. 

Đầu tiên cần phải khẳng định, thắng lợi của CMT8 năm 1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử của dân tộc ta, đất nước ta. Thắng lợi này đã chính thức chấm dứt ách đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp đối với nước ta, mở ra kỷ nguyên độc lập, lần đầu tiên tên nước Việt Nam có trên bản đồ thế giới, với tư cách và vị thế của một quốc gia-dân tộc độc lập, có chủ quyền. Về ý nghĩa vĩ đại của CMT8, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: “Lịch sử dân tộc ta có nhiều thời kỳ rất vẻ vang. Nhưng trước ngày CMT8, dân tộc ta đã phải trải qua gần một thế kỷ vô cùng tủi nhục. Trên địa đồ thế giới, tên nước ta đã bị xóa nhòa dưới bốn chữ “Đông Dương thuộc Pháp”. Thực dân Pháp gọi đồng bào ta là lũ Annamít dơ bẩn. Thiên hạ gọi chúng ta là vong quốc nô… CMT8 thành công. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Nhân dân ta tự làm chủ vận mạng của mình. Tên tuổi của nước ta lại lừng lẫy khắp năm châu, bốn biển”(1). CMT8 cũng trở thành nguồn động viên to lớn để nhiều dân tộc thuộc địa đứng lên giành độc lập.

Ngày 19-8-1945, sau cuộc mít tinh tại Quảng trường Nhà hát lớn, quần chúng nhân dân Thủ đô đã đánh chiếm Bắc Bộ phủ, cơ quan đầu não của chính quyền tay sai Pháp ở Bắc Bộ. Cách mạng Tháng Tám mở ra một thời đại mới ở Việt Nam – thời đại nhân dân Việt Nam làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của chính mình. Ảnh: TTXVN

Thực tế là Việt Nam giành chính quyền từ tay phát xít Nhật chứ không phải từ thực dân Pháp. Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc nêu rõ rằng, thực dân Pháp “đã bán nước ta hai lần cho Nhật”. Đó là “mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương… thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật”. Rồi ngày 9-3-1945, phát xít Nhật đã đảo chính, hất cẳng thực dân Pháp không chỉ ở Việt Nam mà toàn cõi Đông Dương. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Sau đó, phát xít Nhật đã dựng lên một chính phủ bù nhìn do Trần Trọng Kim đứng đầu. Chính phủ này chỉ tồn tại trên giấy, không làm gì và cũng không thể làm gì. Mọi quyền hành đều trong tay phát xít Nhật.

Như thế, câu chuyện thực dân Pháp trả độc lập, tự do cho Việt Nam là điều hoàn toàn nực cười cả về pháp lý, đạo lý và thực tế lịch sử. Vì người ta không thể “cho” hay “trả” cái mà người ta không có.

Và thực dân Pháp có muốn trả độc lập, tự do dân tộc Việt Nam không? Thực dân Pháp không bao giờ muốn! Lịch sử đã cho thấy rõ ràng! Khi thế cuộc của Chiến tranh thế giới thứ hai đã rõ ràng với chiến thắng của phe Đồng minh, thực dân Pháp đã có mưu đồ quay trở lại xâm lược nước ta.

Ngay sau khi nước ta giành độc lập, thực dân Pháp theo chân quân Mỹ, Anh vào Nam Bộ để giải giáp quân Nhật. Ngày 23-9-1945, quân Pháp bất ngờ tấn công để lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ tại Nam Bộ. Nam Bộ bị quân Pháp dìm trong bể máu.

Độc lập, tự do của nhân dân ta ở Nam Bộ chỉ không đầy một tháng lại bị thực dân Pháp tước đi. Cả Nam Bộ đứng lên kháng chiến để đánh đuổi quân Pháp. Sau khi tấn công chiếm Nam Bộ, Pháp tiếp tục đưa quân ra miền Bắc, liên tục khiêu khích, đòi tước vũ khí của Quân đội ta. Nhiều lần Chính phủ ta đã tỏ thiện ý thương lượng, đàm phán, với sự nhân nhượng vì mong muốn duy trì hòa bình, tránh đổ máu cho dân tộc nhưng không thể được trước tâm địa đen tối của thực dân Pháp quyết cướp nước ta một lần nữa. Quân Pháp quyết gây chiến tranh khi liên tiếp gây ra các vụ thảm sát tại Hải Phòng và Hà Nội.

Sau đó, ngày 18-12-1946, thực dân Pháp gửi hai tối hậu thư liên tiếp, đòi tước vũ khí của Quân đội ta. Đến ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Cả dân tộc đứng lên trường kỳ kháng chiến 9 năm để đánh đuổi thực dân Pháp, kết thúc bằng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Hiệp định Geneva được ký kết. Thế nhưng thực dân Pháp rút đi thì đế quốc Mỹ cũng ngay lập tức thế chân tại miền Nam, với mưu đồ biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới và để từ đó tấn công phá hoại miền Bắc.

Lịch sử đã chứng minh rằng, các nước thực dân, đế quốc luôn muốn đặt ách thống trị tại Việt Nam, không bao giờ muốn nước ta được độc lập, nhân dân ta được tự do. Từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, dân tộc ta đã phải anh dũng, kiên cường chiến đấu suốt 30 năm nữa, đổ bao xương máu mới có được độc lập, tự do, thống nhất trên cả nước.

Ấy thế mà ngày nay, vẫn có những kẻ muốn lừa bịp giới trẻ, vẽ ra ảo tưởng thực dân, đế quốc tốt bụng, sẽ trao trả độc lập, tự do cho dân tộc ta, đem lại sung sướng, hạnh phúc cho nhân dân ta và chúng ta chẳng cần phải làm gì, chỉ trông chờ vào sự tốt bụng đó.

Nguy hiểm hơn, có những người mang dòng máu Việt Nam lại gieo rắc luận điệu cho rằng, nước ta chẳng cần độc lập để làm gì, mà cứ giữ là thuộc địa của Pháp có khi lại phát triển hơn, đời sống người dân sung sướng hơn. Luận điệu ấy chắc chắn chỉ có trong đầu óc của những kẻ thiếu tử tế và thiếu nhân cách. Suy nghĩ ấy là của những kẻ luôn muốn ăn bám và tư duy lệ thuộc. Đó là những kẻ không xứng đáng đứng trước tổ tiên để nhận mình là con cháu Việt Nam. Lịch sử oanh liệt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc cho thấy ý thức, khát vọng độc lập, tự chủ đã ăn sâu vào máu của mỗi người Việt Nam. Người Việt Nam, dân tộc Việt Nam sẵn sàng chiến đấu, hy sinh chứ quyết không chịu đặt dưới ách cai trị của dân tộc khác. Dân tộc Việt Nam cũng không chịu để kẻ thù cướp đi bất cứ tấc đất nào của cha ông để lại.

Khi đọc những lời lẽ hùng hồn trong bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh bất ngờ dừng lại và hỏi: “Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?”. Và cả triệu người đồng thanh đáp lại vang dội: “Có!”. Trong giờ phút ấy, chắc hẳn từ vị Chủ tịch nước cho tới từng người dân đều xúc động nghẹn ngào, nhiều giọt nước mắt đã rơi… Tại Sài Gòn (nay là TP Hồ Chí Minh), do hạn chế về kỹ thuật, không thể tiếp sóng phát thanh trực tiếp lời Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Lễ tuyên ngôn độc lập từ Quảng trường Ba Đình, do đó, ông Trần Văn Giàu, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Nam Bộ, Chủ tịch Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ đã được đề nghị lên phát biểu. Trong phát biểu của mình, ông Trần Văn Giàu cũng nêu rõ: “Việt Nam từ một xứ thuộc địa đã trở thành một nước độc lập… Việt Nam đương tiến bước trên đường sống”. Ông cũng đã chỉ rõ mưu toan của thực dân Pháp: “Kẻ địch toan tính một cuộc âm mưu gác lại ách nô lệ trên cổ 25 triệu đồng bào”. Ông đã hỏi những người dự lễ: “Đồng bào ở đây có ai thừa nhận một quan toàn quyền cai trị xứ ta không? Có ai chịu bó tay để cho chế độ thực dân-ra mặt hay giấu mặt-trở lại không?”. Sau mỗi câu hỏi của ông, cả triệu người đồng thanh đáp lại: “Không! Không! Không!” vang dội cả góc trời. Thay mặt hàng triệu người dân Nam Bộ, ông Trần Văn Giàu nói lên quyết tâm bảo vệ Tổ quốc: “Chúng ta thề cương quyết đứng bên cạnh Chánh phủ, chống mọi sự xâm lăng, dầu chết cũng cam lòng”(2).

Chính vì ý thức, khát vọng độc lập, tự do rất mãnh liệt như vậy nên dù trải qua bao thăng trầm của lịch sử, dân tộc ta vẫn giữ được bản sắc của mình, không bị đồng hóa như rất nhiều dân tộc khác trên thế giới này đã từng tồn tại và biến mất.

Cái ý nghĩ, mong muốn nhờ vào ngoại bang để có được hạnh phúc, phồn vinh đã bị không chỉ lịch sử Việt Nam mà còn là lịch sử nhân loại chứng minh sự sai lầm. Suy nghĩ sai lầm tai hại ấy không chỉ làm cho nhiều thế hệ hào kiệt, nhiều nhà cách mạng tiền bối của Việt Nam phải sa cơ, thất bại mà còn làm cho con đường cứu nước, giải phóng dân tộc của chúng ta kéo dài. Phải đến khi nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc tìm được con đường cứu nước chân chính, đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam thì sự nghiệp giải phóng dân tộc mới đi đúng hướng. Trong Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã viết: “Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

“Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” chính là thể hiện tinh thần, ý thức tự chủ, tự lực, tự cường của cuộc CMT8. Đó chính là phương thức cứu nước đúng đắn mà thế hệ trước đã tìm ra, đã thực hiện thành công và trao truyền lại cho thế hệ những người Việt Nam tiếp theo. Ngày nay, bài học vô giá phải trả bằng máu đó phải được tiếp tục khắc cốt ghi tâm trong những người con mang dòng máu Việt Nam. Dân tộc ta không thể phó mặc, không thể trông chờ vào bất cứ dân tộc nào, quốc gia nào để bảo vệ chủ quyền đất nước, để được độc lập, tự do. Dân tộc ta cũng không thể trông chờ vào bất cứ dân tộc, quốc gia nào để được hạnh phúc, phồn vinh, phát triển. Chúng ta trước hết phải dựa vào sức mình! Bằng tinh thần đoàn kết, bằng trí tuệ, ý chí, sức lực, lòng dũng cảm của mình, chắc chắn chúng ta sẽ làm được điều đó! Dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam sẽ trường tồn!

Đã gần 75 năm kể từ ngày lời Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang vọng trên Quảng trường Ba Đình. Việt Nam của chúng ta ngày nay đã rất khác xưa, đã là một đất nước độc lập, tự do, thống nhất, hòa bình, hạnh phúc và đang ngày càng phát triển. Với vị thế quốc gia của mình, Việt Nam có tiếng nói ngày càng có trọng lượng trên trường quốc tế, được bạn bè quốc tế lắng nghe, tin tưởng và nể trọng. Tất cả thực tế đó đã chứng minh những luận điệu xuyên tạc về CMT8 là hoàn toàn sai trái, không thể có chỗ đứng trong lòng những người Việt Nam chân chính và nhân loại có lương tri.   

HỒ QUANG PHƯƠNG

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 14, tr621, tr622.

(2) TS Phan Văn Hoàng, Báo Tuổi trẻ ngày 2-9-2006, Lễ Độc lập 2-9-1945 tại Sài Gòn.

NHỮNG NGƯỜI TRONG CUỘC GÂY MÂU THUẪN VỀ 30-4-1975

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

ĐÔNG LA

Trung tướng Phạm Xuân Thệ

Tôi đã dành khá nhiều thời gian cho ngày 30-4, nhưng với cả một hệ thống trong các lĩnh vực tuyên giáo, lịch sử, thông tin, văn chương, v.v… khổng lồ của cả một đất nước gần 100 triệu dân mà sau gần nửa thế kỷ người ta vẫn tranh cãi về nó, thì dù tôi có bỏ ra một, hai năm để “xem lại” cũng không phải là nhiều. Nhưng với thời đại internet thì không cần phải lâu thế. Dù vậy tôi thấy cũng khá rắc rối.

Khi ta xem một thông tin từ đài báo chính thống, tưởng một chuyện là như thế này, nhưng xem một thông tin từ chỗ khác đầy đủ hơn, ta lại thấy thông tin trước là sai.

Như xem một chương trình trên VTV1, phát thanh viên nói: “Trưa ngày 30/4/1975, chiếc xe tăng 843 bị mắc kẹt trước cổng dinh Độc Lập và chiếc 390 lao lên trước. Tất cả được nhà quay phim chiến trường Neil Davis ghi lại”.

Nhưng xem chương trình người khác làm thì chính Nhà báo Úc đó cho biết, đó là cảnh dựng lại mà ông có tham gia.

Vì vậy, để có thể nhận diện được sự thật, người ta cần phải có rất nhiều thông tin, cần phải có trí cao, tâm sáng và lương tri. Nếu không, chỉ biết một mẩu rồi phán, tất rất dễ sai lầm. Câu chuyện Ông Tùng, Ông Thệ, như Đại tá Nhà báo Đào Văn Sử viết, lẽ ra phải được khép lại ngay từ năm 1985, khi cấp tối cao là Ban Bí thư đã điều tra và Quân Đoàn 2 đã phải sửa lại lịch sử quân đoàn.

Có lẽ do chính hệ thống thông tin khổng lồ không làm tốt chức trách, như VTV còn bận làm game show kiếm tiền quảng cáo chẳng hạn, nên ngay những cựu chiến binh QĐ2, có mặt tại Dinh Độc lập trong ngày 30-4, cũng không biết chính xác lịch sử quân đoàn mình.Đại tá Phạm Ngọc Sơn, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 347, Quân khu 1, nguyên là Sỹ quan tác chiến Quân đoàn 2, luôn đi cùng Bộ chỉ huy tiền phương Quân đoàn gồm Tư lệnh Nguyễn Hữu An, Phó Tư lệnh Hoàng Đan, Phó Chính ủy Nguyễn Công Trang và đặc phái viên, Thiếu tướng Nam Long.

Trưa ngày 30-4-1975 ở dinh Độc lập, sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng ở đài phát thanh về, ông được lãnh đạo QĐ2 giao canh giữ Nội các DVM.

Là một người trong cuộc như vậy nhưng năm 2018, trong một cuộc phỏng vấn, ông nói: “Khi Sở chỉ huy quân đoàn vào thì lúc này các đồng chí Bùi Quang Thận đã cắm cờ rồi. Anh Thệ mới lại anh Tùng đã bắt, thực ra mà nói là anh Tùng, Bùi Văn Tùng , anh ấy là Chính uỷ Lữ đoàn 203, đã bắt DVM sang đài phát thanh rồi. Nhưng tôi không biết…”. Ông “không biết” như vậy nhưng cứ nói tự nhiên như thế, có sai về lịch sử Quân đoàn mình cũng chẳng sao!

Một nhân chứng khác còn sát sạt hơn thế, Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt, từng là chiến sĩ lái xe tăng 380 vào dinh Độc lập cùng với hai xe tăng 390 và 843 ngày 30/4/1975, đã viết trên facebook mà Trần Đăng Khoa đã trích dẫn trong bài “chửi” Phạm Xuân Thệ:“

Sự kiện 30-4-1975, lịch sử không bao giờ chấp nhận sự ngoắt ngoéo, mù mờ. Mặc dù cuộc hội thảo đã đưa ra kết luận song cái kết luận này lại gây ra phản ứng dữ dội từ một số nhân chứng và sự không đồng tình, không ‘tâm phục, khẩu phục’ trong dư luận chung. Cuộc bút chiến, tranh luận vẫn tiếp tục.

Ngay sau khi báo chí đưa tin nội dung kết luận của Viện Lịch sử quân sự, từ TP. Hồ Chí Minh, đại tá Bùi Văn Tùng đã lập tức phản ứng. Ông cho rằng ‘kết luận’ đó không khách quan, nghiêng về phía trung tướng Tư lệnh Quân đoàn Phạm Xuân Thệ và yêu cầu phải tiếp tục làm sáng tỏ sự thật lịch sử”.

Trong Thư ngỏ gửi Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, đề nghị xem xét việc tuyên dương danh hiệu AHLLVTND cho ông Bùi Văn Tùng, Nguyễn Khắc Nguyệt, với tư cách là Đại tá, Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, Trưởng ban liên lạc Hội CCB Lữ đoàn xe tăng 203, thay mặt Ban Liên lạc ký, đóng dấu ghi ngày 23/4/2020, có đoạn:“ngay khi có mặt tại dinh Độc Lập, chính ủy Bùi Văn Tùng đã trả lời Dương Văn Minh khi ông ta nói “đang chờ Quân giải phóng vào để bàn giao”: “Các ông đã bại trận! Các ông không còn gì để bàn giao cả mà phải đầu hàng vô điều kiện!”.

Ngay sau đó, chính ông đã quyết định đưa Dương Văn Minh – Tổng thống chính quyền Sài Gòn ra Đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng. Tại Đài phát thanh, ông đã thảo Lời tuyên bố đầu hàng để Dương Văn Minh đọc trước máy ghi âm và cũng chính ông thay mặt Quân giải phóng chấp nhận đầu hàng của chính quyền Sài Gòn”.

Như vậy, Nguyễn Khắc Nguyệt cũng “đếch cần biết chính xác” lịch sử Quân đoàn 2, cứ nói theo ý mình!Nguyễn Khắc Nguyệt còn viết sách: “Bút ký lính tăng HÀNH TRÌNH ĐẾN DINH ĐỘC LẬP”. Tôi đã chăm chú nghe hàng chục lần đoạn tác giả khắc hoạ cảnh các chiến sĩ xe tăng tiến công từ Cầu SG đến Dinh Độc lập, được đọc trên https://www.youtube.com/watch?v=9EgMxdPmFqg

Có nhiều chi tiết rất quan trọng nhưng ông Nhà Văn Đại tá đã viết khác với lời kể của những người trong cuộc.

Trong hành trình từ Cầu Sài Gòn đến Dinh Độc lập, đoạn từ Cầu SG đến Cầu Thị Nghè, ông viết xe dẫn đầu là xe 866 của trưởng xe Lê Tiến Hùng, nhưng BÙI THANH, trên báo Tuổi trẻ, trong loạt bài phỏng vấn Trưởng xe 843 Bùi Quang Thận, Trưởng xe 390 Vũ Đăng Toàn, v.v… , viết xe dẫn đầu là xe 387. Vậy xe của Lê Tiến Hùng là xe nào? https://tuoitre.vn/nhung-tieng-sung-cuoi-cung-76059.htm

Sau khi xe đi đầu của Lê Tiến Hùng bị trúng đạn, anh bị thương hi hữu ngay “chỗ ấy”, một chiến sĩ công binh hy sinh, Nguyễn Khắc Nguyệt viết xe 843 của anh Bùi Quang Thận lao lên dẫn đầu, xe 390 của anh Nguyễn Đăng Toàn đi thứ 2. Nhưng Bùi Thanh lại viết ngược lại, xe 390 dẫn đầu, 843 đi theo sau! Ở chi tiết này tôi tin Bùi Thanh hơn, vì viết theo lời kể của chính Nguyễn Đăng Toàn. Nếu Nguyễn Đăng Toàn không nhìn thấy xe anh Bùi Quang Thận lù lù đi trước, chẳng lẽ anh không nhìn thấy gì sao? Một người không nhìn thấy gì sao có thể chỉ huy được xe 390 húc đổ cổng chính lao vào sào huyệt quân địch đầu tiên? Còn nhảy xuống mang AK bảo vệ anh Thận chạy vào dinh treo cờ. Bùi Thanh còn hỏi Nguyễn Đăng Toàn: “Nhưng tại sao chiếc xe 843 đi sau lại húc vào cổng dinh Độc Lập trước? Nguyễn Đăng Toàn trả lời: “Chúng tôi đi lạc vì không biết đường. Xe 390 của chúng tôi cứ thẳng tiến theo đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) và không biết chính xác phải quẹo trái ở ngã tư nào để đến dinh”.

Khi xe 390 vượt qua luôn ngã tư Công Lý – Hồng Thập Tự, đến cổng Trường Lê Quý Đôn thì mới nhận ra sai, đã lùi lại! Trong cuốn sách, nhân vật lái xe 380 là Trang, vậy Trang chính là Nguyễn Khắc Nguyệt.

Theo tác giả, xe 380 bị thương nên chạy sau đoàn xe, và các chiến sĩ đều được chỉ dẫn trước, qua cầu Thị Nghè, đi qua 7 ngã tư, rẽ trái là sẽ tới Dinh Độc lập. Theo lời kể của cuốn sách và những người trong cuộc thì xe 843 của anh Thận đã rẽ trước ở ngã tư thứ 6, tức đến đường Pasteur; còn xe anh Toàn đi quá, vượt qua ngã tư thứ 7, tức vượt qua đường Công Lý (nay là Nam Kỳ khởi nghĩa, đường chạy ngang ngay trước dinh ĐL).

Về khoảnh khắc lạc đường này của xe 390, Nguyễn Khắc Nguyệt viết: “Tập… về số để quay đầu… tay kéo mạnh cần lái trái cho xe quay 180o về phía sau, quay lại ngã tư, rẽ phải vào một con đường…”. Nhưng nhân vật chính, Tập, lái xe 390, kể: “Sau đó là tôi cho xe lùi khoảng 10 m đánh vào tay trái rẽ về hướng Dinh ĐL”.

Ở SG đã 44 năm, tôi đã quá quen thuộc và qua lại không biết bao lần các địa danh trong sự kiện lịch sử 30-4, nhưng 10 giờ sáng qua (14-5-2020), tôi vẫn muốn kiểm chứng lại. Tôi đã lấy xe máy đi lại theo hành trình các chiến sĩ xe tăng 45 năm trước đến Dinh ĐL.

Theo cảm tính cứ nghĩ là xa, nhưng từ ngã tư Hàng Xanh đến Cầu Thị Nghè đi chỉ mất có 3 phút. Đến chỗ ngã tư Hồng Thập Tự (Giờ là Nguyễn Thị Minh Khai) – Công Lý (Giờ là Nam Kỳ khởi nghĩa), rồi đi một đoạn đến cổng trường Lê Quý Đôn, thì thấy đúng như lời Nguyễn Đăng Toàn và Nguyễn Văn Tập kể.

Có chi tiết khiến tôi đau đầu về khoảnh khắc này là Ngô Sĩ Nguyên, pháo thủ số 1 xe 390, trong chương trình “Người đương thời”, kể lúc xe mình và xe Bùi Quang Thận chạy gặp nhau từ hai hướng như “thước thợ”, Bùi Quang Thận từ Hồng Thập Tự tới, xe mình từ Công Lý tới, nghĩa là xe 390 phải chạy từ ngã tư Võ Văn Tần-Công Lý lên, và điểm hai xe gặp nhau là ngã tư Hồng Thập Tự – Công Lý chứ không phải là cổng Dinh ĐL.

Lời kể của Nguyên như vậy khác với lời kể của hai anh Toàn và Tập. Nghĩ mãi mới nhận ra, thì ra điểm hai xe gặp nhau mà anh Nguyên muốn nói chính là cổng Dinh Đl, vậy là anh đã nói nhầm, xe anh Bùi Quang Thận chạy từ đường Thống Nhất (nay là Lê Duẩn) tới chứ không phải Hồng Thập Tự.

Tất nhiên nói nhầm như anh Nguyên là bình thường vì quá khứ đã lùi xa và anh cũng không thuộc đường vì không sống ở SG. Sự viết sai của Nguyễn Khắc Nguyệt về chi tiết lái xe Tập lùi xe 390 không quan trọng về ý nghĩa, cũng là chuyện nhớ lầm bình thường như Ngô Sĩ Nguyên.

Nhưng ở chỗ khác, cũng chỉ là những chi tiết nhỏ, có điều tác giả không vô tình mà chủ ý nhầm, khiến xã hội hiểu sai về sự kiện và nhân vật lịch sử thì không thể là chuyện bình thường được. Như đoạn Nguyễn Khắc Nguyệt viết về xe 843, sau khi chết máy vì húc không đổ cổng phụ dinh Độc lập, đã khởi động lại được, và: “Trong xe 843 Hoả… lao vào sân dinh… Hoả tăng ga cho xe 843 chạy song song với xe 390. Hai chiếc xe như hai người lính cận vệ hai bên cho người đại đội trưởng của mình”.

Đây là cảnh không có ai thấy và không có thước phim hay tấm ảnh nào chứng thực, mà chỉ có một sự thực, nhiều lần Nguyễn Đăng Toàn và những người trên xe 390 kể, Bùi Quang Thận cầm cờ chạy sau xe mình!*** Về hai sự kiện chính mà hai ông đại tá, cựu chiến binh QĐ2, Phạm Ngọc Sơn và Nguyễn Khắc Nguyệt cho là công của ông Bùi Văn Tùng hết, xin trả lời hai ông.

-Thứ nhất, rất nhiều thước phim, hình ảnh, lời chứng chứng minh sự kiện quan trọng nhất trong ngày 30-4-1975 lịch sử, việc bắt sống TT Dương Văn Minh và nội các và áp giải sang đài phát thanh SG để tuyên bố đầu hàng, là của các anh Phạm Xuân Thệ, khi đó là Đại úy, Trung đoàn phó Trung đoàn Bộ binh 66, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2; Trung úy Nguyễn Văn Nhu (có nơi ghi Nguyễn Khắc Nhu), Trợ lý tác chiến; Trung úy Phùng Bá Đam, Trợ lý cán bộ; Chiến sĩ lái xe Đào Ngọc Vân; Binh nhất Nguyễn Huy Hoàng, Chiến sĩ Thông tin và Binh nhất Bàng Nguyên Thất.

Kể cả những nhân chứng mà những người bênh vực ông Bùi Văn Tùng dẫn ra cũng có trang viết chứng minh lời anh Thệ đúng nhưng họ đã cố tình cắt xén, như Borries Gallasch, trong cuốn Ho – Tschi – Minh Stadt, được viết từ năm 1975, đã viết: “Là một người châu Âu duy nhất, là một nhà báo duy nhất, tôi chứng kiến đại tướng Minh “lớn” – tổng thống của VN cộng hòa, đã bị bắt bởi Phạm Xuân Thệ, chỉ huy của đoàn Đông Sơn thuộc quân đội giải phóng. Tay cầm súng ngắn đã lên đạn, một khẩu K54 của Nga, Thệ rất phấn khích la lớn yêu cầu ông Minh ra đài phát thanh”.

Trần Đăng Khoa đăng lại bài của CAO MINH, với lời tán đồng: “TÔI ĐỒNG Ý VỚI TÁC GIẢ. BÀI VIẾT RẤT HAY. HAY VÀ ĐÚNG”, nhưng bài này cũng có đoạn chứng tỏ ông Bùi Văn Tùng nói sai khi nhận công bắt Dương Văn Minh, lời chứng của một cơ sở tình báo không quen anh Thệ nên càng khách quan:“Cơ sở tình báo có mặt lúc ấy là kỹ sư Tô Văn Cang mô tả: “…

Một bộ đội đội nón cối có huy hiệu sao vàng (sau này mới biết là đại úy Phạm Xuân Thệ, trung đoàn phó trung đoàn bộ binh 66) súng lên đạn cầm tay lăm lăm cùng hai trợ lý từ phía cầu thang giữa chạy lại. Nguyễn Hữu Hạnh nói ông Minh đã tuyên bố bàn giao chính quyền. Người bộ đội đẩy ra và la lớn: “Không có bàn giao gì hết. Hãy xếp hàng hai lại, nhanh lên!”. Cang giơ tay xin nói cũng bị ngăn lại và la: “Xếp hàng lại”. Cang vẫn mạnh dạn: “Không! Tôi là người của Mặt trận, thuộc đoàn 22, của tướng Ba Trân, bộ đội tiền phương”.

Chưa hết, ông Phạm Duy Đô, Trung úy Đại đội trưởng của Trung đoàn 116 đặc công, sáng ngày 30-4, cũng ngồi cùng xe với Đại úy Phạm Xuân Thệ, kể: “Sau khi xe tăng 390 húc đổ cổng dinh Độc Lập tiến vào bên phải xe tăng 843, anh Thệ và tôi đã rẽ trái vào. Khi xe dừng, tôi và các đồng đội nhảy xuống. Tôi lao lên ban công, rút là cờ trong túi ra phất báo hiệu cho các xe tăng tiến vào, rồi cắm lại cờ trên đó chạy xuống dưới. Khi tôi kéo rèm ra thì phát hiện Tổng thống Dương Văn Minh… Ngay lúc đó đồng chí Thệ đứng trước cửa không cho Dương Văn Minh và nội các chống trả hay bỏ trốn”.

Như vậy sự thật không như hai ông đại tá Phạm Ngọc Sơn và Nguyễn Khắc Nguyệt nghĩ. Có thể ông Bùi Văn Tùng khi gặp Dương Văn Minh cũng nói này nọ, nhưng như trong thể thao và tất cả các phát minh sáng chế, người ta chỉ công nhận người đầu tiên mà thôi!

Lão cựu chiến binh Bùi Văn Quyệt nói rất dí dỏm, rất dân dã, nhưng rất đúng: “Thưa Nhà thơ TĐK, không ai bắt được cá lại bỏ vào giỏ người khác, ông Tùng bắt ông Minh sao không đưa lên xe mình mà lại để lên xe ông Thệ? Không bao giờ có chuyện đó đâu vì ông Tùng khôn lắm! ”

-Thứ hai, chuyện sang đài, như tôi đã viết, anh Phạm Xuân Thệ đưa ông Minh đi đọc lời đầu hàng thì đến nơi tất phải soạn ngay, đâu biết có ông Tùng đi sau đâu mà đợi.

Thiếu tướng Hoàng Trọng Tình, Phó Chính ủy Quân khu 4, trong chiến dịch Hồ Chí Minh, làm chính trị viên tiểu đoàn 8, đơn vị đã đánh chiếm đài phát thanh Sài Gòn. Lời ông kể giống những người trong nhóm Phạm Xuân Thệ áp giải ông DVM kể nhưng đầy đủ hơn. Khoảng trưa, ông thấy xe Phạm Xuân Thệ đến đài phát thanh. Phạm Xuân Thệ cho ông biết đưa Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu đến để tuyên bố đầu hàng. Trong lúc chờ tổ trinh sát đi tìm nhân viên đài phát thanh thì ông thấy Phạm Xuân Thệ cùng các trợ lý Phùng Bá Đam, Đinh Thái Quang, Nguyễn Văn Nhu soạn thảo nội dung lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh.

Ông kể: “Anh Thệ là người chắp bút. Lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh được viết gần xong thì chúng tôi thấy một người cao lớn bước vào tự giới thiệu là Bùi Văn Tùng, chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203. Sau những lời chào hỏi, đồng chí Bùi Văn Tùng nói: “Vào dinh Độc Lập, tưởng các anh là người của quân đoàn thực hiện nhiệm vụ nên tôi không tham gia. Khi biết các anh là cán bộ Trung đoàn 66 đưa Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu sang đài phát thanh, tôi theo luôn”.

Đồng chí Thệ phấn khởi mời đồng chí Tùng cùng điều hành nhiệm vụ”.

Riêng ông Nguyễn Văn Nhu, trong một cuộc phỏng vấn đã nói, khi cùng nhóm soạn thảo, ông đã nhớ đến bộ phim “Giải phóng” của LX chiến thắng Phát xít Đức, nên ông đã góp ý là “thêm ý “đầu hàng vô điều kiện” vào”!

Như vậy, ông Phạm Xuân Thệ luôn nói sự thật, luôn nhắc đến sự đóng góp của tất cả đồng đội, và của cả chính ông Bùi Văn Tùng nữa, hoàn toàn không có chuyện mà TĐK lu loa là anh đã cướp công!15-5-2020

ĐÔNG LA

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954)

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ho-so-su-kien-nhan-chung/su-kien-va-nhan-chung/chien-thang-lich-su-dien-bien-phu-751954-3368

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là chiến thắng vĩ đại nhất, giáng đòn quyết định, tạo bước ngoặt làm thay đổi cục diện chiến tranh trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thắng lợi, thực dân Pháp được sự hỗ trợ của các thế lực đế quốc đã quay trở lại xâm lược nước ta. Ngày 19/12/1946, đáp lời Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, nhân dân Việt Nam đã anh dũng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống kẻ thù xâm lược.

Dựa vào sức mình là chính, với vũ khí thô sơ và tinh thần “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp. Đến năm 1953, chúng ta đã làm chủ trên các chiến trường, tạo ra sự so sánh lực lượng có lợi cho ta. Để cứu vãn tình thế, thu – đông năm 1953, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đã triển khai Kế hoạch Nava tăng cường binh lực và phương tiện chiến tranh, mưu toan trong vòng 18 tháng sẽ tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực của ta, kiểm soát lãnh thổ Việt Nam, giành lại thế chủ động trên chiến trường, làm cơ sở cho một giải pháp chính trị hòng tiếp tục sự chiếm đóng lâu dài. Khi phát hiện hướng tiến công chiến lược của ta vào Tây Bắc, Lai Châu và Thượng Lào, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã cho quân nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ, xây dựng nơi đây thành căn cứ quân sự kiên cố.

Lược đồ Chiến dịch Điện Biên Phủ

Về phía ta, tháng 9/1953, Bộ Chính trị họp bàn và quyết định mở cuộc tiến công chiến lược đông – xuân với phương châm: tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, chọn nơi sơ hở và nơi xung yếu của địch mà đánh, đẩy mạnh chiến tranh du kích, giữ vững thế chủ động, buộc địch phải phân tán lực lượng. Quân và dân ta đã phối hợp với quân và dân Lào, Campuchia liên tiếp mở chiến dịch và giành thắng lợi ở Lai Châu, Tây Nguyên, Trung Lào, Hạ Lào, Thượng Lào và Đông Campuchia, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng buộc quân Pháp lâm vào tình thế bị động chiến lược, phải phân tán lực lượng để đối phó trên khắp các chiến trường.

Điện Biên Phủ là cứ điểm có ý nghĩa chiến lược khống chế cả một vùng rộng lớn của Tây Bắc và Thượng Lào. Tuy nằm ngoài dự kiến ban đầu của Kế hoạch Nava, nhưng các tướng lĩnh Pháp và Mỹ đã tăng cường lực lượng, xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh. Ở đây tập trung 16.200 quân gồm 21 tiểu đoàn trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội không quân, 1 đại đội vận tải cơ giới. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được bố trí thành 3 phân khu Bắc, Trung, Nam với 49 cứ điểm, huy động toàn bộ lính dù và 40% lực lượng cơ động tinh nhuệ nhất của Pháp ở Đông Dương; hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm mỗi ngày có thể vận chuyển khoảng 200 đến 300 tấn hàng và thả dù từ 100 đến 150 quân, đảm bảo nguồn tiếp viện trong quá trình tác chiến. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là tập đoàn cứ điểm phòng ngự mạnh nhất của Pháp ở Đông Dương lúc bấy giờ, như “một pháo đài không thể công phá”, là nơi thu hút để tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta và là quyết chiến điểm của Kế hoạch Nava.

Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị họp và nhận định, đánh Điện Biên Phủ là một trận công kiên lớn nhất của quân đội ta từ trước tới nay và có ý nghĩa quân sự, chính trị và ngoại giao rất quan trọng. Trên tinh thần đó, Bộ Chính trị đã quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, thông qua phương án tác chiến, thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch, Đảng uỷ mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng uỷ chiến dịch. Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Mọi công việc chuẩn bị cho chiến dịch được tiến hành khẩn trương với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, các đơn vị bộ đội chủ lực nhanh chóng tập kết, bạt rừng, xẻ núi mở đường kéo pháo, xây dựng trận địa, sẵn sàng tiến công địch; dân công, thanh niên xung phong bất chấp bom đạn bảo đảm hậu cần phục vụ chiến dịch.

Ngày 25/1/1954, các đơn vị bộ đội ta ở vị trí tập kết sẵn sàng nổ súng theo phương châm tác chiến “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Nhưng nhận thấy địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự vững chắc, Bộ Chỉ huy và Đảng uỷ chiến dịch đã đưa ra quyết định mới: giữ vững quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thay đổi phương châm tác chiến sang “đánh chắc, tiến chắc”. Thực hiện phương châm mới, trận quyết chiến Điện Biên Phủ đã diễn ra trong 3 đợt:

Từ ngày 13 đến 17/3/1954, quân ta đã dũng cảm tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam và đồi Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía bắc của tập đoàn cứ điểm, diệt và bắt sống trên 2000 tên địch, phá hủy 25 máy bay, xóa sổ 1 trung đoàn, uy hiếp sân bay Mường Thanh.

17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954, bộ đội Việt Nam chiếm sở chỉ huy trung tâm, tướng Đờ Caxtơri cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ kéo cờ trắng ra hàng (Ảnh tư liệu)

Từ ngày 30/3 đến ngày 30/4/1954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía đông phân khu trung tâm, thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục tiến công, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho tập đoàn cứ điểm. Đây là đợt tấn công dai dẳng, dài ngày nhất, quyết liệt nhất, gay go nhất, ta và địch giành giật nhau từng tấc đất, từng đoạn giao thông hào. Đặc biệt tại đồi C1 ta và địch giằng co nhau tới 20 ngày, đồi A1 giằng co tới 30 ngày. Sau đợt tấn công thứ 2 khu trung tâm Điện Biên Phủ đã nằm trong tầm bắn các loại pháo của ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động, mất tinh thần cao độ.

Từ ngày 1/5 đến ngày 7/5/1954, quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía đông và mở đợt tổng công kích. Đêm ngày 6/5, tại đồi A1 trận chiến đấu giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, quân ta xông lên tiêu diệt từng lô cốt, nổ phá từng hầm ngầm. Tên quan tư chỉ huy đồi A1 và khoảng 400 tên địch còn sống sót đã ra đầu hàng. 17 giờ 30 phút ngày 7/5, ta chiếm sở chỉ huy trung tâm, tướng Đờ Caxtơri cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ kéo cờ trắng ra hàng. Lá cờ “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch. Ngay trong đêm đó quân ta tiếp tục tiến công phân khu Nam, đánh địch tháo chạy về Thượng Lào, đến 24 giờ toàn bộ quân địch đã bị bắt làm tù binh.

Tướng Đờ Caxtơri cùng toàn bộ Bộ Tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (Ảnh Tư liệu)

Sau 55 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ô tô và toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng của địch. Ngày 7/5/1954 trở thành ngày kỷ niệm kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là chiến thắng vĩ đại nhất, giáng đòn quyết định, tạo bước ngoặt làm thay đổi cục diện chiến tranh trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương; bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng tháng Tám; giải phóng miền Bắc, tạo cơ sở vững chắc để tiến lên giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã củng cố niềm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Chiến thắng Điện Biên Phủ mang tầm vóc thời đại, góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hoà bình, tiến bộ của nhân loại, đây là là chiến thắng chung của các nước trên bán đảo Đông Dương, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới. Chứng minh một chân lý của thời đại: các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược nếu có ý chí kiên cường và đường lối đúng đắn, sáng tạo, biết đoàn kết đấu tranh vì độc lập tự do thì dân tộc đó nhất định giành thắng lợi./.

Ban Tư liệu – Văn kiện (tổng hợp)

Điện Biên Phủ 1954: Gần 100 pháo đài bay B-29 của Mỹ đã sẵn sàng giải vây

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://www.bbc.com/vietnamese/forum-52520626

  • Tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng
  • Gửi tới BBC News Tiếng Việt từ Virginia, Hoa Kỳ
Getty Images

Ngày 5/04/1954, Đại sứ Mỹ Douglas Dillon đánh điện từ Paris về Washington:

“Tướng Navarre báo cáo rằng tình hình tại chiến trường này đang ở trong tình trạng bất quân bình trầm trọng… Với lực lượng đang được tăng cường, Việt Minh sẽ có thể mở cuộc tấn công mới vào giữa hay cuối tuần này. Nếu không được tiếp viện – từ đây tới lúc đó – thì số phận của Điện Biên Phủ coi như đã xong rồi.”

Gần một trăm máy bay B-29 của Mỹ đã chuẩn bị sẵn sàng, nhưng không bay vào giải vây. Pháp bại trận sau 56 ngày cầm cự.

02/09/1945: Liên Xô đã không ủng hộ Hồ Chí Minh

Đánh giá Điện Biên Phủ ‘khách quan hơn’

Hóa ra có tới hai ‘Tháng Tư Đen’

Sau Triều Tiên, Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower lo ngại

Tổng thống Eisenhower vừa lên cầm quyền, rất lo ngại Cộng sản đang đồng thời nhắm vào Đông Dương và Mã Lai Á.

Ông muốn đối phó với những đe dọa tại Đông Dương nhưng ông bị kẹt bởi hai chữ ‘thuộc địa.’ Muốn cho có danh chính, ngôn thuận, điều cần thiết là Pháp phải giải quyết vấn đề độc lập cho Việt Nam.

Trong thư gửi cho Thủ tướng Pháp René Mayer, TT Eisenhower yêu cầu hai điều: thứ nhất, “Tuyên bố cho thật rõ ràng và dứt khoát rằng Pháp đang trả quyền tự trị cho Đông Dương, và ‘tự do chính trị thực sự’ sẽ là một điều hiển nhiên sau khi chiến thắng với Cộng sản,” và thứ hai, gửi sang Việt Nam một tướng tài giỏi và nhiều kinh nghiệm giống như Tướng de Lattre (qua đời 1/1952) để làm tư lệnh thay cho Tướng Raoul Salan không hữu hiệu.

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Tổng thống Mỹ Eisenhower muốn Pháp gửi Tướng Jean E. Valluy hoặc Tướng Augustin Guillaume sang làm tư lệnh tại Việt Nam thay cho Tướng Raoul Salan

Eisenhower đề nghị hai người, Tướng Jean E. Valluy hoặc Tướng Augustin Guillaume.

Valluy là tướng đã đánh chiếm Hải Phòng hồi cuối năm 1946, Guillaume là Tổng Thanh tra quân đội Pháp ở Bắc Phi.

Nội các Trần Trọng Kim: 5 thành tựu trong 4 tháng

Băn khoăn về màu cờ cho Việt Nam năm 1945

Cuộc chiến ít biết của quân Anh ở Việt Nam

Nhưng đề nghị đến tay Mayer quá chậm vì ông đã chọn Tướng Henri Navarre rồi (1898-1983). Navarre chưa bao giờ chiến đấu ở Đông Dương.

Kế Hoạch Navarre

Navarre sang Việt Nam nhận chức ngày 20/05/1953.

Ông tung ra Kế Hoạch Navarre bắt đầu vào tháng 7/1953 với nhiều cuộc hành quân tương đối là thành công như Hirondelle (Con Nhạn) nhảy dù xuống Lạng sơn, Carmargue đánh vào vùng duyên hải giữa Quảng Trị và Huế, rồi mở đầu cuộc hành quân Mouette (Hải Âu) đánh vào phía Tây Bắc Ninh Bình. Cuộc hành quân này tương đối cũng thành công.

Con đường tới Điện Biên Phủ

Ngay từ khi tới Việt Nam, Tướng Navarre đã nghĩ đến việc tái chiếm Điện Biên Phủ, nơi mà Pháp đã rút đi từ ngày 30/11/1952.

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Tướng Navarre đã triển khai một số kế hoạch quân sự khá thành công tại Việt Nam từ 7/1953

Điện Biên Phủ là một làng hẻo lánh gần biên giới Lào còn gọi là Mường Thanh, một nơi Pháp cho là chiến lược. Navarre muốn tái chiếm nơi này để ngăn chận lực lượng Việt Minh từ miền Tây Bắc sắp sửa tiến sang Lào.

Để bảo vệ vùng thượng Lào, ông lập một căn cứ không-lục quân ở miền Thượng du Bắc Việt.

Đầu tháng 11/1953, khi ông ra lệnh cho Tướng René Cogny (1904-1968) soạn thảo một kế hoạch không vận lấy mật hiệu là Opération Castor, Cogny đồng ý một cách rất miễn cưỡng, vì chính bộ chỉ huy của ông cũng phản đối.

Người ta đồn thổi nhiều về sự bất bình giữa cặp Navarre – Cogny đã từ lâu. Cogny coi thường, lại còn chế nhạo là Navarre chỉ ngồi trong phòng gắn máy lạnh ở Sài Gòn để điều khiển.

Cogny (to lớn, hoạt bát) có nhiều kinh nghiệm, được Navarre chỉ định làm Tư lệnh Quân đội Viễn Chinh tại Bắc Việt. Cogny cũng đã làm việc dưới quyền Tướng de Lattre nên rất quen thuộc với vùng này. Navarre (mảnh dẻ, trầm lặng) thì chưa có kinh nghiệm ở Việt Nam nhưng lại là sếp của Cogny.

Theo tác giả nổi tiếng (gốc Pháp) Bernard Fall (đồng nghiệp với chúng tôi ở Howard Unversity): có lần Cogny còn dám nói “Nếu ông không phải là đại tướng thì tôi đã cho ông một cái bợp tai rồi.” Nói xong ông đứng vào thế nghiêm chào sếp rồi ra về.

Ngày 17/11/1953, Navarre họp toàn bộ tư lệnh chiến trường để hỏi ý kiến.

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Tướng Navarre cùng Tướng Cogny và các sĩ quan khác đánh giá tình hình Điện Biên Phủ hôm 29/11/1953

Mọi người, trong đó có Cogny đều phát biểu dè dặt về Opération Castor. “Tôi chỉ muốn hỏi mấy ông là liệu ta có thể thực hiện được cuộc hành quân này hay không, thế thôi,” Navarre nói lại. Tất cả đều lưỡng lự nhưng lẩm bẩm trả lời là có thể. “Được rồi, cuộc hành quân sẽ bắt đầu sau ba ngày nếu như thời tiết cho phép.”

Về phía Hoa kỳ, Tướng Mỹ O’Daniel cũng không tin tưởng vào việc tái chiếm Điện Biên Phủ.

Ông cho rằng Tướng Navarre đã rập theo kinh nghiệm “nhử địch” của Mỹ tại Triều Tiên để thí nghiệm một chiến lược gọi là ‘những trận tiêu diệt địch’ (Killer Operations).

Theo mưu kế này, một đơn vị quân đội Mỹ được dàn trải ra ở một địa điểm để làm mồi nhử địch. Khi địch tới đúng tầm của đại pháo thì sẽ bị oanh kích ào ạt.

Bây giờ vừa nhận được khí giới mới của Mỹ, Navarre cho là cơ hội đã tới để có thể bắt chước như vậy.

Ông tin vào mưu lược của mình vì nó đã giúp ông thành công khi rút lui khỏi căn cứ Nà Sản (8/08/1953): Navarre dùng kế nghi binh, triệt thoái an toàn 5.000 quân đang bị bao vây tại Nà Sản.

Nhưng về Điện Biên Phủ thì ông đã tính lầm.

“Lạy Trời mưa xuống” chẳng phải để lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cầy, lấy đầy bát cơm, nhưng là “để tôi khỏi phải nhảy vào cái thung lũng bùn lầy này,” viên chỉ huy trưởng nhảy dù đã cầu mong. Vì lệnh trên là cuộc hành quân này sẽ bắt đầu ‘nếu thời tiết cho phép,’ cho nên ông cầu cho trời mưa để hủy bỏ cuôc hành quân.

Theo Mỹ thẩm định thì Navarre đã dựa vào hai giả thiết sai lầm:

  • Việt Minh khó có thể vận dụng được quá hai sư đoàn tới điện Biên Phủ; và
  • Việt Minh không có nhiều đại bác, và nếu có thì cũng khó có thể kéo lên địa điểm trên cao.

Ngoài ra, còn khuyết điểm khác là đã không để ý nhiều tới vấn đề thời tiết. Tới mùa mưa (kéo dài 5 tháng), những đám mây dày đặc bao trùm thung lũng, gây trở ngại cho các phi vụ thả dù và tiếp tế. Với lượng nước mưa đổ xuống lên tới 62 inches, Điện Biên Phủ trở thành một vũng lầy.

Ngày 20/11/1953 – đúng ba ngày sau buổi họp với bộ tư lệnh – 60 chiếc máy bay Dakota, phía trước có sơn màu xanh, vàng, và đỏ, theo nhau cất cánh từ Hà Nội, yểm trợ bằng những máy bay khu trục, vẽ lên bầu trời một giải dài tới 7 dặm.

Gần 3.000 lính dù, đơn vị tinh nhuệ nhất của đoàn quân Viễn chinh Pháp nhảy xuống Điện Biên Phủ.

Tướng Cogny chỉ định Đại tá Christian de Castries (1902-1991) chỉ huy mặt trận. Cogny nổi tiếng về kỵ binh, mà chiến trường Điện Biên Phủ lại đặt nặng vai trò của kỵ binh.

Tới chiến trường, de Castries cho xây ngay những căn cứ pháo binh làm tuyến bảo vệ doanh trại.

AFP
Chụp lại hình ảnh,Đại tá Christian de Castries (thứ hai, từ phải sang) được chỉ định chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ

De Castries là sĩ quan có tài, lại đẹp trai. Ông đặt tên cho ba pháo đài là Gabrielle (phía Bắc), Beatrice (phía Đông) và Isabelle (phía Nam). Lúc đó ít ai biết rằng đó là tên ba cô bồ của Đại tá de Castries.

Navarre tiên đoán sẽ thắng trận vào ngày Quốc khánh của Pháp 4/07/1954.

Tướng Mỹ O’Daniel không tin. Ngày 3/02, ông đích thân bay tới quan sát chiến trường và thấy ngay là Navarre đã tính lầm: “Quân đội Pháp đã không chiếm đóng miền đồi núi cao, và như vậy địch chỉ cần vài ba tiểu đoàn pháo là có thể uy hiếp, đặt căn cứ này vào tình trạng không thể giữ nổi.”

Hai giờ trước khi O’Daniel đáp, Việt Minh dùng đại bác 75 ly nã ngay 103 quả vào doanh trại Pháp.

Đêm ngày 13/03, ngày đầu trong 56 ngày tấn công, quân đội Việt Minh từ đồi núi tràn xuống, trong khi gần một trăm khẩu 105 ly và 75 ly từ trên cao, không cần phải câu vòng, cứ thế mà pháo thẳng xuống doanh trại Pháp. Chỉ một ngày đã chiếm được pháo đài Beatrice, và bốn ngày sau, Gabrielle.

Sau khi Pháp yêu cầu Mỹ gấp rút gửi thêm quân viện, Tổng thống Eisenhower họp khẩn để vận động một nghị quyết của Quốc hội cho phép ông ra lệnh oanh tạc.

Quốc hội đồng ý, nhưng việc Mỹ can thiệp phải kèm theo ba điều kiện:

  • Phải có sự tham gia của Anh;
  • Pháp trả ngay độc lập cho các quốc gia Đông Dương; và
  • Phải đồng ý tiếp tục chiến đấu sau Điện Biên Phủ.
Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Pháp đã đánh giá sai năng lực và tinh thần chiến đấu của lực lượng Việt Minh

Tháng Tư Đen của Pháp

Trong khi Washington còn đang bàn định xem làm sao để có được sự đồng ý của Anh thì Đại sứ Mỹ Douglas Dillon đã đánh điện về cho Ngoại Trưởng Dulles (độc giả lưu ý tới nhiều sự kiện dồn dập trong ngày 5/04/1954):

Ngày 5/04/1954 – Mật Điện 3710:

KHẨN. Lúc 11:00 đêm Chủ Nhật, tôi được mời tới Điện Matignon gấp để tham dự một cuộc họp nội các thu hẹp.

“Khi tôi tới nơi, Ngoại trưởng Bidault tiếp tôi tại văn phòng Tổng thống và sau mấy phút thì Tổng thống Auriol tới. Họ cho tôi hay rằng sự can thiệp bằng không lực Hoa Kỳ từ các mẫu hạm ngoài khơi vào Điện Biên Phủ là điều hết sức cần thiết trong lúc này để cứu vãn tình hình.

“Tướng Navarre báo cáo rằng tình hình tại chiến trường này đang ở trong tình trạng bất quân bình trầm trọng… Với lực lượng đang được tăng cường, Việt Minh sẽ có thể mở cuộc tấn công mới vào giữa hay cuối tuần này. Nếu không được tiếp viện – từ đây tới lúc đó – thì số phận của Điện Biên Phủ coi như đã xong rồi.”

“Ông Bidault đã kết luận rằng dù tốt hay xấu, giờ đây số phận của Đông Nam Á tùy thuộc vào Điện Biên Phủ. Thêm nữa, thành công hay thất bại tại Hội Nghị Geneva cũng đều tùy theo trận Điện Biên Phủ kết thúc ra sao. Vì vậy, đây là một yêu cầu khẩn thiết của Pháp để Hoa kỳ có một hành động hết sức quan trọng…”

Ngày 5/04/1954 – Ngoại trưởng Dulles trả lời:

“Hoa Kỳ đang làm mọi việc có thể như đã được thông báo trong công điện tôi gửi số 5175 – để chuẩn bị dư luận cũng như Quốc hội và căn bản hiến pháp nhằm đi tới một hành động thống nhất với Đồng minh. Hành động của Hoa Kỳ không thể có được trừ khi có sự tham gia chặt chẽ của Anh Quốc.

Ngày 5/04/1954 – TT Eisenhower thuyết phục Thủ tướng Churchill:

“Nếu tôi có thể nhắc lại lịch sử, chúng ta đã không ngăn chận Hirohito, Mussolini, Hitler vì đã không cùng hành động chung với nhau, và cho kịp thời,” ông than phiền rồi đi tới kết luận, “chính vì thế nên đã dẫn tới một thảm kịch bi đát và một sự nguy hiểm tuyệt vọng trong mấy năm sau. Và như vậy, chúng ta đã học được điều gì chưa trong kinh nghiệm ấy?”

Ngày 5/04/1954 – Ngoại trưởng Bidault tuyệt vọng:

“Thật là bất hạnh vì thời gian để sắp xếp một hành động thống nhất như vậy đã qua đi rồi, và số phận Điện Biên Phủ sẽ đi đến chỗ quyết định nội trong mười ngày tới.”

Gần 100 pháo đài bay B-29 của Mỹ chuẩn bị giải vây Điện Biên Phủ

Ngày 6/04/1954:

Ủy ban Đặc nhiệm của TT Eisenhower đề nghị một kế hoạch để can thiệp quân sự với mật hiệu là “Kế hoạch Kên Kên” (Vautour). Theo đó, Mỹ dùng B-29 từ Okinawa vào oanh tạc. Có ba bước:

  • Một: bốn sư đoàn lục quân Mỹ cùng với một sư đoàn dù được yểm trợ bằng không lực chiếm vùng Yên Bái, Thái Nguyên và Tuyên Quang để chận tuyến liên lạc và có thể tiêu diệt ba sư đoàn Việt Minh;
  • Hai: một sư đoàn đánh chiếm căn cứ Hòa Bình, đang khi một sư đoàn khác đổ bộ tại Thanh Hóa và tiến chiếm Hội Xuân;
  • Ba: thiết lập biên phòng ở ranh giới với Trung Quốc.

Hai hàng không mẫu hạm Boxer và Essex lừ lừ tiến về phía Vịnh Bắc Việt, và gần một trăm chiếc pháo đài bay B-29 ở Okinawa và Phi Luật Tân đuợc lệnh báo động, chuẩn bị bay tới Điện Biên Phủ để giải vây.

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Phi cơ B-29 từng được sử dụng để ném bom Yokohama của Nhật Bản trong Thế chiến II

Chuẩn tướng Joseph Caldara đã bay vào Sài Gòn trước để thẩm định tình hình. Ông còn tự lái chiếc máy bay thám thính B-17 tới Điện Biên Phủ để quan sát chiến trường.

Ngày 21/04/1954 – Pháp khẩn thiết

Thủ tướng Daniel yêu cầu, “Nếu có được một cuộc oanh tạc của Mỹ tại Điện Biên Phủ thì làm cho tinh thần quân đội ở đó lên ngay và sẽ thay đổi hẳn tình hình.”

Đồng thời, Ngoại Trưởng Bidault thúc giục Mỹ “khẩn trương xem xét việc can thiệp bằng quân sự để cứu vãn tình hình,” vì “nếu chúng tôi thất bại nơi đây, nhân dân Pháp sẽ đi tới kết luận rằng dù có cố gắng thêm nữa cũng sẽ không thành công, cho nên phải triệt thoái khỏi chiến trường.”

Thủ tướng Anh Churchill cực lực phản đối Mỹ can thiệp

Mặc dù Bidault khẩn khoản yêu cầu, Churchill vẫn tiếp tục phản đối.

Khi phải miễn cưỡng đi họp Hội Nghị Geneva, Dulles đã nhân cơ hội để vận động thêm.

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Thủ tướng Anh Winston Churchill không đồng ý với ý tưởng để Anh can thiệp vào Đông Dương

Ngày 25/04/1954 – Dulles báo cáo:

“Tôi gặp ông ta (Ngoại trưởng Anh Anthony) Eden chiều nay lúc 10:15 khi ông ta từ London. Ông ta đã lĩnh ý của Thủ tướng Churchill, nội các và các tướng lãnh. Eden nói rằng: Anh Quốc cực lực phản đối bất cứ sự can thiệp nào tại Điện Biên Phủ vì họ không nghĩ rằng nó sẽ có được một ảnh hưởng quyết định, và hành động này sẽ không được nhân dân Anh Quốc hay công luận thế giới thông cảm…

“Eden đã gặp Bidault tại phi trường Orly đêm nay trên đường ghé qua Paris và đã cho ông ta hay về lập trường của nước Anh…

“Với tình hình hiện tại của quân đội Pháp mà Eden đã quá rõ, tôi (Dulles) nói với ông ta rằng tôi không còn tin Pháp sẽ có đủ ý chí mà đương đầu với đối phương của họ tại Hội nghị Geneva đâu. Nhưng Eden lại nói rất rõ về việc Anh Quốc phản đối việc Hoa Kỳ can thiệp bằng không lực tại Điện Biên Phủ cũng như về việc họ không đồng ý trực tiếp tham gia vào chiến trường Đông Dương…

“Tôi nói với ông Eden rằng… ‘thật là một thảm trạng nếu ta không có những biện pháp để ngăn chận việc mất Đông Dương.”

Ngày 26/04 – Dulles cảnh báo: Anh đang xúi Pháp bỏ cuộc

Ngay ngày hôm sau (26/04), Dulles lại gửi công điện từ Geneva trình bày là ‘nước Anh đang xúi giục Pháp đi về chiều hướng đầu hàng’:

“Sau trưa, tôi có gặp Eden và Bidault khoảng một giờ tại biệt thự của Bidault… Tôi lưu ý họ rằng ngưng chiến lúc này tại Điện Biên Phủ tức là đầu hàng và còn có thể đưa tới nguy hiểm là người bản xứ nổi dậy sát hại người Pháp…

“Theo sự suy nghĩ của tôi, Eden đã nhận được chỉ thị là phải khuyến khích Pháp chấp nhận hầu như bất cứ giải pháp nào để đi tới chỗ chấm dứt chiến tranh. Sở dĩ như vậy là vì Chính phủ Anh sợ rằng nếu giao tranh cứ tiếp tục thì Mỹ sẽ bằng cách này hay cách khác nhảy vào can thiệp, đưa tới hậu quả là Trung Quốc sẽ tham chiến và dẫn tới một cuộc chiến rộng lớn hơn nữa…

“Sáng mai tôi sẽ gặp ông Eden một mình và sẽ cho ông ta biết thẳng thừng rằng tôi hết sức mất tinh thần về việc nước Anh đang xúi giục Pháp đi về hướng đầu hàng, một việc đi ngược lại quyền lợi không những (tôi xin lặp lại không những) của chúng ta mà của cả nước Anh nữa.”

Sau cùng, Tham Mưu Trưởng Ridgeway cố vấn TT Eisenhower không nên can thiệp

TT Eisenhower họp khẩn với Ngoại trưởng Dulles để bàn việc cứu vãn tình hình, và đi tới quyết định là sẽ yêu cầu Quốc hội đồng ý cho mang quân đội vào Việt Nam để can thiệp nếu Pháp đồng ý thỏa mãn đòi hỏi của Mỹ là để cho Việt Nam được độc lập thực sự và để cho Mỹ đào tạo quân đội bản xứ.

Nhưng tới đây thì TT Eisenhower lại gặp thêm một khó khăn nữa: Tướng Matthew Ridgeway, Tham mưu trưởng Lục quân lại không ủng hộ và khuyên ông không nên can thiệp.

Ridgeway là người đã thay thế Tướng MacArthur ở Triều Tiên. Ông có uy tín lớn đối với TT Eisenhower.

Ông ước tính rằng muốn chiến thắng, sẽ cần từ một nửa triệu tới một triệu quân, và phải động viên khoảng 100.000 người một tháng. Ngoài ra, còn phải xây cất cầu cống, phi trường, đường xá, hải cảng. Bết bát nhất là điều kiện về địa hình: rừng núi, lũ lụt ở Đông Dương lại còn khó khăn hơn cả ở Triều Tiên.

Vì Chính phủ Anh không chịu cộng tác và Tướng Ridgeway không ủng hộ, sau cùng TT Eisenhower đã bỏ ý định can thiệp bằng quân sự.

Ngày 7/05/1954, Điện Biên Phủ thất thủ – đúng một tuần sau ngày 30 tháng Tư.

Getty Images

Sau Điện Biên Phủ, Mỹ thôi thúc Pháp “cứ tiếp tục chiến đấu, hãy coi đây chỉ là một thất bại trong một trận chiến, chứ không phải là đã bại trận. Và Pháp cũng chỉ mất đi khoảng nửa sư đoàn. Khu vực chiến lược quan trọng là toàn bộ lãnh thổ nằm sau ‘Tuyến De Lattre’ (nối từ Vịnh Hạ Long tới Vĩnh Yên về phía Tây, và theo Sông Đáy bọc xuống Phát Diệm rồi ra biển về phía Nam) thì vẫn còn nguyên vẹn.

Nhưng dù Mỹ can ngăn, Pháp đã đi tới quyết định bỏ cuộc.

Bài học từ Điện Biên Phủ

Như vậy, xét cho cùng thì lý do thất bại không phải là quân sự mà là chính trị. Đó là vì nhân dân và lãnh đạo Pháp đã nản lòng, thối chí.

Biến cố này xác định một lần nữa bài học cho những nhà lãnh đạo, những người chỉ huy các cuộc chiến, rằng: “quân sự là chính trị theo một phương tiện khác – “war is politics by other means.”

Trong nhiều tình huống chỉ cần một chiến thắng – hay được dư luận coi như là một chiến thắng: đánh một trận vào đúng lúc, đúng chỗ, đúng mục tiêu là có thể kết thúc được cuộc chiến.

Lúc ấy, dư luận cho rằng Pháp đã thất trận ở Paris chứ không phải ở Điện Biên Phủ, cũng như sau này, biến cố Mậu Thân được coi là Điện Biên Phủ của Tổng thống Lyndon Johnson, và Mỹ đã thất bại ở Washington chứ không phải ở Sài Gòn.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của Tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng nguyên giáo sư kinh tế tại N.C. Wesleyan College, Trinity College, và Howard University, và là kinh tế gia của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (1966-1070). Ông là cựu Tổng Trưởng Kế Hoạch Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1973 đến 1975, và là phụ tá về Tái Thiết của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Hiện định cư tại Hoa Kỳ, ông đã xuất bản – ngoài những sách về kinh tế – các cuốn “The Palace File” (Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập) (1986), “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” (2005), “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” (2010) và “Khi Đồng Minh Nhảy Vào” (2016).

Đạo trị nước anh minh của vua Lê Thánh Tông: ‘Lễ nghĩa là để sửa tốt lòng dân’

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Thanh Ngọc

Ảnh ghép minh họa.

“Dùng mệnh lệnh, pháp luật để dẫn dắt chỉ đạo dân, dùng hình phạt để quản lý dân, làm như vậy tuy có giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ, sỉ nhục. Dùng đạo đức để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng lễ nghĩa để giáo hóa dân, làm như vậy chẳng những dân hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội, mà còn cam tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ mặt tư tưởng”… (Trích Luận Ngữ – Khổng Tử).

Trong xã hội hiện đại, pháp luật ngày càng kiện toàn, nhưng hành vi của con người vẫn phóng túng, tội phạm và các tệ nạn xã hội xuất hiện ngày càng nhiều: đồ ăn có độc, thuốc giả, mại dâm, ma tuý, tham ô, trộm cắp, giết người, v.v.., thậm chí độ tuổi đối tượng phạm pháp ngày càng trẻ hoá. Điều này cho thấy luật pháp kiện toàn không phải là điều kiện đủ để có một xã hội hài hoà, an định.

Vua Lê Thánh Tông: Một tấm gương sáng về đạo đức

“Lòng vì thiên hạ lo âu
Thay việc Trời dám trễ đâu
Trống rời canh còn đọc sách
Chiêng xế bóng chửa thôi chầu…”

Mấy vần thơ tự bạch của Lê Thánh Tông (1442 – 1497) phần nào đã nói lên đức độ của một trong những vị vua hiền minh bậc nhất lịch sử Việt Nam. Vua Lê Thánh Tông đăng cơ lúc 18 tuổi, trị vì 38 năm với hai niên hiệu là Quang Thuận (1460 – 1469) và Hồng Đức (1470 – 1497).

Sử thần Vũ Quỳnh ghi: “Vua tự Trời cao siêu, anh minh quyết đoán, có hùng tài đại lược, võ giỏi, văn hay, mà thánh học rất chăm, tay không lúc nào rời quyển sách. Các sách kinh sử, các sách lịch toán, các việc Thánh thần, cái gì cũng tinh thông”.

Không chỉ tài năng xuất chúng, vua Lê Thánh Tông còn là một tấm gương sáng về đức hạnh: “Sửa tam đức để thiện lòng người, coi học hành để chấn hưng văn hóa… Kính tôn bậc nho cố cựu, lễ phép với bậc đại thần. Thưởng phạt thì rõ ràng. Chính lệnh thì nghiêm minh… Siêng cần dân sự thì lấy việc làm ruộng, trồng dâu làm gốc… Không chuộng châu báu lạ kỳ, không ưa xa xỉ… Biết các quan là nguồn gốc trị loạn, nên đem liêm giới khuyên răn. Hết lòng hiếu kính triều trước, mà bỏ luôn thú vui phóng túng”.

Tượng đồng vua Lê Thánh Tông ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội (ảnh: Wikipedia).

Đạo trị nước của vua Lê Thánh Tông: Đề cao lễ nghĩa

Khi đổi niên hiệu từ Quang Thuận sang Hồng Đức, nhà vua nói: “Người ta sở dĩ khác với loài cầm thú là vì có Lễ để làm khuôn phép giữ gìn”.

Năm 1485, vua dụ các quan phủ, huyện, châu trong nước rằng: “Lễ nghĩa để sửa tốt lòng dân, nông tang để có đủ cơm áo, hai việc cần kíp đó của chính sự là chức trách của các thú mục”.

Thời Hồng Đức, hệ thống pháp luật rất kiện toàn, tuy nhiên pháp luật chỉ là biện pháp bổ trợ cho đường lối giáo hoá bằng lễ (đức chủ – hình bổ). Tư tưởng “Đức trị” được vua Lê Thánh Tông kế thừa từ Nho gia. Sách “Luận Ngữ” của Khổng Tử viết: “Dùng mệnh lệnh, pháp luật để dẫn dắt chỉ đạo dân, dùng hình phạt để quản lý dân, làm như vậy tuy có giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ, sỉ nhục. Dùng đạo đức để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng lễ nghĩa để giáo hóa dân, làm như vậy chẳng những dân hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội, mà còn cam tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ mặt tư tưởng”.

Dưới sự trị vì anh minh sáng suốt của vua Lê Thánh Tông, Đại Việt đã trở thành một cường quốc ở Đông Nam Á, bờ cõi mở mang, kinh tế phồn thịnh, xã hội thái bình.

Đề cao đạo đức nhân nghĩa – lời giải cho các vấn đề xã hội đương đại

Như vậy, muốn giải quyết tận gốc các vấn đề xã hội, cần nhắm thẳng vào cái tâm con người. Nếu như mỗi người đều có tiêu chuẩn đạo đức cao để ước thúc chính mình, thì dù không có luật pháp trừng trị, dù không có người giám sát, họ vẫn sẽ cư xử đúng đắn. Trong lịch sử có chép lại không ít ví dụ.

Dương Chấn là vị quan thanh liêm nổi tiếng thời Đông Hán. Truyện kể rằng: Trên đường Dương Chấn đến nhậm chức Thái Thú Đông Lai có đi qua Xương Ấp. Huyện lệnh của Xương Ấp là Vương Mật – người được Dương Chấn đề bạt khi ông đang làm Thứ Sử Kinh Châu. Vương Mật nghe nói Dương Chấn đi ngang qua địa phương, vì để báo đáp ân tình của Dương Chấn năm xưa đã đề bạt mình nên đã đến gặp Dương Chấn.

Vương Mật có mang theo năm cân bạc trắng, đợi đến nửa đêm lấy ra để biếu tặng Dương Chấn. Dương Chấn nói: “Chúng ta là bạn cũ, ta rất hiểu thái độ làm người của ông, ông cũng hiểu biết ta, vì sao lại làm thế?”.

Vương Mật nói: “Bây giờ là đêm khuya khoắt vắng người, không có ai biết cả”.

Cổ nhân có tiêu chuẩn đạo đức cao thượng, biết kính sợ Thiên – Địa, tin rằng mỗi một hành vi, lời nói, ý niệm đều có Thần minh giám sát. Văn hoá truyền thống của cả Nho gia, Phật gia và Đạo gia đều phổ biến quy luật nhân quả báo ứng, con người làm ra sự việc gì trước sau đều nhận lãnh hậu quả. Bởi thế nên, dầu ở chỗ không người cũng tự biết ước chế cái tâm của mình cho phù hợp đạo nghĩa.

Thiết nghĩ, nếu con người hiện đại có thể quay trở về với những giá trị tốt đẹp của văn hoá truyền thống, thì chuẩn mực đạo đức có thể hồi thăng, các vấn đề xã hội nhức nhối hiện nay cũng sẽ tự có lời giải đáp.

Thanh Ngọc

Theo DKN.TV