Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp nhận bản thảo Bộ Quốc sử

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Bộ bản thảo gồm 25 tập thông sử, 5 tập Biên niên sử với sự tham gia của gần 300 nhà khoa học, thực hiện trong 5 năm.

Lễ tiếp nhận được tổ chức sáng 12/11, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cùng đại diện các bộ, ban, ngành, nhà khoa học tham dự sự kiện.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Đình Nam.
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Đình Nam.

Đề án “Nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam” (còn gọi là Quốc sử) biên soạn gồm 25 tập thông sử (trong đó, 13 tập Lịch sử Việt nam thời kỳ cổ-trung đại, 12 tập thời kỳ cận-hiện đại) và 5 tập Biên niên sự kiện lịch sử (trong đó, 3 tập thời kỳ cổ-trung đại, 2 tập thời kỳ cận-hiện đại). Đề án bắt đầu thực hiện từ năm 2015, Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan chủ trì phê duyệt và tổ chức thực hiện.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, Đề án đã huy động gần 300 nhà khoa học thuộc các cơ quan nghiên cứu và giảng dạy lịch sử trên cả nước, tại các viện nghiên cứu, các trường đại học, tập trung chủ yếu ở Hà Nội, Thừa Thiên – Huế và TPHCM thực hiện.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam (giữa) và Thứ trưởng Phạm Công Tạc (bìa trái) chụp ảnh cùng các thành viên nghiên cứu. Ảnh: Đình Nam.
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam (giữa) và Thứ trưởng Phạm Công Tạc (bìa trái) chụp ảnh cùng các thành viên nghiên cứu. Ảnh: Đình Nam.

Ông cho biết, lần đầu tiên một Đề án đặc biệt lớn về quy mô, phạm vi nghiên cứu, nhận được sự quan tâm của giới học giả trong, ngoài nước và cả người dân. Trong các chương trình về khoa học xã hội và nhân văn, đây là Đề án đầu tiên thực hiện việc xây dựng Thể lệ biên soạn để bảo đảm sự thống nhất của công trình. Thể lệ xác định rõ yêu cầu chung của công trình, mối quan hệ giữa các tập và quy định cụ thể về bố cục nội dung và các quy định trong cách trình bày của mỗi tập, bảo đảm ngay từ khi bắt đầu thực hiện, Ban Biên soạn của các đề tài cùng triển khai trên một quỹ đạo thống nhất.

Kinh phí thực hiện Đề án được cấp bởi Quỹ Nafosted. “Đây cũng là một trong các nhiệm vụ khoa học công nghệ đầu tiên thực hiện theo phương thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng”, Thứ trưởng Phạm Công Tạc nói.

Tại lễ tiếp nhận, đại diện các nhóm nghiên cứu đã báo cáo về quá trình thực hiện cũng như nội dung của từng nhiệm vụ trong Đề án. Thứ trưởng Phạm Công Tạc cho biết sau tiếp nhận bản thảo, sau đó sẽ tổ chức thẩm định chuyên gia, đánh giá nghiệm thu các đề tài thuộc đề án.

“Các đề tài tiếp tục điều chỉnh bản thảo theo ý kiến chuyên gia và kết luận của Hội đồng khoa học, đối chiếu giữa các tập Chính sử, Biên niên, để bảo đảm chất lượng biên soạn, tính thống nhất của bộ Quốc sử trước khi đưa vào biên tập xuất bản”, Thứ trưởng Phạm Công Tạc cho biết.

GS Nguyễn Văn Khánh (bìa phải) bàn giao bản thảo cho ông Đỗ Tiến Dũng, Giám đốc Quỹ Nafosted. Ảnh: Đình Nam.
GS Nguyễn Văn Khánh (bìa phải) bàn giao bản thảo cho ông Đỗ Tiến Dũng, Giám đốc Quỹ Nafosted. Ảnh: Đình Nam.

Phát biểu tại sự kiện, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng chưa có đề tài nào sau bước nghiệm thu cấp cơ sở lại có lễ bàn giao. Trong hàng nghìn đề tài, nhiệm vụ cấp Nhà nước nếu kể về số nhà khoa học tham gia, kinh phí lớn hơn, trang tài liệu sẽ có nhiều đề tài có số lượng nhiều hơn nhưng với đề tài này có nhiều điểm đặc biệt, thu hút sự quan tâm bởi ý nghĩa sự trân trọng quá khứ, các thời đại đã qua.

Phó Thủ tướng cho rằng, việc nghiên cứu để ra sản phẩm là một bộ Quốc sử, Bách khoa thư… mới hoàn thành nhiệm vụ cấp cơ sở. Sẽ còn nhiều bước tiếp theo để đi đến bước cuối cùng để xuất bản. Nhưng kết quả được bàn giao ngày hôm nay là sự đóng góp không mệt mỏi của các nhà khoa học lịch sử, trong đó có cố GS Phan Huy Lê. “Các nhà khoa học, lịch sử tạo nên sản phẩm là kết tinh của “hồn thiêng sông núi” để tồn tại mãi với thời gian”, Phó Thủ tướng nói.

Bích Ngọc

Hoàn thành bản thảo 30 tập bộ Quốc sử Việt Nam

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Bộ Quốc sử Việt Nam được biên soạn gồm 25 tập thông sử và 5 tập Biên niên sự kiện lịch sử với sự tham gia của gần 300 nhà khoa học hoàn thành bản thảo và được bàn giao cho Bộ KH-CN.

GS sử học Nguyễn Văn Khánh (bìa phải) bàn giao bản thảo cho đại diện Bộ KH-CN /// Ảnh Đinh Hoàn

GS sử học Nguyễn Văn Khánh (bìa phải) bàn giao bản thảo cho đại diện Bộ KH-CN ẢNH ĐINH HOÀN

Tại lễ tiếp nhận bản thảo sáng nay, 12.11, Thứ trưởng Bộ KH-CN Nguyễn Công Tạc cho biết, trong lịch sử Việt Nam, đã có nhiều bộ Quốc sử được biên soạn và khắc in, nhưng hiện chỉ còn 3 bộ là: Đại Việt sử ký toàn thư; Đại Việt sử ký tiền biên; và Khâm định Việt sử thông giám cương mục.

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhiều bộ thông sử về lịch sử Việt Nam được biên soạn và xuất bản, nhưng chỉ có bộ Lịch sử Việt Nam gồm 2 tập do Uỷ ban KH-XH Việt Nam chủ trì là bộ sử mang tính quốc gia đầu tiên (tập 1 xuất bản năm 1971, tập 2 xuất bản năm 1985).Sau 35 năm kể từ khi phát hành tập 2 bộ Lịch sử Việt Nam, Việt Nam và toàn thế giới đã trải qua nhiều sự kiện trọng đại, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi phải sớm có một bộ quốc sử mới được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với tư tưởng chính trị – xã hội thời đại.

Mặt khác, bộ Lịch sử Việt Nam với sứ mệnh là Bộ Quốc sử là cơ sở khoa học để các nhà lãnh đạo, quản lý tham khảo trong công việc hoạch định chính sách, xử lý các vấn đề liên quan đến lịch sử và giới thiệu lịch sử Việt Nam ra nước ngoài.

“Trên cơ sở đề xuất của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, được sự ủng hộ của lãnh đạo Ban Tuyên giáo T.Ư,  lãnh đạo Chính phủ và các nhà khoa học, sử học, Ban Bí thư T.Ư Đảng đã có văn bản giao Bộ KH-CN chủ trì phê duyệt và tổ chức thực hiện Đề án nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam. Ban Bí thư đã xác định bộ sách Lịch sử Việt Nam là bộ Quốc sử mang tính quốc gia chính thống””, ông Tạc nói.Sau 5 năm (2015-2020) nghiên cứu, biên soạn, đề án KH-CN cấp Quốc gia “Nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam” với sự tham gia đông đảo gần 300 nhà khoa học đã hoàn thành đảm bảo chất lượng và tính thống nhất của bộ Quốc sử.

Bộ Lịch sử Việt Nam được biên soạn gồm 25 tập thông sử (trong đó, 13 tập Lịch sử Việt nam thời kỳ cổ-trung đại, 12 tập thời kỳ cận-hiện đại) và 5 tập Biên niên sự kiện lịch sử (trong đó, 3 tập thời kỳ cổ-trung đại, 2 tập thời kỳ cận-hiện đại).Bộ Lịch sử Việt Nam được hoàn thành, nghiệm thu đưa vào phục vụ nhân dân sẽ là cột mốc quan trọng đánh dấu một chặng đường phát triển của Sử học Việt Nam.Phát biểu tại lễ tiếp nhận, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh, việc nghiên cứu để ra sản phẩm bộ Quốc sử… mới hoàn thành nhiệm vụ cấp cơ sở, nhưng kết quả ngày hôm nay là sự đóng góp không mệt mỏi của các nhà khoa học lịch sử, trong đó có cố GS-Phan Huy Lê.

Hoàn thành bản thảo 30 tập bộ Quốc sử Việt Nam - ảnh 1Phó thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại lễ bàn giao bản thảo Bộ Quốc sử Việt Nam ẢNH ĐINH HOÀN

Đến nay, việc nghiên cứu, biên soạn bộ Quốc sử đã hoàn thành một bước rất quan trọng, cơ bản. Phó thủ tướng đề nghị Bộ KH-CN khẩn trương, nghiêm túc và cẩn trọng nghiệm thu đề án ở cấp nhà nước. Các cơ quan hữu quan cùng nhau chuẩn bị các công việc cần thiết để có thể xuất bản bộ Quốc sử trong thời gian tới.

Ngoài ra, theo Phó thủ tướng, các đề án, đề tài khác như bộ Quốc chí, bộ Bách khoa thư, dự án Dịch thuật và phát huy giá trị tinh hoa các tác phẩm kinh điển phương Đông cần đẩy nhanh tiến độ nhằm hình thành những công trình đồng bộ, cùng nhau hợp thành những bộ phận quan trọng của khoa học xã hội và nhân văn.”Đây là trách nhiệm của chúng ta đối với quá khứ, lịch sử, tổ tiên; là trách nhiệm với tương lai và ngay cả hiện tại”, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh.

Bàn giao bản thảo bộ quốc sử ‘tôn trọng sự thật lịch sử’

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

TTO – Bộ Khoa học và công nghệ vừa tổ chức tiếp nhận bản thảo bộ quốc sử đồ sộ với 30 tập do gần 300 nhà khoa học trên cả nước biên soạn trong 5 năm trên tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử, do cố giáo sư Phan Huy Lê chủ biên.

Cố GS Phan Huy Lê
Bàn giao bản thảo bộ quốc sử tôn trọng sự thật lịch sử - Ảnh 1.

Phó thủ tướng Vũ Đức Đam cùng một số tác giả trong lễ bàn giao bản thảo bộ quốc sử ngày 12-11 – Ảnh: BTC

Bộ bản thảo gồm 25 tập thông sử, 5 tập biên niên sử thuộc bộ quốc sử Việt Nam vừa được bàn giao cho Bộ Khoa học và công nghệ ngày 12-11 trước sự chứng kiến của Phó thủ tướng Vũ Đức Đam và đại diện các bộ, ban ngành, nhà khoa học.

Sau lễ tiếp nhận này sẽ là quá trình nghiệm thu, chỉnh sửa, biên tập, chuẩn bị xuất bản trong thời gian tới.

Bộ bản thảo này là đề án Nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam (còn gọi là Quốc sử) biên soạn gồm 25 tập thông sử (trong đó, 13 tập Lịch sử Việt Nam thời kỳ cổ – trung đại, 12 tập thời kỳ cận – hiện đại) và 5 tập Biên niên sự kiện lịch sử (trong đó, 3 tập thời kỳ cổ – trung đại, 2 tập thời kỳ cận – hiện đại).

Đề án bắt đầu thực hiện từ năm 2015, Bộ Khoa học và công nghệ là cơ quan chủ trì phê duyệt và tổ chức thực hiện, Quỹ Nafosted cấp kinh phí theo hình thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng.

Gần 300 nhà khoa học thuộc các cơ quan nghiên cứu và giảng dạy lịch sử trên cả nước, tại các viện nghiên cứu, các trường đại học, tập trung chủ yếu ở Hà Nội, Thừa Thiên – Huế và TP.HCM được huy động tham gia biên soạn bộ quốc sử đồ sộ này.

Giáo sư Phan Huy Lê mất khi bộ sách đang được biên soạn vào 2 năm trước, nhưng tên ông vẫn trân trọng được đặt vào vị trí chủ biên bộ sách.

Chia sẻ với Tuổi Trẻ Online, PGS.TS Trần Đức Cường – chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam – một trong các tác giả tham gia viết bộ quốc sử – cho biết trước khi giáo sư Phan Huy Lê mất thì toàn bộ 30 tập của bộ quốc sử đã hoàn thành bản sơ thảo.

Trong đó, mỗi tập đều ghi dấu công lao to lớn của giáo sư Phan Huy Lê. Giáo sư Lê cũng là người chịu trách nhiệm chính về toàn bộ nội dung của bộ sách nên đương nhiên ông vẫn là chủ biên của bộ sách này.

Còn nhiều công việc phải làm để xuất bản được bộ sách này.

Theo Bộ Khoa học và công nghệ, ban biên soạn đã thực hiện nghiêm túc tinh thần chỉ đạo của Ban Bí thư, coi đây là bộ quốc sử mang tính quốc gia, chính thống.

Bộ sách được biên soạn trên tinh thần “kế thừa những bộ sử trước đây, tổng kết và nâng cao được toàn bộ kết quả nghiên cứu của giới sử học cả nước, tiếp thu có chọn lọc thành tựu nghiên cứu của các nhà sử học nước ngoài về lịch sử Việt Nam từ trước tới nay”.

Bộ quốc sử cũng đồng thời “có những luận giải mới, những đánh giá phù hợp về những vấn đề khoa học lịch sử đang đặt ra”, “quán triệt sâu sắc quan điểm khoa học, biện chứng, khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể; tôn trọng sự thật lịch sử”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc (tham gia biên soạn tập biên niên các sự kiện lịch sử thời kỳ cận đại) không bình luận về những tiến bộ trong nghiên cứu lịch sử của bộ sách này mà cho biết tất cả những nguyên tắc biên soạn trên là yêu cầu mà cơ quan nhà nước đưa ra khi đặt hàng ban biên tập, còn các tác giả đáp ứng được đến đâu những đòi hỏi này trong bộ sử thì phải đợi cơ quan thẩm định sẽ thẩm định.

“Trận chiến ngày ấy không thể mờ”

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

TT – Biết tôi chuẩn bị lên Lạng Sơn, biên giới phía Bắc, trước chuyến đi đại tá Đỗ Phấn Đấu, chính ủy Đoàn kinh tế quốc phòng 337 (trước đây là sư đoàn 337), bảo: “Lên đó rồi thì cố lên đồi Pa Pách thắp hương cho anh em liệt sĩ 337. Nếu được thì đi tìm ngọn đồi mang tên Vi Văn Thắng nhé”.

EIsGLVtl.jpg
Miếu thờ do người dân xã Hồng Phong dựng lên bên bãi đất nơi ngày xưa chôn cất tạm thời các liệt sĩ hi sinh trong cuộc chiến chống quân Trung Quốc xâm lược – Ảnh: Ngọc Quang

Đồi Pa Pách là nơi diễn ra cuộc chiến khốc liệt. Nơi đó, những tên tuổi liệt sĩ còn khắc ghi trong lịch sử sư đoàn như trung đội trưởng Trần Minh Lệ của đại đội 9, tiểu đoàn 3, trung đoàn 4. Còn Vi Văn Thắng là liệt sĩ của trung đoàn bộ binh 197 thuộc sư đoàn 337, sau khi hi sinh tên anh được người dân đặt cho một ngọn đồi ở bản Cỏn Làng, xã Hồng Phong (huyện Văn Lãng, Lạng Sơn) – nơi anh ngã xuống.

Hai năm trước, dịp tháng 7-2012, khi sư đoàn 337 tổ chức khánh thành nhà bia chiến thắng của đơn vị trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, tưởng niệm các liệt sĩ sư đoàn hi sinh ở khu vực cầu Khánh Khê trên sông Kỳ Cùng, đại tá Đỗ Phấn Đấu đã đọc một bài văn tế. Trong bài văn tế ấy, tên tuổi những người lính sư đoàn 337 hi sinh đã vang lên oai linh giữa núi rừng biên ải:

“Máu xương các anh không hề uổng, bia ghi công đây sáng từng dòng.Trận chiến ngày ấy không thể mờ, chuyện năm xưa đã tạc vào sách sử.Tổ quốc vẫn khắc ghi:Trần Minh Lệ dũng lược ngoan cường, cùng trung đội đập tan 18 đợt tiến công của địch, giữ chốt mấy ngày đêm.Lịch sử mãi lưu truyền:Vi Văn Thắng táo bạo kiên gan, hết đạn vẫn giương lê tả xung hữu đột khiến quân thù khiếp sợ.Đất Hồng Phong đời đời ghi nhớ chiến công. Rừng Bình Trung mãi mãi tri ân liệt sĩ”.

TaXTP8DS.jpg
“Tại mảnh đất này, cuối tháng 2 đầu tháng 3-1979, sư đoàn 337 cùng quân dân tỉnh Lạng Sơn đã chặn đứng và đánh bại quân xâm lược, lập chiến công vẻ vang trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới quốc gia”. (Lời ghi tại Nhà bia chiến thắng sư đoàn 337 trên đồi Pa Pách) – Ảnh: N.Quang

Thượng úy Nguyễn Đức Quý, trinh sát của Tỉnh đội Lạng Sơn, đưa chúng tôi ngược từ thành phố lên hướng Đồng Đăng, gần biên giới Việt – Trung rồi từ đó rẽ trái theo quốc lộ 1B vào huyện Văn Lãng. Đã 35 năm trôi qua kể từ tháng 2-1979, khi “tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới”. 35 năm, bao nhiêu vật đổi sao dời, sư đoàn 337 được mệnh danh là “Cánh cửa thép Lạng Sơn” những năm 1979-1980 khốc liệt ấy nay đã trở thành “Đoàn kinh tế quốc phòng 337” đứng chân tại miền tây Quảng Trị. Nhiều lần đi về với vùng đất miền tây quê nhà, tôi vẫn ghé vào doanh trại của đoàn, hay gặp những người lính của sư đoàn 337 năm nào đang tận tụy giúp người dân Vân Kiều, Pa Kô ở vùng cao Hướng Hóa thay đổi tập quán sản xuất. Cuộc sống thật bình yên khi những người lính sát cánh cùng người dân lo phát triển kinh tế, nhưng với những cựu chiến binh sư đoàn 337, những anh linh đồng đội nằm lại chốn biên cương phía Bắc luôn tha thiết giữa cõi lòng.

“Trần Minh Lệ đã chiến đấu đến giọt máu cuối cùng và anh dũng hi sinh. Đối phương tuy chiếm được cao điểm nhưng chúng phải trả một giá rất đắt. Tấm gương hi sinh anh dũng của Trần Minh Lệ là động lực cổ vũ, khích lệ to lớn với cán bộ chiến sĩ sư đoàn bám trụ chiến đấu tiêu diệt địch, bảo vệ chốt”

Giờ chúng tôi đang đứng trên đồi Pa Pách. Gió từ các lũng núi đá hun hút lồng lên buốt giá. Trên điểm cao này, tầm mắt bao quát cả một chặng quốc lộ 1B băng qua sông Kỳ Cùng bằng cây cầu Khánh Khê nổi tiếng. Cây cầu Khánh Khê mới giờ xây dịch lên so với cây cầu cũ chừng 300m, nhưng chỗ vị trí phía bắc cây cầu cũ vẫn còn dấu tích của một tấm bia kỷ niệm. Mấy năm trước, bức ảnh chụp tấm bia ximăng ở đầu cầu Khánh Khê này từng khiến dư luận xôn xao bởi dòng chữ khắc trên bia: “Nơi đây sư đoàn 337 đã đánh bại và chặn đứng quân Trung Quốc xâm lược” đã bị đục bỏ mất mấy chữ “quân Trung Quốc”.

Tháng 2-1979, khi tấn công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, ở địa bàn này quân Trung Quốc đã tìm mọi cách vượt qua cầu Khánh Khê, băng qua sông Kỳ Cùng để vu hồi về phía đèo Sài Hồ và Đồng Mỏ, từ đó bao vây thị xã Lạng Sơn. Cuộc chiến đấu chặn địch trên hướng này của sư đoàn 337 khó mà kể hết trong một bài báo nhỏ, chỉ biết rằng địch không thể xuyên thủng “cánh cửa thép” của sư đoàn 337 nhưng hàng trăm chiến sĩ đã ngã xuống khi bảo vệ phòng tuyến này. Những người lính đã tham gia bảo vệ biên giới phía Bắc những năm tháng ấy khó có thể quên những trận đánh với chiến thuật “biển người” của quân Trung Quốc. Điểm cao 649 mà trung đội Trần Minh Lệ đóng chốt cũng vậy. Suốt cả ngày

28-2-1979, địch dùng hơn một tiểu đoàn tấn công nhằm chiếm cao điểm này nhưng đều bị đánh bật. 5g sáng hôm sau (1-3-1979), chỉ một trung đội chọi với một tiểu đoàn nhưng anh em chiến sĩ trung đội 1 đã ngoan cường đẩy lùi 18 đợt tấn công. Lệ vừa chỉ huy đưa anh em thương binh, liệt sĩ về tuyến sau vừa cùng anh em còn lại trong trung đội phản kích địch, giữ vững cao điểm đến chiều tối. Mặc dù chiếm được cao điểm 649 nhưng địch vẫn không chọc thủng được phòng tuyến sông Kỳ Cùng. Trước khi rút lui, để chặn sự truy kích của quân ta, địch đã đặt bộc phá giật sập cầu Khánh Khê.

Cuộc chiến ở Khánh Khê chỉ diễn ra chưa đầy ba tuần với sư đoàn 337 nhưng đã có hơn 650 cán bộ chiến sĩ hi sinh.

Nghĩa trang tạm của những người línhChúng tôi lên một ngọn đồi nằm cạnh Nhà máy ximăng Hồng Phong của xã Hồng Phong bên đường 1B. Theo con đường mòn ngoằn ngoèo lên một mái đồi, theo hướng tây bắc, đó là trận địa mà tiểu đội trưởng Vi Văn Thắng hi sinh. Ngọn đồi đó nay dân không còn ở, nhưng những người lính của trung đoàn 197 thuộc sư đoàn 337 đã tham chiến tại đây thì không thể quên câu chuyện về Vi Văn Thắng, người con dân tộc Tày quê ở Lộc Bình (Lạng Sơn).Thật bất ngờ, khi tìm đường lên cao điểm Vi Văn Thắng hi sinh, chúng tôi đi ngang một bãi đất mọc đầy dứa dại và chi chít miệng hố. Vợ chồng anh Dương Công Đính, người Tày sống cạnh đó, bảo đây là “bãi ông Chinh”, “Chinh nào?” – chúng tôi hỏi lại. “Lê Đình Chinh ấy”. Hóa ra đây cũng là khu vực thuộc xã Hồng Phong, ngày 25-8-1978 Lê Đình Chinh bị quân Trung Quốc sát hại tại cửa khẩu Hữu Nghị. Anh là người chiến sĩ đầu tiên hi sinh trên mặt trận biên giới phía Bắc và được an táng tại bãi đất ở xã Hồng Phong này, mấy năm sau đồng đội mới đưa anh về quy tập tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Cao Lộc (Lạng Sơn). Đến tháng 1-2012, hài cốt Lê Đình Chinh mới được đưa từ Cao Lộc về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Hàm Rồng, quê nhà Thanh Hóa.Chị Đính kể cả bãi đất này vốn là nơi chôn cất các liệt sĩ tạm thời khi hi sinh, rồi sau đó các đơn vị, người nhà tìm lên đây cất bốc, quy tập. Cho dù những liệt sĩ đã được quy tập đi nơi khác thì dân nơi đây vẫn xây một miếu thờ nhỏ nấp dưới tán rừng thông, những ngày rằm, dịp tết… hương khói cho những người ngã xuống. Dù đã 35 năm rồi nhưng giữa lòng dân, chưa khi nào các anh bị lãng quên!

LÊ ĐỨC DỤC – ĐỨC BÌNH

Bức tượng đài thứ 5 của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ được dựng trên đất Nga

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

Đại học bang Saint Petersburg.

© Sputnik / Aleksey Danichev

Ngày nay, ở nước Nga có 4 tượng đài vinh danh nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tượng đài Hồ Chí Minh đầu tiên đã được dựng ở Matxcơva vào năm 1990. Trong những năm 2000, các tượng đài được dựng lên ở Vladivostok và Ulyanovsk.

Điều thú vị là những người Việt Nam, các doanh nhân và gia đình họ sống và làm việc tại Ulyanovsk làm theo truyền thống Việt Nam bỏ vàng vào khi đúc tượng thiêng liêng, đã hết lòng hiến tặng những đồ trang sức bằng vàng để đúc tượng Bác tại thành phố này. Bức tượng Hồ Chí Minh thứ tư là nhỏ nhất, cao nửa mét, được đặt trong khuôn viên Viện Hồ Chí Minh ở Saint Petersburg.

Nghi lễ khánh thành tượng đài CT Hồ Chí Minh tại Vladivostok

© ẢNH : TỔNG LÃNH SỰ QUÁN VIỆT NAM TẠI VLADIVOSTOK

Chủ tịch Hồ Chí Minh trở lại với thành phố Nga “cứu tinh”

Theo quan điểm của chính quyền địa phương, một bức tượng nhỏ rõ ràng là không đủ cho một thành phố mà Hồ Chí Minh lần đầu tiên đặt chân lên đất Nga vào năm 1923. Vào tháng 9 năm 2019, trong thời gian Hội thảo Nga-Việt “Di sản tinh thần của Hồ Chí Minh” được tổ chức ở Saint Petersburg, Thống đốc Alexander Beglov đã có cuộc hội đàm với Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng. Tại cuộc gặp này ông Beglov vui mừng thông báo việc chính quyền thành phố St. Petersburg có kế hoạch xây dựng tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ở thủ đô phương Bắc của nước Nga.

Tại cuộc hội đàm, ông Alexander Beglov lưu ý rằng, thành phố của chúng tôi và Việt Nam được liên kết bởi một lịch sử chung. Chính tại đây, đồng chí Hồ Chí Minh đã lần đầu tiên đặt chân lên đất Nga. Sự kiện đó đã đặt cơ sở cho mối quan hệ hữu nghị lâu năm, ngày nay đã phát triển thành quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Liên bang Nga và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Saint Petersburg đã ký thỏa thuận kết nghĩa với thành phố Hồ Chí Minh và đang phát triển thành công mối quan hệ với thành phố này: thực hiện các dự án chung, tổ chức các diễn đàn thanh niên Nga -Việt, nhiều doanh nghiệp của thành phố trên sông Neva sản xuất các sản phẩm theo đơn đặt hàng của Việt Nam, các quán cà phê Việt Nam ngày càng trở nên phổ biến ở thủ đô phương Bắc của nước Nga. Saint Petersburg sẽ làm mọi việc cần thiết để dựng tượng đài Hồ Chí Minh, nếu sáng kiến này nhận được sự chấp thuận của phía Việt Nam, ông Beglov nhấn mạnh.

Sáng kiến ​​này đã được ban lãnh đạo Việt Nam chấp thuận, và vào cuối tháng 9 năm nay, chính quyền thành phố đã gửi hàng trăm lời mời tới các vị khách danh dự đến dự lễ đặt viên đá đầu tiên để xây dựng tượng đài.

Chủ tịch nước Việt Nam DCCH Hồ Chí Minh thăm Sevastopol

© SPUTNIK / A. BAZHENOV

Có bao nhiêu phần đời Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với nước Nga?

Và doanh nhân người Việt tại St.Petersburg Dương Chí Kiên, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam tại Nga, cũng nhận được lời mời này. Trong cuộc phỏng vấn của Sputnik, ông nói:

“Phó Thị trưởng Nikolay Bondarenko, Đại sứ Việt Nam tại LB Nga Ngô Đức Mạnh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt – Nga Đỗ Xuân Hoàng và Chủ tịch Trung ương Hội Hữu nghị Nga-Việt Vladimir Buyanov sẽ chủ trì buổi lễ. Sự kiện sẽ diễn ra vào ngày 8 tháng 10, trên quảng trường tại giao lộ của Đại lộ Prosveshcheniya và con phố từ năm 1978 mang tên thành phố kết nghĩa ở Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh. Buổi lễ sẽ được tổ chức ngoài trời, virus corona sẽ không gây trở ngại. Chính quyền thành phố không áp đặt những hạn chế nghiêm ngặt, các trường học, rạp chiếu phim, nhà hàng vẫn hoạt động bình thường. Theo kế hoạch, tượng đài Hồ Chí Minh bằng đồng cao 3-4 mét, quay về hướng Việt Nam, sẽ được lắp đặt trên bệ đá cao hai mét. Bây giờ chính quyền thành phố đang quyết định ai sẽ là tác giả của tượng đài, nó sẽ trông như thế nào, và sẽ được đúc ở đâu”.

Ông Dương Chí Kiên nói với Sputnik rằng, những người Việt Nam ở Saint Petersburg phấn khởi trước thông tin về việc xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh tại thành phố mà họ xem như quê hương thứ 2 của mình.

Hoàng Văn Hoan và vụ thanh trừng sau 1979

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

hoangvanhoan1Nguồn ảnh

Balazs Szalontai

Tháng Bảy 1979, ông Hoàng Văn Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị, Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Trung Quốc, bỏ trốn theo Trung Quốc.

Khi đã lưu vong ở Trung Quốc (TQ), Hoàng Văn Hoan, nhân vật lãnh đạo vào hàng cao cấp nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đào thoát ra nước ngoài từ trước tới nay, nói rằng sau cuộc chiến Việt – Trung, có tới 300.000 đảng viên thân TQ bị phe “thân Liên Xô” của Lê Duẩn loại bỏ.

Một cuộc thanh trừng nội bộ quả đã diễn ra trong 1979-80, nhưng như hồ sơ Hungary tiết lộ, ông Hoan đã phóng đại nhiều về tầm mức. Việc thanh trừng vừa là nỗ lực bóc tách các phần tử “thân TQ” thật sự và tiềm năng, nhưng nó cũng là biểu hiệu của khủng hoảng kinh tế – xã hội ăn sâu ở VN.

Vai trò cá nhân

Sự đóng góp của ông Hoàng Văn Hoan cho phong trào Cộng sản VN không to lớn như ông nói mà cũng không nhỏ bé như phát ngôn nhân của Hà Nội cáo buộc sau khi ông đã bỏ trốn sang Trung Quốc. Là thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Đông Dương, ông có thời gian dài ở TQ. Trong cuộc chiến kháng Pháp, ông giữ chức thứ trưởng quốc phòng. Năm 1948, ông được giao việc thành lập Văn phòng Hải ngoại ở Thái Lan, và sau đó là đại sứ đầu tiên của Bắc Việt ở TQ.Mặc dù là thành viên thứ 13 trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm 1956, và sau này vào Bộ Chính trị, nhưng Hoan không thuộc vào nhóm lãnh đạo chủ chốt nhất. Vị trí cao nhất ông từng giữ là phó chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội, và không nằm trong Ban Bí thư đầy quyền lực. Kết quả là, vị trí của ông bị lung lay hơn trước biến đổi trong quan hệ Việt – Trung, khi so với Trường Chinh hay Lê Duẩn là những người luôn có thể giữ vị trí, cho dù Hà Nội thân thiện với Bắc Kinh hay không.Được biết vì tình cảm thân thiện với TQ, ông Hoan đạt đỉnh cao sự nghiệp vào đầu thập niên 1960 khi Bắc Việt tạm thời có thái độ thân TQ trong tranh chấp Liên Xô – TQ.

Năm 1963, khi Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm bị thay bằng Xuân Thủy (thân TQ hơn), ông Hoan cũng thành Trưởng Ban liên lạc đối ngoại Trung ương Đảng.Nhưng trong giai đoạn 1965-66, quan hệ Xô – Việt bắt đầu cải thiện, cùng lúc với căng thẳng gia tăng giữa Hà Nội và Bắc Kinh. Trong môi trường mới này, ban lãnh đạo cảm thấy cần thay cả Xuân Thủy và Hoàng Văn Hoan bằng những cán bộ ít dính líu hơn đến chính sách thân TQ trước đây của ban lãnh đạo Hà Nội. Năm 1971-72, Hà Nội bất mãn vì Trung – Mỹ làm hòa, có vẻ càng làm vị thế Hoan bị suy giảm.

Dù vậy ông vẫn là nhân vật quan trọng trong quan hệ Việt – Trung. Ví dụ, năm 1969, chính ông đã giúp hoàn tất cuộc đàm phán kéo dài và khó khăn quanh viện trợ kinh tế của TQ.

Tháng Năm 1973, ông tiến hành hội đàm bí mật tại Bắc Kinh về vấn đề Campuchia. Năm 1974, Hoan cùng Nguyễn Côn, Bí thư Trung ương Đảng, đi TQ để �chữa bệnh�, nhưng có thể sứ mạng thực sự lại liên quan đến đàm phán biên giới bí mật Việt – Trung từ tháng Tám tới tháng 11, mà kết quả đã thất bại.Tình hữu nghị giữa hai nước cộng sản Việt Nam – Trung Quốc đổ vỡ năm 1979Sự khác biệt giữa TQ và VN về Campuchia và Hoàng Sa đã không thể hàn gắn và làm cho Hoàng Văn Hoan không còn có thể đóng vai trò trung gian thành công. Lê Duẩn và các đồng chí kết luận họ không còn cần ông nữa. Những liên lạc của ông với Bắc Kinh nay bị xem là rủi ro an ninh.Sau Chiến tranh Việt Nam, những cán bộ mà Lê Duẩn không còn cần hoặc tin tưởng dần dần bị thay thế. Năm 1975, công chúng không còn thấy Nguyễn Côn, và năm sau, Hoàng Văn Hoan bị ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Năm 1979, khi xung đột Việt – Campuchia và Việt – Trung lan rộng thành chiến tranh, vị trí của Hoan càng trở nên bấp bênh. Sang tháng Bảy, ông quyết định đào tẩu. Lấy cớ ra nước ngoài chữa bệnh, ông đã xuống máy bay ở Pakistan và sang Trung Quốc, ở lại đó cho tới ngày qua đời năm 1991.Tại nhiều cuộc họp báo, Hoàng Văn Hoan giải thích sự đào tẩu bằng cách nhấn mạnh ông đã từ lâu chống đối chính sách của Lê Duẩn, mà theo ông là đã biến Việt Nam thành vệ tinh Xô Viết, làm người Hoa bị phân biệt đối xử, và dẫn tới việc chiếm đóng Campuchia. Cáo buộc của ông một phần dựa trên sự thật, vì ngay từ tháng Giêng 1977, Đảng Cộng sản VN đã dự định giải tán và tái định cư một phần cộng đồng người Hoa ở Chợ Lớn. Hiệp ước Việt – Xô 1978 cũng là một phần quan trọng cho sự chuẩn bị đánh Campuchia. Nhưng mặt khác, Hoan và nhà bảo trợ TQ dễ dàng bỏ qua là năm 1978, Việt Nam vẫn tìm cách tránh phụ thuộc Moscow quá mức bằng việc cải thiện quan hệ VN – Asean, và thảo luận cả khả năng gia nhập Asean trong tương lai.Sự đào thoát của ông Hoan hẳn làm Bộ Chính trị vô cùng lúng túng vì họ vẫn quen tự mô tả mình là mẫu mực đoàn kết. Bắc Kinh càng làm vết thương thêm đau rát. Hai ngày sau khi tới Bắc Kinh, Hoàng Văn Hoan được Tổng Bí thư Hoa Quốc Phong đón tiếp, và ông Hoa tuyên bố �những kẻ phá hoại tình hữu nghị Việt – Trung sẽ vỡ đầu�.Mặc dù VN nhấn mạnh sự trốn chạy của Hoàng Văn Hoan chỉ là trường hợp riêng lẻ, nhưng Bộ Chính trị biết chính sách của họ không được toàn dân ủng hộ. Mùa xuân 1979, khi giới chức bắt 8000 Hoa kiều tái định cư từ Hà Nội vào �Vùng Kinh tế Mới�, nhiều người VN đã không đồng ý khi các đồng đội người Hoa của họ bị buộc ra đi. Khác biệt cũng tồn tại trong nội bộ lãnh đạo. Tháng Sáu 1978, Trường Chinh và Lê Văn Lương ban đầu phản đối việc thông qua nghị quyết gọi TQ là kẻ thù nguy hiểm nhất của VN.

Khủng hoảng xã hội

Quyết loại bỏ những thành phần �bội phản�, giới chức có những biện pháp khắc nghiệt. Người Mèo và các cộng đồng thiểu số khác một phần đã phải ra đi khỏi các tỉnh miền bắc. Tại phiên họp của Ban Chấp hành Trung ương trong tháng Tám, ban lãnh đạo bàn vụ Hoan trốn thoát và chỉ trích ngành an ninh. Nhiều cán bộ cao cấp, như Lý Ban, cựu thứ trưởng ngoại thương có gốc Tàu, bị quản thúc. Tháng Giêng 1980, Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn bị buộc về hưu. Kiểm soát ngành an ninh được chuyển sang cho một ủy ban mới thành lập do Lê Đức Thọ đứng đầu. Xuân Thủy, người đã tiễn chân ông Hoan hồi tháng Sáu, cũng bị giáng chức.Tuy nhiên, sự thanh trừng không lớn như ông Hoan cáo buộc, và cũng không đơn thuần do xung đột Việt – Trung.

Trước hết, các vụ tảo thanh trong hàng ngũ đảng đã bắt đầu từ những năm trước. Giai đoạn 1970 – 75, chừng 80.000 đảng viên bị loại khỏi hàng ngũ, còn trong giai đoạn 1976-79, con số này là 74.000.

Thứ hai, nhiều người mất thẻ Đảng vì những lý do không liên quan xung đột Việt – Trung. Việc trục xuất các cá nhân thân TQ đạt đỉnh cao từ tháng 11-1979 tới tháng Hai 1980, nhưng từ tháng Ba, quá trình này bắt đầu chậm lại, và ưu tiên của chiến dịch sau đó hướng sang chống tham ô, biển thủ và các hành vi tội phạm.Tại miền Nam, khu vực mà số đảng viên chỉ chiếm một phần ba của đảng, giới lãnh đạo định loại bỏ chừng 5% đảng viên (so với tỉ lệ trung bình cả nước là 3%).

Điều này không chỉ chứng tỏ Hà Nội nghi ngờ dân số miền Nam mà đây còn là cố gắng kỷ luật những cán bộ người Bắc đã lạm dụng quyền lực sau khi được bổ nhiệm vào Nam.Các vấn nạn xã hội, kinh tế và tội phạm mà Đảng Cộng sản phải đương đầu có vẻ khiến họ cố gắng hạn chế thiệt hại hơn là mở đợt thanh trừng chính trị to lớn. Thất nghiệp và khan hiếm hàng hóa làm trộm cướp gia tăng. Giới chức đã phải huy động quân đội canh giữ ở cảng Hải Phòng nhưng cũng không có kết quả. Ngược lại, một nhà ngoại giao Hungary nhận xét quân đội khi đó đang trở thành �quân dự bị gồm những kẻ tội phạm�. Không có việc làm, nhiều người lính giải ngũ đã phải thành trộm cướp.

Trong tình hình đó, ban lãnh đạo cộng sản, dù đã kết án tử hình vắng mặt với Hoàng Văn Hoan năm 1980, chỉ muốn xóa tên ông ra khỏi ký ức công chúng thay vì đưa ông ra cho người dân mắng chửi.

Và đến lúc qua đời, ông cũng đã “hết hạn sử dụng” đối với nước chủ nhà TQ, vì lúc đó, cả Hà Nội và Bắc Kinh đều muốn làm hòa chứ không cãi nhau quanh những sự kiện của quá khứ.

Về tác giả: Tiến sĩ Balazs Szalontai từng dạy ở Đại học Khoa học Công nghệ Mông Cổ và hiện là một nhà nghiên cứu độc lập ở Hungary. Ông là tác giả cuốn sách Kim Nhật Thành trong thời kỳ Khruschev (Đại học Stanford và Trung tâm Woodrow Wilson xuất bản, 2006). Bài viết dựa vào kho tư liệu tại Hungary và thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

NPH2020_656: Để đánh bại pháo đài bay B-52 miền Bắc chuẩn bị 10 năm và chiến thắng trong 12 ngày đêm

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

Chiến tranh Việt Nam nhiều điều bí ẩn nhưng đã có đáp số. KBCHN sẽ lần lượt giả mật những bí ẩn để vinh danh những anh hùng liệt nữ đã hi sinh hơn 20 năm để đem lại chiến thắng thống nhất đất nước. Video ngày 16/9/2020

Vui lòng bấm “Đăng Ký” (màu đỏ góc phải bên dưới) để nhận thông báo video mới nhất của kênh
https://www.youtube.com/KBCHNTV/
https://youtube.com/thacmac52
https://facebook.com/bac.ha.9655
Email: bacha52@gmail.com
ĐT: (+00) 1-714-469-3202
VN (+84) 0327941647

Để chiến thắng trận ‘Điện Biên Phủ trên không” 1972, Việt Nam đã chuẩn bị 10 năm

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

Việt Nam là nước duy nhất bắn hạ được pháo đài bay B52 của Mỹ, không những thế, Việt Nam đã làm được nhiều lần. Nhưng để chiến thắng trận ‘Điện Biên Phủ trên không” 1972, Việt Nam đã phải chuẩn bị tới 10 năm.

1. Lời tiên đoán của chủ tịch Hồ Chí Minh

Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, khi đó là Phó chính ủy Quân chủng PK-KQ nhớ lại: Ngay từ năm 1962, Bác Hồ đã gặp đồng chí Phùng Thế Tài lúc đó vừa nhận chức Tư lệnh Phòng không và Bác hỏi:

“Chú đã biết gì về máy bay B-52 chưa”? Bác lại nói tiếp: “Có biết lúc này cũng chưa làm gì được, nhưng phải chuẩn bị từ bây giờ để sẵn sàng đối phó với nó…”

Đến ngày 18/6/1965, lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh, đế quốc Mỹ đã sử dụng máy bay chiến lược B-52 ném bom rải thảm khu vực Bến Cát (Tây Bắc Sài Gòn). Ngay sau đó một tháng, ngày 19/7/1965, Hồ Chủ Tịch đến thăm Đoàn pháo Cao xạ “xung kích” và Đại đội 1 Đoàn Pháo cao xạ “Tam Đảo”. Tại đây, Bác đã nói:

“Dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B-57, B-52 hay bê gì đi nữa ta cũng đánh, từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đánh là nhất định thắng”.

Ngày 12/4/1966, B-52 ném bom khu vực Đèo Mụ Giạ, Quảng Bình. Bác Hồ đã chỉ thị cho đồng chí Đặng Tính, Chính ủy Quân chủng PK-KQ: “B-52 đã ném bom miền Bắc, phải tìm cách đánh cho được B-52. Trách nhiệm này Bác giao cho các chú PK-KQ”.

Tiếp đó, ngày 29/12/1967, trong buổi làm việc với đồng chí Phùng Thế Tài, Tư lệnh PK-KQ, Bác đã nói lời tiên tri: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ chuẩn bị… ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Ngày 5/4/1972, khi tình hình chiến sự ở miền Nam đang diễn ra sôi sục, Quân uỷ Trung ương đã chỉ thị cho Quân chủng PK-KQ và các Quân khu: “Phải sẵn sàng đối phó với khả năng Mỹ cho không quân, kể cả không quân chiến lược đánh phá trở lại miền Bắc”. Và đến cuối tháng 11/1972 Quân uỷ Trung ương lại nhấn mạnh “Đế quốc Mỹ có thể liều lĩnh dùng B-52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng”.

Ngày 24/11/1972, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng cùng các Tham mưu phó: Trần Quý Hai, Vương Thừa Vũ, Cao Văn Khánh, Phùng Thế Tài đã thông qua và phê chuẩn kế hoạch đánh B-52 bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng của Quân chủng PK-KQ. Đây là một kế hoạch mang tầm vóc chiến dịch, một chiến dịch phòng không được tiến hành chủ yếu bằng lực lượng phòng không ba thứ quân trên miền Bắc, lấy Quân chủng PK-KQ làm nòng cốt.

Sau khi ký duyệt, Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp ra lệnh “Phải hoàn thành nhiệm vụ công tác chuẩn bị trước ngày 3/12/1972” và dặn thêm: “Trước ngày Nixon nhậm chức, Mỹ có thể mở đợt tập kích bằng không quân chiến lược ra Hà Nội, Hải Phòng các đồng chí phải nắm địch thật chắc. Tuyệt đối không để bị bất ngờ… phải tập trung mọi khả năng nhằm đúng đối tượng B-52 mà tiêu diệt”.

Đầu tháng 12/1972, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã xuống Sở chỉ huy Quân chủng PK-KQ, trực tiếp nghe Tư lệnh Lê Văn Tri trình bày về kế hoạch đánh B-52 của Quân chủng. Đồng chí đã nhấn mạnh: “Để gây sức ép với ta, trước sau Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ném bom Hà Nội; quân dân ta, mà nòng cốt là Quân chủng PK-KQ phải kiên quyết làm thất bại âm mưu này của chúng”. Như vậy có thể nói về mặt chiến lược, chúng ta không hề bị bất ngờ trước mưu thâm, kế độc của Mỹ.

2. Nghiên cứu cách đánh B-52 từ những trận “mưa bom”

Để chiến thắng trận 'Điện Biên Phủ trên không" 1972, Việt Nam đã nghiên cứu rất kỹ cách đánh của B52
Để chiến thắng trận ‘Điện Biên Phủ trên không” 1972, Việt Nam đã nghiên cứu rất kỹ cách đánh của B52

Để có cơ sở xây dựng quyết tâm và kế hoạch đánh B-52, ngay từ tháng 5/1966, Quân chủng PK-KQ đã tổ chức cho Trung đoàn tên lửa 238 (Sư đoàn 363) cơ động chiến đấu, trực tiếp nghiên cứu cách đánh tại chiến trường Vĩnh Linh. Trải qua gần một năm vừa hành quân vừa chiến đấu, hai phân đội 81 và 83 thực hiện nhiệm vụ phục kích đánh B-52. Trung đoàn đã tổ chức nghiên cứu tìm hiểu B-52 từ những trận mưa bom để quan sát trực tiếp từ những vệt khói, từ các bài bom nổ để phân tích đội hình bay và chiến thuật hoạt động của B-52.

Ngày 15/3/1967, B-52 xuất hiện, Trung đoàn đã tổ chức trận đánh tập trung nhưng không thành. Phát hiện có tên lửa ở Vĩnh Linh, không quân Mỹ đã lồng lộn săn lùng để tiêu diệt mục tiêu.

Đến tháng 1/1972, Quân chủng PK-KQ tiếp tục đưa thêm 4 trung đoàn tên lửa vào Khu 4 cùng một số máy bay Mig-21 để chi viện cho Chiến dịch Trị Thiên. Đến giữa năm 1972 Quân chủng PK-KQ đã đưa 04 đợt tên lửa, ra đa và nhiều chiếc máy bay Mig-21 vào chiến trường, trực tiếp nghiên cứu cách đánh B-52. Tuy đã bắn rơi được B-52, nhưng chưa có lần nào B-52 rơi tại chỗ và bắt sống giặc lái. Nhưng từ những nghiên cứu thực tế thu được đã có cơ sở để tháng 9/1972, Quân chủng PK-KQ đã xây dựng được “Phương án đánh máy bay B-52”.

3. Nỗi đau của pháo đài bay B52

Để thực hiện kế hoạch Linebacker II, một chiến dịch tập kích đường không với quy mô lớn nhất nhằm vào miền Bắc mà mục tiêu chủ yếu là Hà Nội và Hải Phòng trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, không quân Mỹ đã sử dụng 193 máy bay B52, là lần huy động B52 lớn nhất trong lịch sử, (chiếm 48% số lượng B52 và 75% số phi công B52 của nước Mỹ). Xuất kích 633 lần từ Guam và Utapao, tập trung 444 lần đánh vào Hà Nội.

Cùng các máy bay chiến thuật khác, không lực Hoa Kỳ ném gần 100.000 tấn bom xuống 140 mục tiêu, trong đó B52 đánh 64 điểm. Số lượng bom tương đương với sức công phá của 5 quả bom nguyên tử ném xuống Hirosima.

Lầu Năm Góc cho rằng, “những nơi B52 oanh tạc chỉ còn là gạch vụn, sẽ làm tê liệt đời sống hàng ngày, phá huỷ mọi khả năng chi viện từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam, đưa Việt Nam trở lại bàn đàm phán Paris trong thế thượng phong của Mỹ”. Nhưng họ đã nhầm.

Ngay từ đêm đầu tiên (18/12/1972), 3 pháo đài bay bị bắn hạ và danh sách đó dài thêm trong những ngày tiếp theo. Cao điểm đêm 26/12, 8 chiếc B52 bị bắn rơi. 12 ngày đêm đánh trả, chúng ta đã bắn rơi 34 chiếc B52 (bằng 1/2 số bị bắn rơi trong 8 năm Mỹ đưa B52 tác chiến ở Việt Nam), 47 máy bay chiến thuật, (trong đó có 5 chiếc F111, là loại máy bay chiến thuật hiện đại nhất), bắt nhiều giặc lái Mỹ.

Phi công Mỹ đã sụp đổ niềm tin vào khả năng “bất khả xâm phạm” của “pháo đài bay” và các nhà cầm quân Mỹ coi đó là “cuộc tàn sát B52” và ngao ngán thở dài: “Cứ đà mất máy bay và người lái như thế này thì chả mấy chốc mà hết nhẵn lực lượng không quân chiến lược” còn “chiến dịch Linebacker II không thể vắt ra được quyết định nhượng bộ nào từ Bắc Việt Nam”.

Chiến công của MiG 21 trong chiến thắng trận Điện Biên Phủ trên không 1972

Chiến công của MiG 21 trong chiến thắng trận Điện Biên Phủ trên không 1972
Chiến công của MiG 21 trong chiến thắng trận Điện Biên Phủ trên không 1972

Sau nhiều lần xuất kích không thành công, nhiều ý kiến cho rằng MiG 21 khó có thể tiếp cận và không thể bắn rơi B52. Ngày 25/12/1972, Bộ tư lệnh quân chủng Phòng không – Không quân triệu tập hội nghị cán bộ, khẩn cấp rút kinh nghiệm.

Sau khi xem xét quy luật tác chiến của địch, Bộ tư lệnh quyết định sử dụng sân bay Yên Bái, một sân bay bị đánh phá liên tục trong những ngày trước, nhưng đã được sửa chữa, nếu địch đánh tiếp, ta cũng khắc phục kịp thời, đảm bảo cho MiG 21 cất hạ cánh.

Chiều 27/12, biên đội của phi công Phạm Tuân được lệnh bí mật cơ động từ Nội Bài lên sân bay Yên Bái, chờ đợi phút xuất kích.

Ông Phạm Tuân kể: “22h20, nhận lệnh từ sở chỉ huy và được sự hỗ trợ của đồng đội, tôi nhanh chóng cho máy bay cất cánh. Khi đến bầu trời Sơn La, nhận được thông báo B52 cách 200, 150, 100km rồi 70km… Khi cách tốp B52 khoảng 3.000m, được lệnh phóng tên lửa. Tôi trả lời xin chờ một chút. Khẩu lệnh bắn lần thứ hai được thông báo, đến lần thứ ba nhắc bắn tôi mới quyết định. Chớp thời cơ có lợi, đưa mục tiêu vào vòng ngắm.

Tới cự ly hiệu quả, tôi nhanh chóng ấn nút phóng liền hai quả tên lửa vào một chiếc B52, tên lửa nổ sáng rực bầu trời trước mắt, tôi nhanh chóng vòng trái xuống độ cao 2.000m, bay trong mây, hạ cánh xuống sân bay Yên Bái, nơi tôi cất cánh 20 phút trước đó.
Thấy pháo đài bay bốc cháy, biên đội yểm trợ điên cuồng lùng sục, nhưng đã quá muộn. Những chiếc còn lại trút bom bừa bãi rồi quay về căn cứ”.

Tiếp sau chiến công của Phạm Tuân, đêm 28/12, từ sân bay Cẩm Thuỷ, phi công Vũ Xuân Thiều xuất kích, được Sở chỉ huy dẫn vòng phía sau đội hình B52, khi đến bầu trời Sơn La, anh phát hiện mục tiêu, dù ở cự ly gần, nhưng anh vẫn quyết tâm công kích, tiêu diệt địch. Máy bay địch trúng tên lửa bốc cháy, Vũ Xuân Thiều không kịp thoát. Anh đã anh dũng hy sinh.

Pháo đài bay bị MiG 21 bắn hạ, điều quá bất ngờ đối với không lực Hoa Kỳ. Chiến công đó là kết quả của trí thông minh và lòng dũng cảm, góp phần vào chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”.

Tác giả Hữu Hoàng.

Bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam là nội chiến hay kháng chiến?

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

Bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam là nội chiến hay kháng chiến? Dịch từ bài “What Was the Vietnam War About?”, tác giả: Giáo sư sử học Christian G. Appy, Đại học Massachusetts, đăng lần đầu ngày 26/3/2018. Bài dịch giữ nguyên ngôi thứ của tác giả, là một người Mỹ. Cảnh báo: Wall of Texts, ai lười có thể chỉ đọc đoạn bôi đen ở dưới.

Bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam là nội chiến hay kháng chiến?
Bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam là nội chiến hay kháng chiến?

Liệu cuộc chiến mà người Mỹ phát động ở Việt Nam là một cuộc đấu tranh cao cả chống lại đám Cộng sản hiếu chiến, hay là sự can thiệp vào một cuộc nội chiến, hay là do âm mưu phản động của đế quốc nhằm đàn áp phong trào giải phóng dân tộc? Người ta đã tranh luận nảy lửa về việc này từ thập niên 60 và tới giờ vẫn chưa ngã ngũ.

Cách mà chúng ta đặt tên và định nghĩa về cuộc chiến gây tranh cãi nhất này của Mỹ này không chỉ có lợi ích giới hạn về học thuật, mà còn định hình ký ức của công chúng về ý nghĩa của nó và có ảnh hưởng lớn tới bản sắc và chính sách của nước Mỹ.Trong những năm chiến tranh, các nhà lãnh đạo Mỹ khăng khăng rằng cần triển khai lực lượng quân sự tới bảo vệ một quốc gia có chủ quyền – miền Nam Việt Nam khỏi đám Cộng sản hiếu chiến. Năm 1965, Tổng thống Lyndon B Johnson đã phát biểu “Thực tế rõ ràng là Bắc Việt đã tấn công quốc gia Nam việt Nam độc lập. Mục tiêu của Bắc Việt là chinh phục hoàn toàn xứ này”.

Đáng phiền lòng hơn, Johnson đã nhanh chóng bổ sung rằng Cộng sản ở Việt Nam nhận được sự ủng hộ và chỉ đạo từ Liên Xô và Trung quốc (theo kịch bản được các Tổng thống tiền nhiệm gồm Harry Truman, Dwight Eisenhower and John F. Kennedy viết sẵn ra). Do đó, cuộc chiến ở Nam Việt Nam không chỉ là một cuộc xung đột ở tầm quốc gia và nhỏ lẻ, không can hệ gì tới an ninh quốc gia của Mỹ mà là một vấn đè không thể tách rời khỏi ưu tiên cao nhất của Mỹ – cuộc đấu tranh nhằm ngăn chặn Cộng sản trên toàn cầu trong Chiến tranh Lạnh.

Các nhà hoạch định chính sách đã nâng cao thêm quan điểm khi cảnh báo rằng nếu Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản, các quốc gia láng giềng chắc chắn sẽ lần lượt sụp đổ và trở thành Cộng sản như một hàng quân domino. Ba mươi năm sau, Robert McNamara – kiến trúc sư chính của cuộc chiến ở Việt Nam, là Bộ trưởng quốc phòng dưới cả thời Kenedy và Johnson, đã lên án những tuyên bố trong thời chiến này – chính là những thứ mà ông ta và vô số người khác đã sử dụng để biện minh cho cuộc chính.

McNamara đã viết 2 cuốn sách để khẳng định nước Mỹ đã “vô cùng sai lầm” khi can thiệp vào Việt Nam, bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết và đánh giá sai tình hình. McNamara đã viết rằng giá như ông ta hiểu rõ làn sóng chủ nghĩa dân tộc dâng trào ở Việt Nam, hay giá như ông ta hiểu rằng Hà Nội không phải là con tốt của Bắc Kinh hoặc Moscow, hay giá như ông ta nhận ra thuyết domino là sai hoàn toàn, ông ta sẽ thuyết phục mấy vị sếp tổng thống của mình rút quân khỏi Việt Nam. Và thế là hàng triệu sinh mạng sẽ được cứu. “GIÁ NHƯ”.

Tuy nhiên, trên thực tế, vào thập niên 60 khi McNamara tích cực vận động cho việc leo thang quân sự ở Việt Nam, ông ta đã không chịu tin hoặc lờ đi bất cứ bằng chứng nào mâu thuẫn với não trạng Chiến tranh Lạnh. Quan điểm trái chiều vẫn tồn tại trong xã hội Mỹ, như những bài viết của học giả – nhà báo Bernard Fall, của I.F. Stone, vô vàn những bài phát biểu tại các trường đại học, các buổi tuần hành chống chiến tranh, các bài phân tích chỉ ra rằng sau Thế chiến 2 nước Mỹ đã đưa ra một lựa chọn rất rõ ràng là hỗ trợ người Pháp tái lập nền cai trị thuộc địa của mình với Đông Dương, và chi trả phần lớn chiến phí cho cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất của Pháp.

Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi những nhà cách mạng Việt Nam coi Mỹ là một thế lực thực dân kiểu mới khi Mỹ đưa quân tới tham gia cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2.Hơn nữa, các phân tích cũng đã chỉ ra ngọn nguồn chống đối chính quyền Sài Gòn do Mỹ chống lưng lại đến từ chính người miền Nam và bắt rễ rất sâu sắc trên toàn miền Nam chứ không chỉ đến từ Bắc Việt. Từ cuối thập niên 50 tới giữa thập niên 60, tham gia các trận đánh chủ yếu là du kích miền Nam thuộc Mặt trận Giải phóng nhân dân miền Nam Việt Nam mà Mỹ và đồng minh thường gọi là Việt Cộng.

Chỉ khi cuộc chiến tranh đã leo thang thì các đơn vị lớn từ Bắc Việt mới kéo vào mặt trận. Những người Mỹ chống chiến tranh cũng không thừa nhận Nam Việt Nam là một “quốc gia độc lập” được thành lập theo Hiệp định Geneva năm 1954, vì hiệp định này chỉ quy định việc phân chia “tạm thời” nước Việt Nam để chuẩn bị cho một cuộc tổng tuyển cử chọn ra nhà lãnh đạo cho nước Việt Nam thống nhất. Khi cả Washington và Sài Gòn nhận ra lãnh tụ Cộng sản Hồ Chí Minh sẽ thắng áp đảo cuộc tổng tuyển cử, chính quyền Ngô Đình Diệm, với sự hỗ trợ của Mỹ, đã hủy bỏ cuộc tổng tuyển cử và bắt đầu nỗ lực xây dựng một quốc gia mới “Nam Việt Nam” không tồn tại được quá 20 năm.

Bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam là nội chiến hay kháng chiến?
Bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam là nội chiến hay kháng chiến?

Chính quyền Sài Gòn chưa bao giờ là một chính quyền bù nhìn dễ sai bảo của người Mỹ, nhưng lại phụ thuộc toàn phần vào viện trợ kinh tế và quân sự từ Mỹ để sống sót trước đòn tấn công của kẻ địch, bao gồm cả các phe phái phi Cộng sản ở miền Nam.Với những lập luận này, những người phản đối chính sách của Mỹ trong thập niên 60 đã mô tả chiến tranh ở Việt Nam là một cuộc nội chiến – dù không hề có tí liên quan nào tới sự phân chia Bắc – Nam trong Nội chiến Hoa Kỳ, mà là một cuộc chiến của phe Cộng sản ở cả miền Bắc và Nam Việt Nam chống lại chính quyền do Mỹ chống lưng ở miền Nam.

Cho tới năm 1966, lối phân tích này được nhiều chính khách ủng hộ, như Thượng Nghị sĩ William Fulbright – Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện và Thượng Nghị sĩ Eugene  McCathy – Ứng viên Tổng thống Mỹ năm 1968. Cả 2 vị này đều hướng sự chú ý của công chúng tới sức mạnh của phong trào du kích cũng như việc chính quyền Sài Gòn không có nổi sự ủng hộ từ chính người dân của mình.Cho tới năm 1972, chẳng còn ai tin vào lập luận Việt Nam là một mối đe dọa cho nước Mỹ trong Chiến tranh Lạnh, đôi khi người ta cảm thấy như mục đích còn lại của Mỹ với cuộc chiến là đưa tù binh chiến tranh về nước (Tổng thống Nixon đã cật lực lên án Hà Nội sử dụng số tù binh này làm “con tốt thí trong đàm phán”).

Đối với người Mỹ lúc đó, chuyến đi lịch sử của Nixon tới Bắc Kinh và Moscow năm 1972 thật là hại não, họ không hiểu làm sao mà Nixon có thể cụng ly với Mao Trạch Đông và Leonid Brezhnev trong khi vẫn đánh nhau ở Việt Nam. Nhà báo Jonathan Schell đã viết “Nếu sau cùng những cường quốc vĩ đại này không phải là kẻ thù thực sự của nhau, thì cuộc chiến ở Việt Nam là một cuộc nội chiến ở một quốc gia nhỏ bé và nước Mỹ không hề có một chút lý do nào mà tham gia vào cuộc chiến ấy”. Song hành cùng lối diễn giải “nội chiến” còn có một lối diễn giải khác cấp tiến hơn cho rằng kẻ thù của người Mỹ ở Việt Nam đã tham gia vào một cuộc chiến lâu dài để giải phóng dân tộc, đầu tiên là khỏi người Pháp sau đó là Mỹ.

Theo đó, cuộc chiến này không phải là cuộc đối đầu Đông – Tây trong Chiến tranh Lạnh hay nội chiến Việt Nam mà là cuộc kháng chiến chống thực dân, tương tự như hàng chục cuộc chiến bùng nổ khắp Thế giới thứ ba sau Thế chiến 2.

Khi người Pháp bị Việt Minh đánh bại (dù được Mỹ viện trợ khổng lồ), người Mỹ lại tiếp tục vận hành cuộc chiến phản cách mạng chống lại những người quyết tâm đạt được sự độc lập hoàn toàn cho quốc gia của mình. Lối diễn giải này được nhiều người chống chiến tranh theo cánh tả ủng hộ, trong đó có Daniel Ellsberg, người một thời là chuyên gia phân tích quốc phòng rất hiểu chiến sau đó tự hủy hoại sự nghiệp của mình khi công bố 7000 trang tài liệu mật về lịch sử Chiến tranh Việt Nam, còn được gọi là Hồ sơ Lầu Năm Góc (The Pentagon Papers).

Trong bộ phim phóng sự “Trái tim và khối óc” năm 1974, Ellsberg đã đưa ra luận điểm của mình rất ngắn gọn:“Tên gọi cho cuộc chiến chống lại cách mạng là phản cách mạng. Cuộc chiến mà một bên được nước ngoài hỗ trợ toàn phần về tài chính, vũ khí thì không phải là một cuộc nội chiến”.Ông cũng nói thêm rằng câu hỏi mà người Mỹ thường đặt ra – “liệu chúng ta có chọn sai phe trong chiến tranh Việt Nam không. Chúng ta không hề chọn sai phe; chính chúng ta là phe sai trái trong cuộc chiến này”. Trong những thập niên sau 1975, cả 3 cách diễn giải này đều vẫn phổ biến.

Một số nhà nghiên cứu lịch sử, nhà văn đã tán dương quan điểm của Tổng thống Ronald Regan rằng cuộc chiến này là “chính nghĩa cao quý” đáng ra người Mỹ đã thắng. Nhưng đa phần các chuyên gia trong lĩnh vực này lại không hề tán đồng với quan điểm này do chúng phóng đại về ưu điểm quân sự, chính trị và cả thành công của Mỹ cùng chính quyền Sài Gòn. Lý luận kiểu này rất thiếu sót do nó dựa trên nhận định ảo tưởng rằng Mỹ có thể chiến thắng nếu mở rộng viện trợ cho Ngô Đình Diệm (thay vì bật đèn xanh cho việc lật đổ Diệm), hoặc thử áp dụng chiến lược quân sự khác, hoặc làm tốt hơn công tác giành lấy trái tim và khối óc của người dân.

Tuy nhiên, trên thực tế thì cuộc chiến do Mỹ và đồng minh triển khai này vẫn mãi là một thảm họa, xét trên mọi khía cạnh.Trong thời gian gần đây, nhiều nhà sử học, đặc biệt là những trí thức trẻ hơn được đào tạo tiếng Việt và những ngôn ngữ khác, đã đưa ra nhiều phiên bản của lối diễn giải “nội chiến”. Một vài người coi giai đoạn sau khi Pháp bị đánh bại năm 1954 là “hậu thuộc địa”, thời điểm mà những xung đột nội bộ đã chín muồi giữa các phe phái dân tộc chủ nghĩa ở Việt Nam bắt đầu vỡ bung ra. Nhà sử học Jessica Chapman của trường Williams College cho rằng “Về bản chất, Chiến tranh Việt Nam là một cuộc nội chiến bị phóng đại lên nhiều lần do can thiệp từ bên ngoài”. Những người khác thì cho rằng đây là cuộc nội chiến đã bị “quốc tế hóa”. Trong khi những học giả này đã giúp tăng cường kiến thức của chúng ta về tính phức tạp và xung đột trong lịch sử Việt Nam, về chính trị và văn hóa, thì họ lại không hề quy đủ trách nhiệm cho nước Mỹ vì đã tạo ra, và mở rộng cuộc chiến với tư cách một cường quốc thực dân kiểu mới.

Hãy cùng thử đặt ra một giả thuyết nhé. Sẽ ra sao nếu cuộc Nội chiến Hoa Kỳ của chúng ta có một số nét tương đồng “nội chiến” Việt Nam? Đầu tiên, chúng ta sẽ tưởng tượng tới siêu cường toàn cầu của năm 1860 – Anh quốc, đã thúc đẩy phe miền Nam ly khai, cung cấp cho phe ly khai toàn bộ khoản chiến phí cần thiết để theo đuổi cuộc chiến và đưa lực lượng quân sự khổng lồ của mình tham chiến. Chúng ta cũng sẽ tưởng tượng rằng mọi lực lượng địa phương của miền Nam ủng hộ Liên bang miền Bắc sẽ cầm súng đứng lên chống Liên minh miền Nam. Và dù nước Anh ném vào cuộc chiến vô vàn tiền của và con người thì Liên bang miền Bắc vẫn chiến thắng. Vậy, người Mỹ sẽ gọi cuộc chiến đó là gì? Có lẽ đa phần người Mỹ sẽ gọi đó là Cuộc kháng chiến giành độc lập lần 2, và người Mỹ đen sẽ gọi đó là Cuộc chiến giải phóng lần thứ nhất. Chỉ có những người từng thuộc phe Liên minh miền Nam và người Anh mới gọi đó là “nội chiến”.

Tôi sẽ đảo ngược công thức của Chapman và nói rằng, về mặt bản chất Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến của người Mỹ, đã phóng đại thêm tình trạng chia cắt ở Việt Nam và quốc tế hóa cuộc xung đột này. Và hiện thực là trong khi nhiều người Việt Nam chống lại con đường giải phóng dân tộc của Cộng sản, thì không có một đảng phái dân tộc chủ nghĩa nào khác có đủ năng lực để giành lấy quyền lực. Nếu không có sự can thiệp của Mỹ, thật khó mà hình dung nổi Nam Việt Nam sẽ tồn tại được, hoặc nếu tồn tại nổi thì cũng khó mà kéo dài được.

Hơn  nữa, không hề có quốc gia nào khác lại đưa hàng triệu quân tới Nam Việt Nam (dù Mỹ có gây sức ép, 2 nước đáng kể tới là Austrlia và Hàn Quốc cũng chỉ gửi các đơn vị nhỏ hơn nhiều sang Việt Nam). Cũng không hề có quốc gia nào lại ném cả mớ bom (8 triệu tấn!) xuống Việt Nam, Lào và Campuchia. Hậu quả của những hành vi ấy là hơn 3 triệu người chết trên toàn Đông Dương, quá nửa là dân thường. Nếu chúng ta tiếp tục bào chữa cho những gì mà nước Mỹ đã làm ở Việt Nam là một cuộc can thiệp với ý định tốt chứ không phải là hành vi hung hăng của một đế quốc, chúng ta khó lòng có thể thách thức những người đang điều khiển cuộc chiến hiện hành – những người dẫn dắt chúng ta tới những cuộc chiến bất định dựa trên thông tin giả hoặc nhận định sai lầm.

Như trong Chiến tranh Việt Nam, các nhà lãnh đạo của Mỹ đã chỉ đạo binh lính tới vùng đất xa xôi dựa trên trí tưởng tượng không biên giới về thuyết domino (mối đe dọa của Cộng sản toàn cầu giờ đây đã được thay bằng cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu). Và một lần nữa, sứ mệnh của những người này là chống lưng cho những chính quyền không hề có nổi một chút năng lực thu hút được sự ủng hộ từ chính người dân của mình. Và thêm một lần nữa, nước Mỹ đã khởi động những cuộc xung đột dẫn tới vô vàn dân thường phải rời bỏ nhà cửa, bị thương hoặc bị giết. Nước Mỹ lại tiếp tục phóng đại bạo lực trên toàn cầu và kích động kẻ khác trả thù bằng bạo lực.

Các nhà lãnh đạo của chúng ta, trước sau vẫn vậy, khẳng định rẳng Mỹ “mãi mãi là lực lượng vĩ đại nhất trên thế giới” mà không hề ham muốn gì cho bản thân mình, trừ việc đánh bại “khủng bố” và đưa hòa bình, ổn định và tự quyết tới cho những vùng đất khác. Nhưng bằng chứng lại không hề ủng hộ những lời lẽ như vậy. Đã đến lúc chúng ta cần tầm nhìn mới, rõ ràng hơn về cách thức hành động trên toàn cầu của mình. Và việc đầu tiên cần làm là đánh giá trung thực về quá khứ chính.

Cuộc hành Quân Lam Sơn 719: Nguyên nhân và sai lầm dẫn đến thất bại

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln Wiki

Chiến tranh Việt Nam có nhiều trận đánh khốc liệt; khốc liệt trong ý nghĩa về cường độ của hoả lực, cấp số quân tham dự, và số thương vong đôi bên. Những trận đánh thường được nhắc đến trong quân sử như trận tử thủ An Lộc, tháng 6-1972; trận tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, tháng 9-1972; hai cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt, Toàn Thắng 42 và Toàn Thắng 1/71, tháng 5-1970 và tháng 1-1971; trận Ðồi 1062 ở Thường Ðức, Quảng Nam… Nhưng nổi bật hơn hết là cuộc hành quân tấn công vào những căn cứ hậu cần của quân đội Cộng sản Việt Nam (CSVN) ở Hạ Lào vào tháng 2 năm 1971. So với các trận đánh vừa được kể tên, hành quân Lam Sơn 719 (HQLS719) lớn và khốc liệt hơn về mọi mặt.

Ngoài sự thương vong cao của đôi bên, Cuộc hành Quân Lam Sơn 719 còn được nói đến như một cuộc hành quân có nhiều khuyết điểm — khuyết điểm từ lúc soạn thảo cho đến khi thực hiện. Cuộc hành Quân Lam Sơn 719 còn được nhắc lại trong sự nghi ngờ đó là kế hoạch hành quân đã bị bại lộ từ lúc soạn thảo, nhưng cuộc hành quân vẫn được tiếp tục để đưa đạo quân Việt Nam Cộng hoà (VNCH) đi vào tử lộ. Bài viết này sơ lược lại nguồn gốc và khiếm khuyết của cuộc hành quân, dựa vào một số tài liệu được giải mật trong thời gian gần đây.

Lưu ý : Bài viết không đại diện cho quan điểm của Ban biên tập Việt Sử Giai Thoại. Chúng tôi mong muốn mang lại cho bạn đọc nhiều thông tin đa chiều, bao gồm các quan điểm đối lập nhau khi nhìn về lịch sử.

Cuộc hành Quân Lam Sơn 719: Diễn biến khốc liệt và sai lầm thất bại
Cuộc hành Quân Lam Sơn 719: Diễn biến khốc liệt và sai lầm thất bại

Tình hình tổng quát của VNCH vào cuối năm 1970

Trước khi nói về quyết định đưa đến Cuộc hành Quân Lam Sơn 719, chúng ta nhìn sơ qua tình hình chính trị và quân sự của VNCH trong năm 1970, và tình hình tổng quát của lực lượng CSVN ở Hạ Lào.

Năm 1970 là năm thành công nhất của VNCH từ sau khi chiến tranh bùng nổ mạnh vào cuối năm 1964. Chương trình Việt Nam hoá — Hoa Kỳ trao cuộc chiến lại cho Quân lực VNCH (QLVNCH) — đã tiến hành được hơn một năm, và sự thành công của QLVNCH trên mọi chiến trường được chứng tỏ khi CSVN cho lưu hành Quyết nghị 9 vào tháng 6-1969. [1] Quyết nghị 9 chỉ thị các bộ tư lệnh CSVN ở chiến trường B (chiến trường trong lãnh thổ VNCH, để phân biệt với chiến trường ở Lào và Cam Bốt), tránh đụng trận nếu có thể được; trở về chiến thuật du kích chiến để bảo vệ quân số; và chỉ nên đương đầu với VNCH trên mặt trận chính trị hơn là ngoài chiến trường.

Song song với thành công về quân sự, những chương trình bình định nông thôn đã phá hủy hạ tầng cơ sở của CSVN, đem lại sự an ninh cho xã ấp ở miền Nam. Sự trù phú và số lúa gạo sản xuất trong năm 1969 và 1970 cho thấy sự thành công của chính phủ VNCH về mặt an ninh nội an và trong kế hoạch bình định, xây dựng nông thôn. [2]

Trung tuần tháng 3-1970, với sự hợp tác của tân chính phủ Lon Nol, QLVNCH và Hoa Kỳ tấn công và các căn cứ hậu cần CSVN ở bên trong lãnh thổ Cam Bốt. Cuộc hành quân Toàn Thắng 42 do các đơn vị ở quân đoàn III và IV, hai sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến và Nhảy dù VNCH, và một số đơn vị Thiết kỵ và Không kỵ Hoa Kỳ thực hiện. Hành quân Toàn Thắng 42 đem lại kết quả ngoài sức tưởng tượng của Bộ Tổng Tham mưu VNCH và Bộ Tư lệnh MACV: số vũ khí và quân nhu dụng tịch thu được từ căn cứ hậu cần cộng sản đủ để trang bị cho 54 tiểu đoàn chánh qui; gạo tịch thu được đủ nuôi 50 ngàn quân của B-2 từ bốn đến sáu tháng (7.000 tấn gạo). Thiệt hại nhân sự của QLVNCH là 638 chết; 3009 bị thương. Phía Hoa Kỳ, 338 chết; 1525 bị thương. Thiệt hại CSVN là hơn 11.300 tử thương; 2.300 tù binh. [3] Thiệt hại của phía đồng minh tương đối nhỏ so với kết quả thu được.

Chiến thắng dể dàng [4] ở Cam Bốt đưa đến sự hăm hở cho Bộ Tổng Tham mưu VNCH, Bộ Tư lệnh MACV và Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương (trên nguyên tắc đây là bộ tư lệnh nằm trên đầu MACV). Sau khi hành quân Toàn Thắng 42 kết thúc vào tháng 8-1970, [5] dự kiến của đồng minh là, nếu số dự trữ của CSVN ở Cam Bốt nhiều như vậy thì các căn cứ tiếp liệu hậu cần nằm trên đường xâm nhập Hồ Chí Minh ở Hạ Lào phải chứa nhiều hơn. Ðầu tháng 11-1970 đô đốc John McCain của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương yêu cầu đại tướng Creighton Abrams của Bộ Tư lệnh MACV điều nghiên một kế hoạch hành quân qua Hạ Lào để cắt đứt đường xâm nhập Hồ Chí Minh. Không giống như cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt, đô đốc McCain thông báo, kế hoạch đánh qua Lào có một giới hạn: Hoa Kỳ chỉ yểm trợ về không vận và không lực. QLVNCH là lực lượng đánh vào mục tiêu; cố vấn Mỹ của các đơn vị VNCH không được tháp tùng với đơn vị qua bên kia biên giới với bất cứ lý do gì. [6] Ðầu tháng 12-1970, Bộ Tư lệnh MACV loan báo và thăm dò ý kiến Bộ Tổng Tham mưu VNCH về một kế hoạch đánh qua Hạ Lào.

Lào và đường xâm nhập Hồ Chí Minh

Vương Quốc Lào. Ðầu năm 1971, khi VNCH chuẩn bị tấn công vào những căn cứ hậu cần trên lãnh thổ Lào, thì Hoa Kỳ đã tham dự và điều khiển một chiến tranh “bí mật” ở vương quốc đó hơn bảy năm. Ở Thượng Lào, nhân viên CIA Mỹ điều khiển một đạo quân hơn 20 ngàn người của tướng Vang Pao, giao chiến thường xuyên với hai sư đoàn quân CSVN và Pathet Lào. Ở Hạ Lào, Lực lượng Ðặc biệt VNCH và Hoa Kỳ, từ năm 1964, đã xâm nhập vào nhiều địa điểm từ Ðèo Mụ Già xuống đến bình nguyên Bolovens để đánh dấu toạ độ cho những chiến dịch dội bom chiến lược bằng B-52. Gọi là “chiến tranh bí mật” vì Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ không thông báo cho Quốc hội biết về những ngân khoản quân sự chi tiêu ở Lào; và CSVN — dù bị dội bom thường xuyên — cũng không lên tiếng, vì họ luôn luôn tuyên bố họ không có quân hay căn cứ trên đất Lào. Chính phủ Hoàng gia Lào cũng không có chọn lựa nào khác hơn là yên lặng: họ hy vọng vào Hoa Kỳ để đẩy lui sự xâm lấn của CSVN. Trong sự phủ nhận của tất cả can sự, cuộc chiến tiếp tục xảy ra trong vòng “bí mật.” [7]

Cuộc hành Quân Lam Sơn 719
Cuộc hành Quân Lam Sơn 719

Ðường xâm nhập Hồ Chí Minh. Lực lượng CSVN/ Việt cộng ở miền Nam không thể tiếp tục chiến đấu hơn một năm nếu không nhận được tiếp liệu từ bên ngoài. Ðiều này đúng hơn khi các đơn vị cộng sản mở những cuộc tấn công với cấp số tiểu đoàn, trung đoàn trở lên. [8] Ðể nuôi sống ý định xâm chiếm miền Nam bằng võ lực, tháng 5-1959 CSVN thiết lập Ðoàn 559 để chuyển người và vũ khí vào nam. Nhiệm vụ của Ðoàn 559 là xây dựng và duy trì một hệ thống đường xâm nhập trên đất Lào, chạy dài từ đèo Mụ Già (rồi sau đó từ những con đèo băng qua biên giới ở Quảng Bình và Vĩnh Linh) xuống đến những tỉnh ở miền đông bắc Cam Bốt (khoảng Katum, Bù Gia Mập, phía VNCH). Từ năm 1959 đến năm 1965, phương tiện vận tải trên đường xâm nhập Hồ Chi Minh (ĐHCM) là sức người, xe đạp thồ, voi, hay trâu bò. Nhưng vào mùa khô năm 1965 (mùa khô ở Hạ Lào bắt đầu vào tháng 10 và kéo dài đến cuối tháng 4), CSVN quyết định cơ giới hoá phương tiện vận chuyển — dùng xe để chuyên chở. Dùng xe thì phải làm đường, và hệ thống đường vận tải của CSVN bung ra mọi nơi trên đất Lào. Năm 1971, khi QLVNCH soạn thảo kế hoạch đánh vào những căn cứ hậu cần trên con đường chiến lược đó, ĐHCM không còn là một “con đường” nữa, mà là một hệ thống đường ngang, đường dọc, chằng chịt trên đất Lào. Tài liệu của CSVN nói hệ thống ĐHCM có tất cả là 17.000 cây số. Ðó là con số phóng đại. Nhưng sự ước lượng đến từ VNCH và Hoa Kỳ thì tổng cộng hệ thống ĐHCM có không dưới 10.000 cây số. Một chi tiết mà hai phía đều công nhận: hệ thống ĐHCM gồm có sáu đường dọc (chạy từ bắc xuống nam); 21 đường ngang (từ tây sang đông, dẫn từ lãnh thổ Lào vào biên giới VNCH); và một số đường vòng không kể hết (đường vòng là đường dùng để trốn bom, hay chạy vòng ngang một trục lộ chánh đang bị bom phá hủy).

Năm 1970 cũng là năm CSVN hoàn tất hệ thống ống dẫn dầu từ Quảng Bình qua đèo Mụ Già, vòng qua phía tây Tchepone và xuôi nam, đi vào thung lũng A Shau. Hệ thống ống dầu không lớn (ống có đường kính 20 phân), nhưng đủ để cung cấp nhiên liệu cho hơn 60 tiểu đoàn xe vận tải và hai trung đoàn xe tăng đóng ở Trung và Hạ Lào. [9]

Với cây số của hệ thống đường gia tăng, nhân lực và quân lực cần có để bảo vệ ĐHCM phải gia tăng. Ðoàn 559 lúc thành hình có cấp số tiểu đoàn với không hơn 400 người, năm 1970 được nâng lên cấp số binh đoàn với 63.000 quân, và 12.000 dân công tạp dịch. Từ một trạm giao liên dẫn đường duy nhất ở Khe Gió, bây giờ ĐHCM có 67 trạm giao liên đường bộ và đường thủy, và 30 binh trạm. Mỗi binh trạm có cấp số tương đương một trung đoàn. Năm 1969 ĐHCM chuyển vận được 78.000 tấn; và năm 1970, 74.000 tấn quân nhu dụng. Hệ thống phòng không bảo vệ những trục đường quan trọng gia tăng theo tỉ lệ số lượng hàng chuyển vận. Năm 1965 lực lượng phòng không trên ĐHCM có khoảng 190 súng phòng không; năm 1970 hoả lực phòng không bảo vệ đường có hơn 970 súng phòng không. Khẩu độ súng phòng không gồm đủ loại: từ loại 12.7 ly để chống trực thăng, đến 85 ly có tầm sát hại trên cao độ của vận tải cơ võ trang AC-130. Ðôi khi đại bác phòng không 100 ly được sử dụng để hăm doạ những phi tuần B-52. Nhiều hơn hết là loại 23 ly và 37 ly điều khiển bằng ra-đa, một vũ khí đáng sợ cho tất cả những phi cơ hoạt động dưới 10.000 bộ (bốn cây số). [10]

Hoa Kỳ và VNCH không phải không biết về sự bành trướng của ĐHCM. Từ năm 1964 VNCH và Hoa Kỳ đã đưa ra nhiều kế hoạch để ngăn chặn hay giới hạn lưu lượng xâm nhập trên ĐHCM. Nhưng Hạ Lào, với địa hình hiểm trở, rừng già che phủ mặt đất, và núi đồi “trùng trùng điệp điệp,” mọi kế hoạch đánh phá, ngăn chặn đã không đem lại kết quả như mong muốn. Trước khi những toán Lực lượng Ðặc biệt MACV-SOG hỗn hợp Việt-Mỹ xâm nhập vào Hạ Lào để viễn thám, Lực lượng Đặc biệt VNCH đã đưa năm toán vào Hạ Lào trong hai tháng 4 và tháng 6 năm 1964 để thám thính. Tuy nhiên trong số 30 nhân viên của năm toán, chỉ có năm người trở về được, hai mươi lăm người kia chết hoặc mất tích. [11]

Những Lực lượng Đặc biệt trở về báo cáo cho biết cán binh cộng sản dầy đặc ở Hạ Lào. Về phía Hoa Kỳ, ngoài những toán Lực lượng Đặc biệt được đưa vào thám thính những mục tiêu trên ĐHCM thường xuyên, từ năm 1968 Bộ Tư lệnh MACV đã thực hiện những chiến dịch dội bom chiến lược hàng ngày trên những của khẩu xâm nhập vào Hạ Lào. Chiến dịch dội bom Commando Hunt chỉ giới hạn vào bốn trọng điểm xâm nhập vào Hạ Lào: Ðèo Mụ Già, Bản Karai, Bản Ravin, và một cửa khẩu trên đầu của giao điểm Sông Rào Quảng và biên giới Lào (hướng tây bắc Khe Sanh). [12]

Một ngày ba lần, mỗi trọng điểm bị ba phi tuần của chín pháo đài bay B-52 đội bom. Một B-52 thông thường chở 105 quả bom 500 cân. Khoảng giữa của những phi vụ B-52 là 125-150 phi vụ chiến thuật rải bom CBU nổ chậm, để ngăn chặn dân công sửa những đoạn đường vừa bị phá. Không quân Hoa Kỳ thực hiện những chiến dịch dội bom như vậy từ tháng 11-1968 cho đến tuần lễ cuối cùng của tháng 1-1971, trước khi QLVNCH chuẩn bị băng qua biên giới. [13]

Sự khai sinh của hành quân Lam Sơn 719

Sự khai sinh của hành quân Lam Sơn 719
Sự khai sinh của hành quân Lam Sơn 719

Henry A. Kissinger trong hồi ký White House Years, nói về nguồn gốc đưa đến kế hoạch HQLS719 như sau, “Sự thành công thì có nhiều người cha. Nhưng thất bại là đứa con không người nhận.” [14] Ý ông Cố vấn An ninh Quốc gia muốn nói là, không ai trong chính phủ Nixon nhận là cha đẻ của kế hoạch hành Quân Lam Sơn 719. Thật sự chúng ta không có nhiều tài liệu khẳn định ai tác giả “vẽ” ra kế hoạch. Nhưng nhiều tài liệu cho thấy Kissinger có tham dự và đốc thúc việc thực hiện HQLS719. Tài liệu rõ ràng nhất đến từ hồi ký của H. R. Haldeman, tham mưu trưởng Toà Bạch ốc, khi Kissinger nói với Haldeman là ông muốn nói chuyện với tổng trưởng quốc phòng Melvin Lair và đô đốc Thomas Moorer (Tham mưu Trưởng Ban Tham mưu Liên quân), trước mặt Tổng thống Richard Nixon, về kế hoạch HQLS719. Lý do là Kissinger muốn thấy Nixon trực tiếp ra lệnh cho hai người thi hành kế hoạch. Một tài liệu khác đến từ đại tướng Alexander Haig, phụ tá quân sự cho Kissinger lúc đương thời. Trong hồi ký Inner Circles, tướng Haig nói Ban Tham mưu Liên quân soạn kế hoạch HQLS719 qua sự thúc giục của Nixon và Kissinger. [15] Có thể là như vậy. Nhưng tài liệu cho thấy chính tướng Haig là người đích thân đem huấn lệnh của tổng Thống Nixon qua Sài Gòn ngày 13 tháng 12-1970, để thông báo cho MACV về kế hoạch đánh qua biên giới. [16]

Ai là tác giả kế hoạch hành Quân Lam Sơn 719 có thể không quan trọng. Quan trọng hơn là vì lý do nào kế hoạch này được đề nghị với thẩm quyền. Sách vở và tài liệu cho thấy lý do chính trị và quân sự thúc đẩy sự thành hình của Cuộc hành Quân Lam Sơn 719 — lý do chính trị và quân sự của năm 1970-71.

Lý do chính trị. Kissinger — và cũng có thể Nixon — có một thúc đẩy chính trị khi đề nghị hay thúc đẩy kế hoạch hành Quân Lam Sơn 719. Kissinger không nói ra điều này trong hồi ký. Dĩ nhiên ông sẽ không bao giờ nói ra những ẩn ý chính trị của một kế hoạch. Công chúng chỉ biết được điều này nhờ vào hồ sơ được giải mật sau này. Năm 2002 Trung tâm Lưu trữ Văn khố Quốc gia cho giải mật một văn thư của Kissinger liên hệ đến hành Quân Lam Sơn 719. Trong văn thư, Kissinger giải thích sự cần thiết của HQLS719 đối với bối cảnh chính trị Mỹ cho hai năm 1971-72. Năm 1972 là năm bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ. Nixon cần được sự ủng hộ tuyệt để của cử tri. Ðể đền bù lại lời Nixon đã hứa với cử tri trong nhiệm kỳ thứ nhất, là ông sẽ kết thúc cuộc chiến ở Việt Nam trong trong vòng một năm sau khi nhiệm chức, lần ứng cử nhiệm kỳ hai, Nixon phải cho cử tri thấy cuộc chiến Việt Nam khả quan, nếu không nói là đồng minh đang thắng thế. Một cuộc tấn công qua Lào vào năm 1971 sẽ gây nhiều thiệt hại cho CSVN. Và nếu CSVN khôi phục lại sức lực để đe doạ tình hình an ninh cho VNCH, thì ít nhất họ cũng cần đến hơn một năm — nghĩa là sau khi cuộc bầu cử 1972 hoàn tất. [17] Kissinger hy vọng như vậy. Hơn nữa, từ tháng 8-1969 Hoa Kỳ đã lần lược rút quân theo kế hoạch — một tiến triển làm vừa lòng giới phản chiến — nếu cuộc tấn công qua Lào có kết quả như dự đoán, thì chương trình rút quân và chương trình Việt Nam hoá sẽ thành công theo ý muốn. Ðó là mưu lược chính trị của Kissinger trong tương quan của HQLS719 và mùa bầu cử 1972.

Lý do quân sự. Lý do quân sự cho kế hoạch hành Quân Lam Sơn 719 thì quá rõ; không ai phủ nhận được — ngay cả phía CSVN. Sự thành công mỹ mãn trong lần đánh qua Cam Bốt. Quân lực CSVN gần như kiệt quệ. Nghị quyết 9 và những đợt rút quân về Bắc vì không còn đủ lương thực để nuôi quân… Tất cả những yếu tố đó thúc đẩy các tư lệnh Việt – Mỹ đi đến quyết định: đây là thời điểm tốt nhất để tấn công các căn cứ hậu cần của CSVN ở Lào; cắt đứt đường tiếp tế vào nam của cộng sản. Một yếu tố khác làm cho giới lãnh đạo Việt – Mỹ phải quyết định nhanh hơn: Cuối năm 1970 quân lực Mỹ còn 334 ngàn quân ở Việt Nam, với đầy đủ tiếp liệu và hoả lực. Nếu đánh là phải đánh ngay, nếu chần chờ, hoả lực yểm trợ của Hoa Kỳ sẽ mất dần theo đà rút quân trong những năm kế tiếp.Với thực tế quân sự khả quan — để phục vụ cho một tương lai chính trị — Toà Bạch ốc ra lệnh cho Ban Tham mưu Liên Quân sơ thảo dự án cho HQLS719. Ðầu tháng 11-1970, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương yêu cầu Bộ Tư lệnh MACV phát hoạ kế hoạch hành quân qua Hạ Lào. Mục tiêu chính là Tchepone; và tất cả các căn cứ hậu cần nằm từ hươùng đông nam Tchepone xuống tận A Shau.

Khái niệm “Hành quân” của HQLS719

Cuộc hành Quân Lam Sơn 719

HQLS719 có cấp số quân đoàn, với một lực lượng tương đương ba sư đoàn tham dự. Cuộc hành quân có bốn giai đoạn. Giai đoạn I, có tên Dewey Canyon II, do các lực lượng Hoa Kỳ phụ trách. [18] Mục tiêu của giai đoạn I là giải toả quốc lộ 9 từ Ðông Hà đến biên giới Việt-Lào ở Lao Bảo; tái chiến căn cứ Khe Sanh để thiết lập Bộ Chỉ huy Tiền phương của HQLS719; và, tái thiết phi trường Khe Sanh làm điểm chuyển vận chánh. Giai Ðoạn II. Các lực lượng VNCH, dùng quốc lộ 9 làm hướng tiến quân, đánh chiếm Bản Ðông, một vị trí quan trọng nằm trên đường 9, cách biên giới chừng 12 cây số. Giai đoạn III: Sau khi củng cố lực lượng, quân Nhảy dù sẽ được trực thăng vận từ Bản Ðông đổ bộ vào chiếm Tchepone, khoảng 42 cây số từ Lao Bảo. Trong lúc đó lực lượng thiết kỵ vẫn tiến đánh dọc theo đường 9 để bắt tay với cánh quân ở Tchepone sau. Giai đoạn IV: Sau khi chiếm Tchepone và phá hủy căn cứ hậu cần ở đó, các đơn vị VNCH sẽ quây về hướng đông nam, tiếp tục lục soát và phá hủy căn cứ tiếp vận ở Aloui (Aluoi) Ta Bat, A Shau, trên đường trở về biên giới. Cuộc hành quân sẽ kéo dài ba tháng, khởi diễn sau Tết Tân Hợi (tháng 27 tháng 1-1971 là ngày Tết) cho đến đầu tháng 5, khi mùa mưa bắt đầu ở Hạ Lào.Khái niệm “hành quân” được Bộ Tổng Tham mưu và MACV chấp nhận và truyền đạt xuống Quân đoàn I (QÐI) và Bộ Tư lệnh Quân đoàn XXIV (QÐXXIV). [19] Tuy nhiên trong thời gian QÐI và QÐXXIV bổ túc thêm những chi tiết phụ cho cuộc hành quân, Hoa Thịnh Ðốn vẫn chưa quyết định chắc chắn là HQLS719 sẽ được thực hiện hay không.

Những khiếm khuyết của hành quân Lam Sơn 719

Ở phần trên chúng ta thấy hoàn cảnh đưa đến quyết định thực hiện hành Quân Lam Sơn 719 — hai ít ra là soạn thảo sự khả thi của kế hoạch. Phần này chúng ta nói về những khuyết điểm của HQLS719.

Khuyết điểm trong lúc soạn thảo

a. Sau khi Toà Bạch ốc và BTMLQHK đồng ý kế hoạch HQLS719, ngày 6 tháng 11-1970 Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương yêu cầu MACV soạn thảo kế hoạch. [20] Hôm sau, 7 tháng 11, Đại sứ Bunker và Đại tướng Abrams hội kiến 80 phút với Tổng thống Thiệu, trình bài những kế hoạch tấn công qua biên giới. Tổng thống Thiệu đồng ý trên căn bản ba kế hoạch đánh qua biên giới, và cho phép thực hiện ngay những kế hoạch có thể thực hiện được. [21]

Ngày 11 tháng 1-1971 Tổng trưởng Quốc phòng Melvin Lair và TMT BTMLQHK, đô đốc Thomas Moorer, đến Sài Gòn và có hội kiến với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về kế hoạch HQLS719. Một lần nữa Tổng thống Thiệu tái xác định sự ủng hộ của VNCH. Vấn đề còn lại là sự ủng hộ của Vương quốc Lào. Nhưng cho đến ngày 21 tháng 1, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và VNCH vẫn chưa biết Hoàng thân Souvana Phouma của Lào có cho phép QLVNCH đem quân vào Hạ Lào hay không. Thêm vào đó, chính Tổng trưởng Ngoại giao William Rogers cũng không đồng ý kế hoạch hành Quân Lam Sơn 719. Roger phản đối vì ông nghĩ đánh vào Tchepone là một kế hoạch nguy hiểm: Thành công thì không sao, nhưng nếu thật bại thì kế hoạch Việt Nam hoá của Hoa Kỳ sẽ mang tiếng xấu. Ngày 22 tháng 1, Souvana Phouma chỉ đồng ý cho QLVNCH đánh vào khu vực ở phía cực bắc vùng ba biên giới (Lào-Cam Bốt-Việt Nam, cực tây của Khâm Ðức). [22]

Cuộc hành Quân Lam Sơn 719
Cuộc hành Quân Lam Sơn 719

b. Với sự thuyết phục của Tổng thống Nixon, Ngoại trưởng Rogers lưỡng lự đồng ý. Sau đó Rogers ra lệnh cho Đại sứ McMurtrie Godley ở Vạn Tượng cố vấn cho Souvana Phouma lên tiếng về Cuộc hành Quân Lam Sơn 719. Phouma lên tiếng phản đối trước dư luận — sự phản đối có tính toán bên trong. Ðầu tiên ông lên tiếng phản đối bất cứ sự xâm phạm nào của VNCH vào lãnh thổ Lào. Rồi sau đó ông chỉ trích sự hiện diện của CSVN trên đất Lào, nói tất cả là lỗi của họ. Và cuối cùng, ông hy vọng QLVNCH sẽ… rời khỏi lãnh thổ Lào trong một, hai tuần (ý nói là hành quân càng ngắn càng tốt).

c. Nhưng khi thấy nhiều xung đột và bất đồng nhất từ cấp trên thẩm quyền dân sự (Bộ Quốc phòng vs Bộ Ngoại giao; Lair vs Rogers; Bộ Ngoại giao vs Nixon…) ngày 27 tháng 1 Đại tướng Abrams gởi điện văn cho TTMTLQ Thomas Moorer, nói ông sẽ hủy bỏ kế hoạch HQLS719, và sẽ chính thức loan báo với các bộ tư lệnh liên hệ vào ngày 29. Nhưng ngay ngày 27, Nixon họp với ban tham mưu và ra lệnh cho thực thực hiện Giai đoạn I của HQLS719 (QLHK tái chiếm Khe Sanh). Giai đoạn II sẽ quyết định sau, nhưng lệnh thực hiện hay hủy bỏ phải đến từ Hoa Thịnh Ðốn. [23] Ngày 29 tháng 1, Nixon ra lệnh MACV phối hợp và yểm trợ cuộc hành quân Toàn Thắng 1/71 đánh trở lại Cam Bốt với khoảng 19 ngàn quân VNCH tham dự. Nhưng quyết định tối hậu về HQLS719 vẫn chưa được thẩm quyền cao nhất quyết định. Sau cùng, ngày 4 tháng 2-1971, được lệnh của Nixon, đô đốc Moorer cho lệnh tiến hành Giai đoạn II. Và Cuộc hành Quân Lam Sơn 719 khởi hành.

Qua ba chi tiết a, b, và c trên, chúng ta thấy kế hoạch hành quân được đề nghị và soạn thảo trong sự e dè, thiếu nghị quyết, vì quá phụ thuộc vào quyết định chính trị. Kế hoạch có thể bị bại lộ từ sự thiếu quyết định này. Sự qua lại Sài Gòn của các thẩm quyền Mỹ không thể không làm cho giới lãnh đạo CSVN nghi ngờ. Càng nghi ngờ hơn khi ngày 15 tháng 12-1970, hoàng thân Phouma đã tuyên bố ở Vạn Tượng, là Lào không muốn VNCH có mặt ở Lào! Không cần suy luận nhiều, CSVN biết phải có chuyện gì Phouma mới tuyên bố như vậy. Sự thương lượng qua lại giữa Mỹ và Phouma có thể bị lộ, vì theo các nhân viên ngoại giao Mỹ, hệ thống bảo mật của chính phủ Hoàng gia Lào có nhiều lỗ thủng hơn cái… rổ!

Thêm vào lời tuyên bố của Phouma, ba sự kiện khác xảy ra trước đó càng làm cho CSVN khẳn định về ý định của VNCH và Hoa Kỳ — hay ít ra làm cho họ chuẩn bị phòng thủ. Sau cuộc tấn công ở Cam Bốt, tháng 9-1970 Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ đổ bộ thẳng vào Ban Bak (Bản Bạc) phá hủy binh trạm 37. Hai tháng sau, 11-1970, Hoa Kỳ nhảy thẳng ra Sơn Tây, moät vị trí cách Hà Nội không hơn 50 cây số. Rồi ngày 15 tháng 1-1971 VNCH dùng 19 ngàn quân đánh trở lại Cam Bốt. Với những cuộc tấn công dồn dập như vậy, CSVN phải nghĩ Hạ Lào sẽ là mục tiêu sắp tới. [24]

Nhiều lời đồn cho rằng CSVN đã biết được kế hoạch HQLS719 từ những điệp viên của họ có mặt ở Sài Gòn. [25] Nhưng với địa hình của vùng hành quân và trục lộ tiến quân, địch không thể nào không suy đoán được kế hoạch của chúng ta. Kế hoạch bị bại lộ không phải do sự tài tình của đối phương mà do sự trục trặc, thiếu phối hợp giữa VNCH và Hoa Kỳ. Sự thiếu phối hợp này vô tình “thông báo” kế hoạch HQLS719 cho đối phương. Trong khi Hoa Thịnh Ðốn, BTTM VNCH và MACV đồng ý sẽ giữ kín tin tức ít nhất cho đến ngày 4 tháng 2-1971 (trong nguyên thủy, ngày 4 tháng 2 là ngày chánh thức khởi đầu sự hành quân) trước khi tuyên bố ra công cộng.

Nhưng ngày 25 tháng 1, nhiều sĩ quan cấp nhỏ ở Quân đoàn I đã được thông báo ngày giờ hành và kế hoạch hành quân rồi. Một trường hợp khác, ngày 22 tháng 1, chính trung tướng James Sutherland, tư lệnh QÐXXIV, chứng kiến trung tướng Hoành Xuân Lãm bàn về kế hoạch HQLS719 với chuẩn tướng Phạm Văn Phú và một số sĩ quan khác, trong khi họ đứng chờ máy bay ngoài phòng khách ở phi trường. [26]

Một trường hợp khác: ngày 15 tháng 1, sau khi Bộ Tổng Tham mưu hoàn thảo kế hoạch HQLS719, chuẩn tướng Trần Ðình Thọ và thiếu tướng Donald Cowles của MACV bay ra Ðà Nẵng để thuyết trình cho tướng Lãm và Sutherland khái niệm hành quân. Ðể bảo mật nên số sĩ quan được mời tham dự rất giới hạn. Sau buổi thuyết trình, khi ra khỏi phòng chuẩn tướng Thọ gặp đại tá Cao Khắc Nhật, đại tá Nhật hỏi, “Tại sao không cho tôi tham dự buổi thuyết trình? Tôi đã hoàn tất soạn thảo kế hoạch hành quân [ở cấp quân đoàn]?” [27]

Ngày 31 tháng 1, nhật báo The New York Times đang tải một nguồn tin — trong đó có đoạn trích từ nhật báo London Observer — về kế hoạch HQLS719. Hai ngày sau, hãng thông tấn CBS News loan tải nguồn tin. Tin tức từ đài CSB khá chính xác về mục tiêu hành quân và quân số tham dự. Tin còn loan báo luôn ngày Tổng thống Nixon cho phép tiến hành kế hoạch hành quân. Như vậy, không những CSVN biết được kế hoạch, mà cả thế giới cũng biết luôn. [28]

Qua sự thiếu phối hợp trên, chúng ta nghĩ đối phương có thể suy luận ra kế hoạch HQLS719. Tin tức tình báo của VNCH và MACV xác định điều này, khi MACV “đọc” được những điện tín qua lại giữa các binh trạm và bộ tư lệnh Binh đoàn 559. Những điện tín cho ta biết CSVN đã thành lập một bộ tư lệnh có tên là 70B cho mặt trận “Ðường 9 – Nam Lào.” Quân lệnh chỉ thị các binh trạm 9, 27, 33, 34 chuẩn bị phòng thủ ngăn chặn cuộc tiến quân của QLVNCH. [29] Cũng từ những điện tín đó, MACV biết rõ số quân CSVN dự bị cho cuộc hành quân.

Khuyết điểm trong cuộc hành quân

Với tất cả những tài liệu về HQLS719 được giải mật trong những năm vừa qua, sau khi tham khảo, đa số các tác gia về quân sự đồng ý về một số khiếm khuyết quan trọng của hành Quân Lam Sơn 719:

(a) QLVNCH không đủ quân để đè bẹp áp lực của quân CSVN trong vùng hành quân;

(b) hoả lực và không vận của QÐXXIV không đủ để yểm trợ cho lực lượng hành quân;

(c) hệ thống quân giai của Hoa Kỳ và VNCH không được xác định rõ ràng và thi hành triệt để trong suốt cuộc hành quân, làm cho những quân lệnh không được thực hiện; và,

(d) tin tức tình báo sai lạc đưa đến nhiều trở ngại cho vấn đề tiếp liệu, hoả lực dự trù, và sự thay đổi bất thần, giữa đường, của kế hoạch.

a. Tháng 3-1967 ở hội nghị thượng đỉnh Guam, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Đại tướng Cao Văn Viên đề nghị với Tổng thống Lyndon Johnson một kế hoạch đánh qua Hạ Lào để cắt đường tiếp tế CSVN vào nam. Tổng thống Johnson không trả lời ngay lúc đó, nhưng cuối năm 1967, Đại tướng William Westmoreland ra lệnh cho ban tham mưu MACV soạn thảo một kế hoạch hành quân tương tự như HQLS719.

Theo lời một đại tá phụ trách soạn thaûo Hành Quân OPLAN EL Paso, khái niệm hành quân cần ba sư đoàn Việt-Mỹ, tương đương 60 ngàn quân: một sư đoàn không kỵ và một sư đoàn bộ binh (Mỹ); và một sư đoàn Nhảy dù VNCH. Lực lượng tiếp liệu và yểm trợ cho đạo quân đó phải có khả năng yểm trợ cho cấp quân đoàn. Khái niệm hành quân đặt nặng vấn đề tiếp liệu bằng không vận, vì nhu cầu của lực lượng tại mặt trận cần ít nhất là 2.975 tấn quân nhu dụng một ngày. [30]

Kissinger trong hồi ký có nói khi ông hỏi Đại tướng Westmoreland về sự khả thi của hành Quân Lam Sơn 719, Westmoreland nói cuộc hành quân cần ít nhất là bốn sư đoàn cộng để tấn công vào Tchepone. Và phải tấn công chớp nhoáng bằng trực thăng vận chứ không thể đánh đường bộ chậm chạp như đang thực hiện. [31]

Qua những chi tiết trên, chúng ta thấy ba sư đoàn VNCH quá ít để áp đảo lực lượng đối phương trong những ngày đầu — khi quân CSVN chưa huy động tất cả lực lượng trừ bị của họ. Ở cao điểm của hành Quân Lam Sơn 719, VNCH có 30.746 quân ở chiến trường Lào, gồm 16 tiểu đoàn tác chiến và 12 tiểu đoàn pháo binh. Trong khi đó, tại vùng hành quân, BTL 70B của CSVB có hơn 60 ngàn quân. [32]

Như tất cả học viên quân sự đều thuộc nằm lòng, khi tấn công thì quân tấn công cần tỉ số ba trên một nếu muốn thành công. Trong Cuộc hành Quân Lam Sơn 719 quân tấn công chỉ bằng phân nữa quân phòng thủ, mà lại tấn công vào một địa hình do đối phương hoàn toàn làm chủ.

b. Yểm trợ và tiếp liệu cho cuộc hành quân đến từ QÐXXIV Hoa Kỳ. Quân đoàn XXIV được thành lập từ tháng 8-1968, và thay thế Quân đoàn III TQLC ở Vùng I VNCH.

Sau Giai đoạn I của cuộc hành quân (bảo vệ đường 9 từ Ðông Hà đến Lao Bảo và tái chiếm phi trường Khe Sanh), vai trò của QÐXXIV được đặt nặng vào tiếp tế không vận và yểm trợ bằng không pháo (aerial artillery/ pháo binh của trực thăng võ trang) — và sự sống còn của các lực lượng ở chiến trường tùy thuộc vào sự hữu hiệu của hai khả năng này.

Theo những tài liệu đến từ MACV, QÐXXXIV không đủ khả năng để yểm trợ cho cuộc hành quân, về hoả lực cũng như về không vận.Tài liệu giải mật từ MACV cho thấy QÐXXIV có gần 600 trực thăng để phục vụ cho HQLS719. [33] Nhưng khả năng hoạt động của số trực thăng bị giới hạn vì hoả lực, thời tiết và bảo trì — những yếu tố mà hai tuần vào cuộc hành quân, MACV và QÐXXIV mới nhận ra.

Chỉ nói về phương diện tiếp tế lương thực thôi, đạo quân 30 ngàn người ở chiến trường cần 150 phi vụ trực thăng một ngày để thoả mãn — và đây chỉ là nhu cầu tối thiểu với một ký thực phẩm và bốn lít nước cho mỗi người. [34] Qua tài liệu, chúng ta thấy những căn cứ hoả lực rất cần nước.

Tác giả đại úy pháo binh Trương Duy Hy nói về những cảnh giành giựt nước tiếp tế trên đồi 30: thiếu nước uống, thiếu nước để lau chùi nòng súng pháo binh.. Tiểu đoàn 2 Nhảy dù trước khi di tản khỏi căn cứ hoả lực 30, đánh một điện tín lên trời, yêu cầu phi cơ liên lạc thông báo với tư lệnh sư đoàn Nhảy dù về tình trạng tiếp tế nguy ngập của tiểu đoàn. “Bị bao vây đã 10 ngày, có 200 thương vong, không có tiếp tế… không nước và lương thực hai ngày qua. Cần tiếp tế lập tức khi trời sáng.” [35]

Ðến ngày 24 tháng 2 BTL MACV bùng nổ vì vấn đề thiếu trực thăng: Ðại tướng Abrams điên lên vì sự quản trị — hay thiếu quản trị — nhu cầu không vận của BTL QÐXXIV. Sĩ quan dưới quyền của tướng Sutherland báo cáo về MACV là mặc dù tình hình trực thăng nguy ngập, nhưng trung tướng Sutherland vẫn không có một phản ứng nào thích hợp để giải quyết. Trong một trang giải mật của tác phẩm The Abrams Tapes, chúng ta đọc được những tiếng chửi thề của tư lệnh và tư lệnh phó MACV về sự quản trị và điều khiển nhu cầu cung ứng trực thăng cho mặt trận Hạ Lào. Chưa hả giận, tướng Abrams bay ra BTL QÐ XXIV để thị sát và… chửi thề tiếp. [36]

Cũng biết thêm, Không quân Hoa Kỳ đã làm tất cả những gì họ có thể làm được để chuyển quân nhu dụng ra Ðông Hà và Khe Sanh. Từ Ðông Hà hàng có thể di chuyển bằng quân xa về Khe Sanh. Nhưng từ từ Khe Sanh ra vùng giao chiến thì chỉ trông chờ vào trực thăng. Sau ba ngày hành quân, ngày 11 tháng 2, Đại tướng Lucius Clay, tư lệnh Không lực 7 than thở trong buổi họp ở MACV: “Ngoài những phi vụ yểm trợ cho cuộc hành quân này [HQLS719] tôi bay 12.000 phi vụ yểm trợ một tháng. Tôi bay 21.000 phi vụ chuyên chở. Tôi bay 850-900 phi vụ thám thính. Ý tôi muốn nói là vấn đề bảo trì… chúng ta chỉ có thể bay đến một giới hạn nào đó thôi.” Tướng Abrams cũng không thể phủ nhận là khả năng không vận và không lực của quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam trong thời điểm đó đã đến mức tối đa. Chính tướng Abrams cũng thốt lên ý nghĩ đó vào ngày 27 tháng 2 — hai ngày sau khi đồi 31 của Lữ đoàn 3 Nhảy dù thất thủ: “Chúng ta đang ngập đầu với gánh nặng, ở Cam Bốt cũng như ở Lào.” Ở mặt trận Cam Bốt, ngày 23 vừa qua tướng Trí vừa tử nạn trực thăng. Và đến ngày 27, MACV báo cáo quân lực VNCH có 21.000 quân tại mặt trận Cam Bốt. Ðó là lý do tại sao Hoa Kỳ không còn khả năng không vận.

Kế hoạch HQLS719 cũng tính sai về khả năng yểm trợ hoả lực, không pháo từ trực thăng ở những bãi đổ quân. Trực thăng võ trang AH-1G hay những chiến UH-1C biến cải thành võ trang, không đủ hoả lực để đè bẹp phòng không của đối phương trên đường bay vào bãi đáp, hay hộ tống những phi vụ chở quaân. Một lần nữa, MACV và QÐXXIV không ước lượng được sự cuồng nộ của phòng không đối phương — càng lúc càng gia tăng theo thời gian của trận chiến. Khi MACV yêu cầu không quân Hoa Kỳ yểm trợ và tham dự vào kế hoạch dọn bãi đáp thì số trực thăng thiệt hại đã lên khá cao.

Trước khi đó, thông thường BTL QÐXXIV chỉ yêu cầu 10-12 phi vụ dội bom chiến thuật từ không quân, rồi pháo binh và không pháo trực thăng đàn áp hoả lực phòng không để cho trực thăng đáp xuống. Nhưng sau 20 ngày hành quân, 31 trực thăng bị hủy hoại và 230 chiếc khác bị trúng đạn, phi công trực thăng Lục quân Hoa Kỳ e ngại hơn.

Ngày 3 tháng 3, khi đổ quân vào bãi đáp LoLo ở đông nam Tchepone, trực thăng gặp kháng cự mạnh của phòng không. Cuộc đổ quân bắt đầu từ 10 giờ sáng, bị nhiều gián đoạn vì hoả lực của đối phương, đến 6:30 chiều mới hoàn tất. Kết quả: Liên đoàn 101 Không vận Trực thăng có 20 bị trúng đạn không cất cánh được; bảy bị hủy diệt hoàn toàn; và 42 bị trúng đạn hư hại. Sự khinh thường hoả lực phòng không của đối phương gây nhiều trở ngại và thiệt hại cho lực lượng tấn công. Cũng vì khinh thường đối phương nên QÐXXIV không “mời” Không lực 7 góp ý kiến vào những kế hoạch dọn bãi, nhất là những bãi đáp để tiến vào Tchepone vào đầu tháng 3. Sau lần thiệt hại ở bãi đáp LoLo, QÐXXIV chấp nhận phương cách dọn bãi đổ quân của Không lực 7. [37]

c. Hệ thống chỉ huy và điều khiển của Hoa Kỳ và VNCH trong cuộc hành quân. Vấn đề chỉ huy và điều khiển phía VNCH đã được báo chí, sách vở bàn luận nhiều. Ở đây người viết chỉ lặp lại một số chi tiết đáng nhớ. Ðặt hai trung tướng Lê Nguyên Khang và Dư Quốc Ðống dưới quyền thống thuộc của trung tướng Hoàng Xuân Lãm gây nhiều trở ngại cho vấn đề chỉ huy và điều khiển.

Sự bất hợp tác — và bất phục — tùng dĩ nhiên xảy ra. Tương tự, sự bất hợp tác hiện hữu khi Lữ đoàn 1 Nhảy dù (đại tá Lê Quang Lưỡng) nằm dưới quyền thống thuộc của Chiến đoàn 1 Ðặc nhiệm (đại tá Nguyễn Trọng Luật). Sự giậm chân tại chỗ năm ngày ở Bản Ðông của quân Dù và Thiết kỵ; cuộc giải cứu thất bại đồi 31, đêm 25 tháng 2… là những bằng chứng về sự bất hợp tác này.

Tài liệu cho thấy sự bất đồng xảy ra khi tướng Khang đập bàn lúc nói chuyện với tướng Lãm. Tướng Lãm bay về Dinh Ðộc Lập để than phiền với Tổng thống Thiệu và Đại tướng Viên về tướng Ðống. [38] Cũng chính vì sự bất hợp tác này, trung tướng Lãm đã thay đổi kế hoạch giữa lúc trận chiến đang xảy ra: Sư đoàn 1 Bộ binh thay Sư đoàn Nhảy dù nhảy vào Tchepone; TQLC từ Khe Sanh sẽ đổ bộ vào những cao điểm phía nam đường 9, thay thế bộ binh của Sư đoàn 1. Sự thay thế này đã gây nhiều thiệt hại cho Sư đoàn TQLC ở hai cao điểm Hotel và Delta.Hệ thống chỉ huy và điều khiển của Hoa Kỳ trong HQLS719, tuy không có vấn đề bất tuân hệ thống quân giai, nhưng họ lại quên chỉ định một quân giai để chỉ huy và điều khiển: Ở bộ tư lệnh tiền phương ở Khe Sanh, cho đến ngày 24, Hoa Kỳ không có một sĩ quan cấp tướng nào để chỉ huy và điều khiển các ông đại tá của các quân chủng khác nhau (sĩ quan liên lạc/ phối hợp của Không duân, Hải quân, Thuỷ quân Lục chiến…).

Ngày 25 tướng Abrams mới cho một trung tướng ra bộ chỉ huy tiền phương để duyệt xét sự hợp tác và phối hợp giữa Không quân và Lục luân. Thêm vào sự khó khăn là các sĩ quan cố vấn cho các sư đoàn VNCH làm việc trực tiếp cho MACV, nên họ không phải trả lời cho BTL QÐXXIV, và họ điều khiển chiến thuật, cung cấp tiếp liệu, yêu cầu yểm trợ theo ý họ. Ðôi khi MACV phải giải quyết những trở ngại này từ Sài Gòn. [39]

Một sự thiếu hiệu quả khác của hệ thống chỉ huy và điều khiển là nằm xa nhau, khó “chạy qua, chạy lại” để hỗ trợ. BTL QÐXXIV nẵm ở Ðà Nẵng; QÐ I nằm ở Huế và Quảng Trị; và bộ chỉ huy tiền phương thì nằm ở Khe Sanh. Hệ thống chỉ huy như vậy không bảo đảm được sự liên tục của quân lệnh.d. Tin tức tình báo sai lạc trong cuộc hành quân. Khi tấn công vào một địa hình do địch làm chủ hoàn toàn, ở một mặt trận xa hậu cứ, và đường tiếp tế thì giới hạn bởi chính địa hình đó, tin tức tình báo về lực lượng của đối phương rất quan trọng. Mọi sự sai lệch về tình báo sẽ là một yếu tố quan trọng đưa đến thắng thua trong trận chiến. Nhưng rất tiếc, tin tức tình báo mà ban tham mưu VNCH và Hoa Kỳ dựa vào để soạn thảo kế hoạch HQLS719 thì hoàn toàn sai lạc. Sai lạc về hoả lực, quân số, và địa hình của mặt trận gây nhiều khốn đốn cho lực lượng tấn công.

Hoả lực phòng không. Ước tính tình báo sơ khởi do Không lực 7 cung cấp, cho biết Binh đoàn 559 và các đơn vị trực thuộc Binh đoàn 70B có khoảng 225-275 súng phòng không. Dựa vào tin tức này, QÐXXIV và Liên đoàn 101 Không vận Trực thăng nghĩ họ có thể “giải quyết được.” Càng nghĩ họ sẽ giải quyết và áp chế được số lượng phòng không địch ở Hạ Lào, nên chẵng những Lục quân không xin yểm trợ tối đa của Không quân, mà họ còn cho ước tính của Không quân quá cao. Nhưng ngược lại, ước tính của Không quân quá thấp: Khi lâm trận thì mới biết CSVN có từ 525-575 súng phòng không ở mặt trận. [40]

Nhiều nhất là loại 12.7 ly. Loại súng này không lớn, không bắn được cao, nhưng đủ để triệt hạ những trực thăng đổ bãi. Và vũ khí đó đã làm thay đổi trận chiến rất nhiều. Ước lượng về hoả lực địa pháo cũng hoàn toàn sai: Không lực và pháo binh Ðồng Minh không phản pháo hay áp đảo được tất những ụ pháo của đối phương. Ðầu tháng 3, trung tướng Sutherland gọi điện thoại về nói với tư lệnh phó MACV Fred Weyand, “Ðịch có mặt mọi nơi. Súng cối và pháo binh gây nhiều phiền phức…” Tiểu đoàn 2 Nhảy dù di tản khỏi đồi 30 không phải vì áp lực bộ binh của địch mà là vì pháo. Hơn 1.000 quả pháo bắn vào đồi 30 trong hai ngày trước khi tiểu đoàn di tản, hủy diệt tất cả pháo binh của hai pháo đội đóng trên đồi. [41]

Sai lạc về địa hình. Không ảnh do Không lực 7 cung cấp và ước lượng cho biết đường 9 từ Lao Bảo về Bản Ðông lưu thông được. Xăng và nước uống sẽ được chuyển vận bằng quân xa theo lộ trình đó để tiếp tế cho mặt trận. Nhưng không ảnh hoàn toàn sai: Ðường 9 bị không quân dội bom từ năm 1966, cắt ra nhiều đoạn. Trên đường, đôi khi có nhiều lổ thủng bề ngang 6-7 thước, sâu 2-3 thước. [42]

Khi những chuyến xa “tanker” loại 5.000 gallons gặp những khúc đường đó, họ không băng qua được được. Xăng và nước chỉ đến được Khe Sanh, từ đó ra chiến trường phải là trực thăng. Di chuyển bằng đường bộ không được gaây một gánh nặng cho không vận. Nước cho người đã là một gánh nặng; nặng hơn là nhiên liệu cho các lực lượng cơ giới. Lực lượng cơ hữu của Lữ đoàn 1 Kỵ binh có tổng cộng 62 xe tăng và 162 thiết giáp. Chưa kể những quân xa đi theo. [43] Cơ giới mà không có xăng thì cũng như không.

Trên đoạn đường rút quân về biên giới, một số quân xa, thiết giáp, xe tăng, bị bỏ lại chỉ vì hết xăng. Khi BTL QÐXXIV biết được chuyển vận sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào không vận, thì khả năng không vận của quân đoàn đã quá mức tối đa, không còn xây chuyển được.Một sai lạc về địa hình rất căn bản xảy ra trong HQLS719 nói lên sự thất bại của nguyên kế hoạch: lính đi qua Hạ Lào không được trang bị y phục cho thời tiết lạnh. Trên những cao độ ở Hạ Lào, ban đêm lính rất khổ sở vì lạnh. Rừng núi ở Hạ Lào vào tháng 2, trên đồi cao mà không trang bị quân phục ấm cho lính thì đó là một ước tính thiếu sót không hiểu được. Ðiều đó nói lên tất cả sự sơ sót của kế hoạch hành Quân Lam Sơn 719.

Đăng lại từ : vnin21.blogspot.com

Lưu ý : Bài viết không đại diện cho quan điểm của Ban biên tập Việt Sử Giai Thoại. Chúng tôi mong muốn mang lại cho bạn đọc nhiều thông tin đa chiều, bao gồm các quan điểm đối lập nhau khi nhìn về lịch sử.

Xem thêm bài hay khác : Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những nước cờ cao tay trên chiến trường

Chú thích :

  • [1]Sự quan trọng của Quyết nghị 9 được Bộ Tổng Tham mưu VNCH (BTTM VNCH) và Bộ Tư lệnh MACV (BTT MACV) nhắc đến nhiều lần trong những buổi họp quan trọng. Ðọc Lewis Sorley, The Abrams Tapes, trang 278-79, 282, 305. Ðiểm chánh của Nghị quyết 9 là CSVN không còn chủ trương một chiến thắng toàn diện bằng quân sự nữa, trái lại các đơn vị phải trở lại thế thụ động, đóng quân tại chổ cho đến khi tình hình thay đổi thuận lợi hơn. Ði đôi với chiến thuật án binh bất động, bộ tư lệnh B-3 (Tây Nguyên) đưa tất cả những đơn vị không cần thiết (tiếp vận và hậu cần) trở ngươïc về Bắc vì vùng đóng quân không còn gạo để nuôi lính. Tài liệu cho biết hơn 30 ngàn quân phải lội ngược trở về Bắc trong năm 1969-70. Ðọc Thượng tướng Ðặng Vũ Hiệp, Ký ức Tây Nguyên, trang 130-41; trung tướng Ðồng Sĩ Nguyên, Ðường xuyên Trường Sơn, trang 151-53.
  • [2]Một vài con số của năm 1969-70. Với tình hình an ninh làng xã được bảo vệ, mùa lúa năm 1970 miền Nam sản suất 6.5 triệu tấn lúa, nhiều nhất từ trước đến giờ. Thiệt hại của CSVN năm 1969 là 156.000 chết; và năm 1970 là 103.000. VNCH có 21.000 tử thương cho năm 1969; và 23.000 cho năm 1970. (Các con số được gom lại thành số thành số chẵn.) Một chi tiết khác cho thấy CSVN giới hạn lại những hoạt động quân sự trong năm 1970: Năm 1967 CSVN xâm nhập 101 ngàn quân; năm 1968, 244 ngàn; và 1969, 104 ngàn. Nhưng năm 1970, số quân xâm nhập chi còn hơn 57 ngàn. Con số này chỉ để bổ sung vào số thiệt hại trong năm đó. Tài liệu, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, Office of Assistant Chief of Staff, Intelligence (CFP-ODCSOPS-3/ 18.1. June 30, 1972).
  • [3]Chuẩn tướng Trần Ðình Thọ, The Cambodian Incursion, trang 171-72; 193-94
  • [4]Theo đại tướng Donn Starry (một đại tá lữ đoàn trưởng trong cuộc hành quân qua Cam Bốt), địa hình ở Cam Bốt lý tưởng đến độ, tại một mặt trận, 250 xe thiết vận xa dàn hàng ngang, cách nhau 25 thước một chiếc, và tấn công thẳng trên một mặt trận sáu cây sáu cây số chiều ngang, “áp đảo mọi kháng cự của đối phương.” Donn A. Starry, Mounted Combat in Vietnam, trang 172.
  • [5]Quân lực Hoa Kỳ rút quân ra khỏi lãnh thổ Cam Bốt vào ngày 30 tháng 6-1970. QLVNCH vẫn còn quân ở Cam Bốt để giúp đỡ quân đội Hoàng Gia Cam Bốt cho đến cuối tháng 8-1970. Tuy nhiên từ tháng 8 cho đến cuối năm 1970, QLVNCH vẫn ra vào lãnh thổ Cam Bốt tùy theo nhu cầu an ninh. Ðầu năm 1971, QLVNCH mở cuộc hành quân Toàn Thắng 1/71, với hơn 19 ngàn quân tham dự. Tài liệu chi tiết nhất về những cuộc hành quân qua Cam Bốt năm 1970 là, chuẩn tướng Trần Đình Thọ, The Cambodian Incursion. Gọi là những cuộc hành quân, vì ba cánh quân VNCH-Mỹ có tên khác nhau khi đánh qua Cam Bốt: Hành quân Toàn Thắng là cánh quân từ Quân đoàn III; Hành quân Cửu Long, là các đơn vị từ Quân đoàn IV; và Hành quân Bình Tây, đến từ Quân đoàn II. Trong một trường hợp, hành quân Toàn Thắng 42/ Ðại Bàng, để chỉ sự phụ trách riêng biệt của Sư đoàn Nhảy dù VNCH, tại một vùng trách nhiệm, trong một thời gian đặc thù. Ðọc Trần Ðình Thọ, sđd, cùng chương.
  • [6]Các quân lệnh trao đổi giữa BTL Thái Bình Dương và BTL MACV nằm trong Willard J. Webb, The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, 1971-1973, Part I, trang 15-20. Quân lệnh của tướng Abrams gởi cho các trưởng phòng của BTL MACV lưu trữ trong Abrams Special Collection, U.S. Army War College, Carlisle, Pennsylvania.
  • [7]Tài liệu, sách liên hệ về chiến tranh ở Lào, đọc Christoper Robbins, The Ravens: The Men Who Flew in America’s Secret War in Laos. Về những cơ sở điện tử, hệ thống ra-đa trên đất Lào, đọc Timothy Castle, One Day Too Long: Top Secret Site 85 and the Bombing of North Vietnam.
  • [8]Trung bình, một tiểu đoàn giao chiến hai ngày, cần hơn năm tấn đạn. Lương thực và những tiếp liệu khác chưa kể. Con số này đến từ cấp số vũ khí và đạn trang bị cho một tiểu đoàn bộ binh căn bản. Tài liệu và phương thức tính đến từ A Study of Data Related to Viet Cong/ North Vietnamese Army Logistics and Manpower, trang 25-35 (Document 5-3-17, Top-Secret, LBJ Library).
  • [9]Nguyễn Việt Phương, một cựu đại tá trong Ðoàn 559, ghi lại một số chi tiết về cơ cấu ĐHCM trong Trường Sơn: Ðường Hồ Chí Minh huyền thoại (2 quyển). Sách của các tác giả CSVN viết về ĐHCM nhiều, nhưng chất lượng không có. Nếu đọc kỹ và đối chiếu nhiều tài liệu với nhau, đọc giả sẽ thấy nhiều mâu thuẫn hiển nhiên. Tác giả viết bài này có nhận định tổng quát thư liệu về ĐHCM của CSVN trong “Binh đoàn, binh trạm, và đường đi B: Ðọc một vài quyển sách về Ðường Hồ Chí Minh” (Chuyên san Dòng sử Việt, Số 4, năm 2007. Có thể đọc trên Internet ở web site http://www.talawas.org).
  • [10]Tổng cục Hậu cần, Vận tải quân sự chiến lược trên Ðưòng Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ, trang 435. Trong số 970 súng phòng không, có 416 súng là loại 12.7 ly, số còn lại là từ 20 ly trở lên; và, Project CHECO, Headquarters Seventh Air Force, Commando Hunt V. Ðại bác phòng không 37 ly có tầm hiệu quả ở cao độ 10.000 bộ; 85 ly, 25.000 bộ; 100 ly, 31.000 bộ. AC-130 hoạt động khoảng 9.500 bộ; B-52, từ 28.000 đến 31.000 bộ.
  • [11]Về cơ cấu của MACV-SOG (Military Assistance Command-Studies and Observations Group) và chi tiết những điệp vụ xâm nhập vào Lào, đọc Military Assistance Command Vietnam, Command History, 1970. Appendix B, Part V, MACSOG Dcumentation Study (July 1970). Studies and Observations Group là một mỹ danh của Special Operations Group, một liên đoàn Lực lượng Ðặc biệt phụ trách về tình báo chiến lược cho BTL MACV.
  • [12]Sách của CSVN ghi tên các của khẩu là Ðường 12-Mụ Giạ-Seng Phan; Ðường 20-Ta Lê-Lùm Bùm; Ðường 18-Ðèo 700-Tà Lao. Không thấy tài liệu của họ nói về “Box Delta,” một cửa khẩu trọng điểm nằm ngay dưới vĩ tuyến 17 và biên giới Lào.
  • [13]Về những chiến dịch dội bom Commando Hunt ở Hạ Lào, đọc Project CHECO, Headquarters Pacific Air Forcce, Commando Hunt V. Trong cao điểm của chiến dịch dội bom chiến lược, Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược (Strategic Air Command là BTL điều khiển pháo đài bay B-52) cung cấp cho MACV 1.400 phi vụ B-52 một tháng. Khoảng 300 phi vụ được sử dụng bên trong lãnh thổ VNCH, số còn lại cho những mục tiêu ở Hạ Lào.
  • [14]Henry Kissinger, White House Years, trang 1004-05.
  • [15]H.R Haldeman, The Haldeman Diaries, trang 224-26; 239. Haldeman là Chief of Staff của tổng thống Nixon. Alexander Haig, Inner Circles, trang 273-76. Nhưng theo tác giả Seymour Hersh (the Price of Power: Kissinger in the Nixon White House, trang 308) thì chính Haig là người đề nghị kế hoạch HQLS719 với Kissinger. Những sự đổ thừa qua lại cho thấy không ai nhận làm tác giả một kế hoạch bất hoàn hảo — nếu không nói là thất bại.
  • [16]Ðại tướng Bruce Palmer, Jr., The 25-Year War, trang 108; Sorley, A Better War, trang 234-35. Từ tháng 1-1970 đến tháng 3-1971 tướng Haig đến Sài Gòn ba lần. Mục đích của chuyến đi ngày 13 tháng 12-1970 thì đã nói trên; chuyến viếng thăm giữa tháng 3-1971, là để thẩm định tình hình Cuộc hành Quân Lam Sơn 719 đang diễn ra. “… kế hoạch đánh qua biên giới.” Là ám chỉ hành quân Toàn Thắng 1/71, đánh trở lại vùng đồn điền Chup, Krek, và phía nam Kompong Cham.
  • [17]Tài liệu do National Archives giải mật và được nhật báo The Washington Post đăng tải ngày XXX.
  • [18]Một số các tài liệu Hoa Kỳ nói về HQS719 đôi khi dưới tên Dewey Canyon II. Thật sự Dewey Canyon II là một phần của HQLS719, và chỉ là những hoạt động của quân lực Hoa Kỳ ở bên này biên giới. Lý do gọi là Dewey Canyon II, vì hai năm trước đó, tháng 1-1969, TQLC Hoa Kỳ đã có hành quân Dewey Canyon đánh qua biên giới Lào ở khu vực A Shau, vào căn cứ hậu cần 611 và 609 do Binh trạm 42 phụ trách. Cuộc hành quân năm 1969 rất giới hạn (sâu vào biên giới Lào từ bốn đến sáu cây số) nhưng phá hủy và tịch thu nhiều vũ khí, quân nhu dụng của CSVN. Lewis Sorley, The Abrams Tapes, trang 129, 156; Shelby Stanton, The Rise and Fall of An American Army, trang 295-300.
  • [19]Vì hành quân ở vùng trách nhiệm của Quân đoàn I, trung tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Quân đoàn I được cử làm tư lệnh cuộc hành quân. Quân đoàn XXIV là BTL Mỹ phụ trách Vùng I. Trước đây, BTL Quân đoàn III TQLC (III Marine Amphibious Force) phụ trách địa phận này. Cuối năm 1969, TQLC Hoa Kỳ bắt đầu rời Việt Nam trong chương trình Việt Nam hoá, và MACV lập ra BTL Quân đoàn XXIV để thay cho III MAF.
  • [20]Ngày tháng và nội dung của những điện văn, quân lệnh trao đổi giữa BTL TBD và BTL MACV nằm trong The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, 1971-1973, Part I. Một số điện văn trao đổi giữa BTMLQHK, BTL TBD, MACV được sơ lược trong Lewis Srley, A Better War, trang 228-246
  • [21]Ba kế hoạch tấn công qua biên giới là, tấn công qua Cam Bốt, Hạ Lào, và đột kích bí mật qua vĩ tuyến 17. Cuộc tấn công qua Cam Bốt là hành quân Toàn Thắng 1/71, với 19 ngàn quân tham dự. Lewis Sorley, sđ
  • [22]Ðây là khu vực của binh trạm 37, nằm trên một vùng có tên là Ban Bak (tài liệu CSVN gọi là Bản Bạc), khoảng 60 cây số từ biên giới Việt Nam. Nếu nhìn bản đồ quân sự, vùng này nằm bên trái quốc lộ 14, hướng tây của Khâm Ðức. Ðây là caên cứ 609, căn cứ hậu cần lớn nhất sau Tchepone. Trung tuần tháng 9-1970, LLÐB Mỹ tấn công vào binh trạm này trong cuộc hành quân Tailwind. Trong cuộc hành quân đó, LLÐB Mỹ bị vu cáo đã dùng vũ khí hơi độc Sarin. Bộ Quốc phòng Mỹ phải giải mật một số hồ sơ về cuộc hành quân để phản đối tin đồn sai lạc này.
  • [23]The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, trang 24-25.
  • [24]Một ký giả Mỹ viếng thăm Hà Nội kể lại, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch nói Tổng thống Nixon có khuynh hướng làm những chuyện táo bạo, và chính phủ Hà Nội phải dự kiến nhiều viễn tượng bất ngờ sau hai lần bị tấn công vào Ban Bak và Tây Sơn. Seymour Hersh, The Price of Power, trang 306.
  • [25]Larry Berman, trong tác phẩm về điệp viên Phạm Xuân Ẩn, nói Ẩn biết được kế hoạch Cuộc hành Quân Lam Sơn 719 từ một “đại tá Nhảy dù và LLÐB.” Tuy nhiên, qua những gì chúng ta đọc được trong sách, đây chỉ là những lời đoán mò, nếu không là nói dóc của Phạm Xuân Ẩn. Ðọc Perfect Spy: The Incredible DoubleLife of Pham Xuan An, trang 184-85.
  • [26]Ðại úy Trương Duy Hy trong Tử thử căn cứ hoả lực 30 Hạ Lào, cho biết ngày 25 tháng 1-1971, ông và nhiều sĩ quan được gọi về bộ chỉ huy tiểu đoàn pháo binh để nghe thuyết trình về cuộc hành quân. Trong buổi họp, tin chánh thức cho biết hành quân sẽ khai diễn sau Tết Tân Hợi (Mùng Một Tết năm 1971 là ngày 27 tháng 1). Về chuyện tướng Lãm nói chuyện với tướng Phạm Văn Phú ở phi trường, đọc John Prados, The Blood Road: The Ho Chi Minh Trail and the Viet Nam War, trang 322-23.
  • [27]Ðọc thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, Lam Son 719, trang 34. Ðại tá Cao Khắc Nhật là tham mưu trưởng Quân đoàn I; Chuẩn tướng Trần Ðình Thọ, Phòng 3, BTTM; thiếu tướng Donald H. Cowles, Phòng 3, MACV
  • [28]The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, trang 26-28. Phóng viên Marvin Kalb nói trúng phóc ngày Nixon ra lệnh tiến hành Giai đoạn I của HQLS719.
  • [29]Sorley, The Abrams Tapes, trang 428, 525, 530, 599. Binh trạm 9 phụ trách vùng Tchepone, Bản Cộ, Thà Khống (đường 18); binh trạm 27 phụ trách đường 16, đi về Bản Ðông; 33 và 34 phụ trách đường 914 từ Tchepone về Bản Ðông, nằm phía tây nam đường 9.
  • [30]Ðại tá John M. Collins, Oplan El Paso, Joint Forces Quarterly, Autumn/Winter 1997-98, trang 118. Quân số cho cuộc hành quân là 60 ngàn, nhưng vùng hoạt động của Oplan El Paso lớn hơn HQLS719: Ðông Khe Sanh, Bắc sông Xe Banghiang, tây Muong Phine, nam Muong Nong. Sư đoàn của Mỹ đông hơn của VNCH rất nhiều: sư đoàn không kỵ có quân số 22 ngàn; sư đoàn bộ binh điển hình có 16 ngàn. Con số 60 ngàn cho ba sư đoàn, chắc là cộng thêm những đơn vị công binh, thiết kỵ, pháo binh cơ hữu của sư đoàn.
  • [31]Kissinger, sđd, trang 1005. Trong trang này, Kissinger nói ông nói chuyện với Westmoreland ngày 23 tháng 2 (hai ngày trước khi căn cứ hoả lực 31 thất thủ; năm ngày sau khi hai tiền đồn của BÐQ đã mất), và Westmoreland nói bốn sư đoàn là lực lượng tối thiểu cho cuộc hành quân. Nhưng ở trang 906, Kissinger lại nói kế hoạch trong quá khứ do Westmoreland soạn thảo cần đến hai quân đoàn lính Mỹ (chữ nghiên của người viết). Kissinger nói hai quân đoàn cũng có lý do, nếu một sư đoàn là 10 ngàn quân (ba sư đoàn là một quân đoàn; 60 ngàn quân trong ước tính của Oplan El Paso, trên căn bản, là hai quân đoàn).
  • [32]Số quân 30.746 VNCH đến từ phiếu đệ trình, Phòng 3, BTTM, Gởi Tổng trưởng Quốc phòng, đề mục: Tổng kết tổn thất bạn/ địch trong cuộc hành quân Lam Sơn 719. Ngày 10 tháng 4-1971, BTTM cho lưu hành tài liệu này để cho các cơ quan liên hệ sử dụng khi nói về thiệt hại bạn/ địch trong cuộc hành quân. Nhưng phải nhấn mạnh ở đây, 30 ngàn quân là tổng số quân chánh thức tham dự HQLS719. Số quân thật sự ở mặt trận quá 19 ngàn trong cao điểm cuộc hành quân. Số quân 60 ngàn CSVN đến từ Merle Pribbenow, translator, Victory in Vietnam: The Official History of the People’s Army of Vietnam, 1954-1975, trang 274 (Ðây là bản dịch cuốn Thời kỳ trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Hà Nội: Quân Ðội Nhân Dân, 1994.) . Trong tài liệu này, CSVN nói đầu tháng 2-1971 ở vùng hành quân họ có năm sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, và 2); hai trung đoàn độc lập (27 và, 278); tám trung đoàn pháo binh; ban trung đoàn công binh, ba tiểu đoàn xe tăng; sáu trung đoàn phòng không; tám tiểu đoàn đặc công; và các đơn vị hậu cần, vận tải. Tài liệu đến từ Ban Tham mưu Liên quân cho biết cuối tháng 3, ở một vài mặt trận CSVN có quân gấp ba lần quân VNCH. The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietam, trang 43.
  • [33]Người viết dùng hai tài liệu cho phần này, Lewis Sorley, The Abrams Tapes; và, Headquarters 101st Airborne Division (Airmobile), Final Report: Airmobile Operations in Support of Operation LAMSON 719 (24 April 1971). Phần lớn trực thăng, 426 chiếc, đến từ Liên đoàn 101 Không vận Trực thăng (101st Aviation Group), số còn lại đến từ những tiểu đoàn xung kích, không pháo, cứu thương, quan sát. Trong số gần 600 trực thăng này, chỉ có 53 là loại chuyên chở nặng, CH-47, và hơn 100 chiếc loại AH-1G (gunship). Thêm vào đó khả năng “chuẩn bị tác chiến” (sẳn sàng để bay) của tất cả trực thaêng chỉ được 70%. Ba tuần cuối cùng của trận chiến, QÐXXIV “mượn” được thêm hơn 100 trực thăng nữa, nâng tổng số lên gần 700 chiếc.
  • [34]Ba lon gạo và 250 grams đồ ăn là một ký; bốn lít nước (tương đương một gallon) là bốn ký. Ba mươi ngàn người cần 150.000 ký (150 tấn). Trọng tải an toàn cho trực thăng UH-1 là 1.000 ký một phi vụ. Trở lại kế hoạch Oplan El Paso, dự liệu tiếp tế cho quân số 60 ngàn là 3.000 tấn một ngày — 50 ký cho mỗi đầu người. Dĩ nhiên con số này tính luôn quân nhu dụng cần để tác chiến. Giả dụ HQLS719 chỉ cần 1/3 nhu cầu của Oplan El Paso (16.6 ký mỗi đầu người), thì phải cần gần 500 phi vụ để cung ứng cho 30 ngàn quân. Ðó là chưa nói đến phi vụ cứu thương, yểm trợ hoả lực, hộ tống và thám thính. Tài liệu cho biết số quân cao nhất VNCHcó ở Hạ Lào là 19 tiểu đoàn tác chiến và 12 tiểu đoàn pháo binh (có tài liệu nói 18 tiểu đoàn tác chiến và 10 tiểu đoàn pháo binh trong cao điểm cuả chiến trường)
  • [35]Headquarters Pacific Air Force, Project CHECO, Lam Son 719, trang 102. Ðiện tín đánh lên cho máy bay tiền sát vào đêm 4 tháng 3, nhờ chuyển về BTL sư đoàn Dù ở Khe Sanh. Tiểu đoàn 2 Nhảy dù di tản khỏi căn cứ bằng đường bộ chiều hôm sau. Cảnh thiếu nước được tác giả Tử Thử Căn Cứ Hoà Lực 30 Hạ Lào nhắc lại nhiều lần trong sách.
  • [36]Lewis Sorley, The Abrams Tapes, trang 545-46; A Better War, trang 251-53.
  • [37]LoLo là bãi đổ quân xa nhất từ biên giới cho đến ngày 3 tháng 3. Ðây là bãi đổ quân để chuẩn bị nhảy vào Tchepone. Sau LoLo là các bãi đáp Liz, Sophia, và cuối cùng là Hope, ngày 6 tháng 3. Không quân dọn bãi đáp Liz ngày 4 tháng 3 rất “rẻ, đẹp, bền.”: một trái BLU-82 (15.000 cân); 14 phi vụ B-52; 10 phi vụ dội bom chiến thuật; 13 phi vụ bom CBU nổ chậm chống người. Sau đó trong khi chờ trực thăng đến bãi đáp, cứ 10 phút có một phi vụ dội bom chiến thuật cho đến khi đoàn trực thăng xuất hiện. Trong 62 trực thăng đổ quân, hai chiếc bị bắn hủy diệt và 18 bị trúng đạn. Ở bãi đáp Hope: 25 phi vụ B-52; hai trái BLU-82; 50 phi vụ chiến thuật cho các loại bom CBUs; và trong lúc trực thăng lên xuống đổ quân, thên 29 phi vụ bom chiến thuật nữa. Kết quả, không một trực thăng nào bị thiệt hại ở Hope. Ðọc Project CHECO, Lam Son 719, trang 93-101.
  • [38]Chuyện tướng Khang và tướng Lãm, The Abrams Tapes, trang 566-67; Tướng Lãm than phiền tướng Ðống, điện văn Top Secret MAC 02455 Eyes Only, đại tướng Abrams gởi trung tướng Sutherland, 9 March, 1971; điện văn Top Secret, QTR 0306, Eyes Only, Sutherland gởi Abrams, 10 March 1971.
  • [39]Sĩ quan cố vấn cho Sư đoàn Nhảy dù, và Sư đoàn TQLC là hai thí dụ điển hình. Cố vấn TQLC Hoa Kỳ đã tận tình cứu nguy cho Tiểu đoàn 4 TQLC ở đồi Delta đêm 25 tháng 3, khi đồi bị tràn ngập (người cố vấn xin trực thăng CH-53 của Hải quân Hoa Kỳ thẳng từ Hạm đội 7, thay gì qua đơn vị cơ hữu không vận của QÐ XXIV). Trong khi cố vấn Nhảy dù thì không nắm vững tình hình của các đơn vị Nhảy dù mà ông đang cố vấn. Sau khi Ðồi 31 thất thủ, tướng Arams bất thần giải nhiệm đại tá cố vấn Sư Nhảy dù William Arthur Pence, và thay bằng đại tá James Vaught. Vaught sau này về hưu với cấp bậc trung tướng và vẫn tình bạn với lính dù VNCH cho đến ngày hôm nay.
  • [40]Project CHECO, trang 19. Trong số lượng súng đó, có 170-200 súng loại từ 23 ly đến 100 ly. Số còn lại có khẩu độ nhỏ, 12.7l y đến 20 ly, nhưng gây nhiều thiệt hại nhất.
  • [41]Sorley, A Better War, trang 250. Ðại úy Trương Duy Hy cũng ghi lại điều này trong sách của ông.
  • [42]Sorley, sđd, trang 246. Chuyên viên không ảnh không nhận ra được những chi tiết đó, vì sau một thời gian, cỏ mọc phủ lên, chụp không ảnh không thể phân biệt được.
  • [43]Tiếp liệu trên đoạn đường Ðông Hà-Khe Sanh rất phức tạp, với hơn 1.000 chuyến xe một ngày trên đoạn đường một xe đi (one-lane road). Chuyên chở xăng bằng trực thăng tốn kém nhiều phi vụ. Một lít xăng nặng 878 grams. Quân xa loại bốn tấn (GMC) chạy 5km một lít xăng; xe tăng M-41, 2.5 lít một cây số; M-113, 3 cây số một lít. Xe “tanker” chở xăng mà chúng ta thấy chạy trên xa lộ, có trọng tải tối đa 6.000 gallons (24 ngàn lít), nhưng thông thường chỉ chở 5.000 gallons (20 ngàn lít). Di chuyển 5.000 gallons xăng cần 17 phi vụ trực thăng UH-1, hay năm phi vụ của CH-47.