Chính phủ yêu cầu báo cáo về vụ ‘chất cấm’ trong mì Hảo Hảo xuất khẩu

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://tuoitre.vn/chinh-phu-yeu-cau-bao-cao-ve-vu-chat-cam-trong-mi-hao-hao-xuat-khau-20210830214901542.htm

TTO – Bộ Công thương được đề nghị kiểm tra và có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ về thông tin phản ánh sản phẩm mì ăn liền của Hảo Hảo xuất khẩu có chất cấm.

Thông tin được nêu ra trong văn bản của Văn phòng Chính phủ vừa phát đi đề nghị Bộ Công thương kiểm tra, có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ về sản phẩm mì Hảo Hảo trước ngày 7-9, theo quy chế làm việc của Chính phủ.

Yêu cầu được Chính phủ đưa ra là do thời gian gần đây, báo chí có nhiều tin bài phản ánh về việc sản phẩm mì ăn liền Hảo Hảo của Công ty cổ phần Acecook Việt Nam có chất cấm, không đảm bảo an toàn thực phẩm.

Trước đó, Vụ Khoa học công nghệ (Bộ Công thương) cho biết đang xác minh thông tin về việc sản phẩm mì Hảo Hảo xuất khẩu và miến Good xuất khẩu của công ty này được cho là phát hiện có chất cấm.

Cụ thể, Bộ Công thương đã đề nghị Acecook khẩn trương báo cáo về quy trình sản xuất và sự khác biệt giữa lô sản phẩm tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đối với 2 sản phẩm mì Hảo Hảo và miến Good được sản xuất.

Việc báo cáo kiểm tra để đánh giá sự xuất hiện chất ethylene oxide (là chất không thuộc danh mục được quy định về giới hạn tối đa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong thực phẩm theo thông tư 50/2016/TT-BYT của Bộ Y tế) trong sản phẩm như cảnh báo nêu.

Đồng thời, Bộ Công thương chỉ đạo các đơn vị chức năng phối hợp rà soát toàn bộ danh mục sản phẩm do Công ty cổ phần Acecook Việt Nam hiện đang phân phối trong nước, kiểm tra làm rõ quy trình sản xuất và xác định các vi phạm nếu có để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Trước đó, Cơ quan An toàn thực phẩm Ireland (FSAI) thông báo quyết định thu hồi một số sản phẩm mì ăn liền của Acecook Việt Nam.

Theo thông tin từ website của FSAI đăng tải vào ngày 20-8, một số lô mì Hảo Hảo và miến Good do Công ty Acecook Việt Nam sản xuất có chứa chất ethylene oxide. Đây là chất không được phép sử dụng trong thực phẩm bán ở Liên minh châu Âu (EU).

Thực hư về 500,000 liều vaccine Moderna nhóm luật sư gốc Việt ở Mỹ tặng Sài Gòn

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Đoan Trang/Người Việt

LITTLE SAIGON, California (NV) – Giữa lúc Sài Gòn “gồng mình” đối phó với đại dịch COVID-19 đang bùng phát dữ dội trong khi vaccine không đủ chích cho mọi người, tin tức về một nhóm luật sư ở Mỹ gửi tặng người dân Sài Gòn 50,000 lọ vaccine Moderna, tương đương 500,000 liều, chẳng khác nào sắp chết đuối gặp được phao cứu sinh.

Vaccine Moderna. (Hình minh họa: Chaideer Mahyuddin/AFP via Getty Images)

Tuy nhiên, thực hư về chuyện này như thế nào vẫn là một câu hỏi lớn.

“Sau nhiều lần liên tiếp thảo luận với các hãng dược phẩm Hoa Kỳ, tổ hợp luật sư chúng tôi sẽ được nhận một lô vaccine Moderna với số lượng là 50 nghìn lọ để biếu tặng trực tiếp cho người dân ở Sài Gòn góp phần nhỏ bé trong công cuộc phòng chống và ngăn ngừa đại dịch lây nhiễm.”

Đó là một đoạn trong văn bản đề ngày 3 Tháng Tám, gửi đích danh đến ông Nguyễn Văn Nên, bí thư Thành Ủy ở Sài Gòn, và ông Nguyễn Thành Phong, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố.

Người ký tên trên văn bản ghi “LS Võ Đức Duy, thay mặt Tổ hợp Luật sư SAMA Legal.”

Vào ngày 9 Tháng Tám, trên báo Tuổi Trẻ đăng bản tin cho biết, ông Phùng Công Dũng, chủ nhiệm Ủy Ban Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài của Sài Gòn, gửi công văn khẩn đến lãnh đạo thành phố để xin tiếp nhận lô vaccine trên.

“Trong văn bản, ông Dũng cho biết ngày 8 Tháng Tám, Ủy Ban Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài TP.HCM đã nhận thông tin của Luật Sư Võ Đức Duy (là người Việt Nam ở Mỹ) và các cộng sự trong ngành luật tại Mỹ và tại TP.HCM gửi thư đề xuất đến ông Nên và ông Phong,” theo Tuổi Trẻ.

Bản tin nhanh chóng được nhiều báo trong nước đăng lại, có báo dịch sang tiếng Anh.

Cũng trong ngày 9 Tháng Tám, trên trang Facebook SAMA Legal_an international Partnership (gọi tắt là SAMA Legal) và Santa Lawyers có đăng tin về 50,000 lọ vaccine của hãng Moderna mà nhóm luật sư này nói “sẽ được nhận” từ Moderna và muốn biếu tặng cho chính quyền thành phố.

Lá thư Luật Sư Võ Đức Duy gởi cho lãnh đạo thành phố ở Sài Gòn. (Hình chụp từ Internet)

Trang Facebook này có đoạn viết: “Dear các bạn, trước tiên chúng tôi muốn báo tin vui đến các bạn là văn bản của chúng tôi đã gửi đến văn phòng Ngài Bí thư và Ngài Chủ tịch của TP HCM và chúng tôi tin rằng sẽ sớm nhận được chỉ đạo sớm.”

Kèm theo đó là địa chỉ email và số điện thoại để mọi người có thể liên lạc, là ông Võ Đức Duy.

Ông Võ Đức Duy cũng dẫn link từ Facebook SAMA Legal và Santa Lawyers về trên trang cá nhân của mình.

Ngày 17 Tháng Tám, trả lời nhật báo Người Việt về thông tin đăng trên báo Tuổi Trẻ, ông Phùng Công Dũng cho biết có việc một tổ hợp luật sư tại Mỹ muốn biếu tặng đồng bào Sài Gòn 50,000 lọ vaccine.

Ông Dũng nói: “Lãnh đạo thành phố đã đồng ý và giao cho chúng tôi liên lạc với tổ hợp luật sư. Qua trao đổi bằng thư điện tử, ông Duy nói hiện nay chưa có trong tay 50,000 lọ vaccine này, vì họ đang trong quá trình đàm phán.” 

Ai được mua vaccine?

Được biết, việc cung cấp vaccine COVID-19 hiện nay chỉ có thể thông qua con đường chính thống từ các cơ quan hữu trách thuộc chính phủ.

Để xác minh điều này, nhật báo Người Việt có liên lạc và đặt câu hỏi trên với công ty Moderna.

Cho đến khi bài báo lên khuôn, Moderna vẫn chưa hồi âm.

Tuy nhiên, khi truy cập trang web của Moderna, chúng tôi tìm được thắc mắc trong phần những câu hỏi thường gặp: “Tôi có thể đặt mua vaccine được không?”

Và câu trả lời là: “Vaccine này đang được sản xuất để sử dụng độc quyền trong trường hợp khẩn cấp thông qua chương trình chích ngừa COVID-19, gọi là ‘Vaccination Program’ của Trung Tâm Phòng Ngừa Dịch Bệnh Mỹ (CDC). Các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe phải ghi danh làm nhà cung cấp thuộc ‘Vaccination Program’ và tuân thủ các yêu cầu đặt ra cho nhà cung cấp.”

Một binh sĩ kiểm tra giấy phép đi đường của một người dân trong những ngày Sài Gòn “ai ở đâu yên đó.” (Hình: Vu Tien Luc/VNA via AP)

Thông tin trên trang web của CDC cho thấy, tại thời điểm này, tất cả vaccine COVID-19 ở Mỹ đã được chính phủ mua độc quyền và do các nhà cung cấp ghi danh thông qua chương trình “Vaccination Program.”

“Vaccine vẫn là tài sản của chính phủ Hoa Kỳ cho đến khi nó được chích cho người dân,” theo hướng dẫn của CDC.

Cũng theo CDC, ngoài cơ quan nhà nước các cấp, các ngành… chỉ các chuyên gia, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y tế,… mới được ghi danh làm nhà cung cấp dịch vụ chích ngừa trực tiếp, vì chỉ những nơi này mới có thể giữ gìn và quản trị hợp pháp vaccine COVID-19 ở Mỹ.

Khi được hỏi “Liệu một tổ chức hay cá nhân nào có thể mua vaccine?” qua email, bà Natalie Jimenez, phát ngôn viên Sở Y Tế Công Cộng Los Angeles County, khẳng định: “Hiện nay, vaccine chỉ được phân phối cho các nhà cung cấp và phải có sự chấp thuận của chính phủ tiểu bang và liên bang.” 

Ông Võ Đức Duy là ai?

Theo thông tin trên trang web của công ty Moderna, vaccine được đóng ở mức 14-15 liều/lọ (0.5 ml/liều) với lịch chích hai liều/người và thời gian chích hai liều cách nhau một tháng. Như vậy, lô thuốc 50,000 lọ (nếu có) mà nhóm luật sư của ông Võ Đức Duy muốn tặng cho Sài Gòn lên đến 750,000 liều, chứ không phải 500,000 liều như báo chí trong nước đưa tin.

Ông Võ Đức Duy là ai mà “sẽ được nhận” một số lượng lớn vaccine như trong văn bản gửi cho lãnh đạo Sài Gòn?

Nhật báo Người Việt đã liên lạc với ông để hỏi về tình hình 50,000 lọ vaccine, và được ông trả lời qua email: “Hiện tại cũng có nhiều cơ quan truyền thông báo chí tại Việt Nam và các quốc gia khác mong muốn đưa tin nhiều hơn, nhưng cho phép chúng tôi chưa thể cung cấp thêm các thông tin chi tiết này, cho đến khi lô vaccine về đến được Sài Gòn, vì tôn trọng các thỏa thuận, tính bảo mật,… của các bên đã thống nhất trong quá trình thảo luận vaccine này.”

Trong địa chỉ email ông Duy gửi lại cho nhật báo Người Việt, phần ký tên cho thấy ông là đối tác của Santa Lawyers, SAMA Legal và công ty luật Hạnh Minh, quận Tân Bình, Sài Gòn.

Trên Facebook của mình, ông Võ Đức Duy ghi rằng hiện sống tại “Ofu, United State.”

Bùng binh Lăng Cha Cả vắng tanh những ngày Sài Gòn bị COVID-19, “ai ở đâu yên đó.” (Hình: Bui Van Lanh/VNA via AP)

Theo Wikipedia, Ofu là một phần của American Samoa trong quần đảo Samoan Island, thuộc lãnh thổ Hoa Kỳ.

Trang web của Santa Lawyers.com mà ông Duy là đối tác, hiện tại chưa hoàn chỉnh, còn nhiều mục vẫn hiện phần template (mẫu) chưa được cập nhật.

Công ty có địa chỉ trong tòa nhà Petro Vietnam, tầng thứ 12, đường Lê Duẩn, Quận 1, Sài Gòn, và có địa chỉ tại Mỹ: Champions Forests Building, số 4606 FM 1960 Rd West, Suite 400, Houston, Texas, 77069, nhưng trên Google Maps không xác định cụ thể được vị trí này.

Trên Facebook của Santa Lawyers, khi đọc được “tin vui” về 50,000 lọ vaccine mà ông Duy viết, cũng có người hỏi địa chỉ của công ty tại Mỹ, nhưng không có câu trả lời.

Wikitrademarks lại cho thấy, ông Võ Đức Duy là chủ nhân của SAMA Legal, đăng ký nhãn hiệu ngày 19 Tháng Năm, 2021, với tư cách cá nhân, và địa chỉ của SAMA Legal là một nhà riêng, ở Houston, Texas.

Chúng tôi cũng đã liên lạc với công ty luật Hạnh Minh, người trả lời qua điện thoại là Luật Sư Trịnh Hạnh không khẳng định ông Võ Đức Duy có phải là đối tác hay không, và từ chối cung cấp thông tin.

Theo trang web vietnamese-p2p.com, ông Võ Đức Duy cũng là người sáng lập tổ chức Pride to Protection, địa chỉ liên lạc là tòa nhà Woolworth, 233 Broadway, New York, NY 10007, USA, nhưng không có số điện thoại liên lạc.

Ngoài ra, trang web này nay đã bị “treo” (suspended) khi nhấn vào đường link. [đ.d.]

—–
Liên lạc tác giả: doantrang@nguoi-viet.com

Cựu phóng viên Mỹ: Tình hình ở Afghanistan còn tệ hơn Sài Gòn năm 1975

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Du Miên

image.png

Quân đội Việt Bắc chạy trên đường băng của sân bay quân sự Hoa Kỳ ở Tân Sơn Nhứt, miền Nam Việt Nam ngày 12/5/1975

Một cựu phóng viên Mỹ chuyên tác nghiệp ở hải ngoại nhận định, tình hình ở Afghanistan còn tồi tệ hơn ở Sài Gòn, Việt Nam vào năm 1975.

Sài Gòn, thủ đô của miền Nam Việt Nam vào thời điểm đó, đã rơi vào tay Quân đội Bắc Việt Nam vào ngày 30/4/1975. Trong những ngày trước khi quân Bắc Việt tiếp quản và dẫn đến kết thúc Chiến tranh Việt Nam, quân đội Mỹ đã sơ tán hàng ngàn người Mỹ và người Việt Nam khỏi Sài Gòn.

Ông Ron Yates đã ở tại đó vào thời điểm ấy với tư cách là phóng viên của tòa soạn Chicago Tribune. Ông nhớ rằng, quân đội Hoa Kỳ đã làm việc trong nhiều tuần để sơ tán những người Việt Nam đã hỗ trợ Hoa Kỳ trong chiến tranh.

Trong chương trình “American Thought Leaders” của The Epoch Times hôm 20/8, cựu phóng viên Yates thuật lại: “Họ đã cố gắng giải cứu được rất nhiều người”.

Đối nghịch lại, Mỹ đã thất bại trong việc sơ tán rất nhiều người Afghanistan trước khi đất nước Trung Đông này rơi vào tay phiến quân Taliban vào giữa tháng Tám.

Ông Yates nói: “Đó là một thảm họa không thể cứu vãn được. Họ đã có nhiều tháng để làm việc này. Tại sao họ không thể bắt đầu quá trình này cách đây 3 hoặc 4 tháng, từ từ đưa những người Afghanistan này đi, những người sẽ trở thành mục tiêu của Taliban sau khi họ tiếp quản?”.

Kể từ ngày 14/8, Hoa Kỳ đã sơ tán hoặc tạo điều kiện cho việc sơ tán khoảng 82.300 người trên các chuyến bay của quân đội Hoa Kỳ và đồng minh, một quan chức Nhà Trắng cho biết hôm 25/8. Nhiều người Afghanistan có thể đã bị Taliban nhắm mục tiêu nếu họ ở lại đất nước.

Tuy nhiên, chỉ có khoảng 5.400 người được sơ tán trước khi Taliban tiếp quản, trong đó có một số người Mỹ.

Chính quyền ông Biden đã khẳng định sẽ có thời gian để xem xét lại hành động sau đó, bao gồm cả việc thăm dò xem các lực lượng Afghanistan đã thất bại trong việc chống lại Taliban như thế nào. Chính quyền đương nhiệm tại Mỹ đã bị chỉ trích vì dường như không dự đoán được sự tiếp quản chóng vánh, diễn tiến ngay sau khi Hoa Kỳ tiến hành rút quân trước thời hạn tự áp đặt vào ngày 31/8.

Các quan chức quân sự đã ám chỉ đến một sự thất bại trong lĩnh vực thông tin tình báo. Trong một lần xuất hiện hiếm hoi trước công chúng vào tuần trước, vị tướng hàng đầu của Hoa Kỳ là ông Mark Milley nói với các phóng viên  rằng: “Không có gì mà tôi hoặc bất kỳ ai khác nhìn thấy lại cho thấy sự sụp đổ của quân đội và chính phủ này trong vòng 11 ngày”.

Văn phòng Giám đốc Tình báo Quốc gia chưa trả lời yêu cầu bình luận của The Epoch Times.Ảnh tư liệu của phóng viên Ron Yates ở Việt Nam. (Ảnh: The Epoch Times)Ảnh tư liệu của phóng viên Ron Yates ở Việt Nam. 

Cựu phóng viên Yates từng phục vụ trong Cơ quan An ninh Quân đội của Mỹ – cơ quan xử lý các tín hiệu tình báo của Hoa Kỳ. Trao đổi với The Epoch Times, ông bày tỏ quan điểm cho rằng, đó không phải là một thất bại tình báo, mà là một thất bại của chính quyền trong việc chú ý đến thông tin tình báo mà họ được cung cấp.

Ông Yates nói: “Tôi nghĩ rằng có rất nhiều thông tin tình báo tại thực địa. Bạn biết đấy, chúng tôi có rất nhiều người tại thực địa ở Afghanistan, ngay cả bây giờ, những người đang cung cấp thông tin tình báo tốt về Taliban hoặc bất cứ điều gì”.

Ông tiếp tục:

“Và tôi tin rằng quân đội của Lầu Năm Góc đã cảnh báo cho chính quyền về những gì sắp xảy ra. Tôi nghe nói rằng họ đã cảnh báo cho [chính phủ Mỹ] hồi tháng Bảy, về điều gì sẽ xảy ra nếu họ không làm như vậy, nếu họ cho phép Taliban, nếu họ rút quân nhanh chóng và Taliban bắt đầu làm những gì nhóm này đang làm bây giờ. Đó sẽ là sự hỗn loạn. Nó sẽ rất kinh khủng.

Và bằng cách nào đó, tôi không nghĩ rằng chính quyền để ý đến lời khuyên đó. Tôi không có ở đó trong căn phòng nên tôi không biết. Tôi không biết gì về Phòng Tình huống ở Nhà Trắng, nhưng cảm giác của tôi là họ không lắng nghe. Và bây giờ chúng ta đang phải trả giá cho điều đó”.

Hôm 24/8, Tổng thống Dân chủ Mỹ Joe Biden thông báo rằng, thời hạn ngày 31/8 sẽ không bị lùi lại, ít nhất là vào thời điểm hiện tại, khi quân đội Hoa Kỳ cố gắng sơ tán hàng ngàn người Mỹ còn lại ở Afghanistan, cùng với những người Afghanistan đã giúp đỡ Hoa Kỳ trong suốt cuộc chiến tranh kéo dài 20 năm tại đất nước này.

Nhóm các nhà lãnh đạo của G7, bao gồm cả ông Biden, đã đồng ý trong một cuộc họp trước đó trong ngày về cách tiếp cận “thống nhất” với Taliban, với tính hợp pháp của bất kỳ chính phủ tương lai nào đều tùy thuộc vào cách nhóm khủng bố này duy trì nghĩa vụ quốc tế của mình.

Ông Biden cho biết: “Và chúng tôi đã đồng ý rằng, không ai trong chúng tôi sẽ tin lời Taliban về vấn đề đó. Chúng tôi sẽ đánh giá họ bằng hành động của họ. Và chúng tôi sẽ phối hợp chặt chẽ trong bất kỳ bước nào mà chúng tôi thực hiện để đối phó với hành vi của Taliban”.

Về diễn biến sắp tới đây, ông Yates hy vọng rằng, hầu hết những người Afghanistan từng làm việc với người Mỹ có thể rời khỏi đất nước Nam Á này, trước khi quân đội Mỹ rút lui hoàn toàn.

Cựu phóng viên thực địa của Mỹ nhận định: “Điều khác mà tôi nghĩ thực sự quan trọng, là hành vi của các phương tiện truyền thông của chúng ta. Tôi rất ấn tượng, tôi rất hài lòng và về chức năng của phương tiện truyền thông, khi họ đưa tin về câu chuyện này. Họ đang hỏi những câu hỏi hay. Họ đang yêu cầu trách nhiệm giải trình từ chính quyền. Họ đang thăm dò [chính quyền]. Họ đang cố gắng tìm một số câu trả lời xác đáng cho một số điều chúng ta đang thấy trên thực địa ở Afghanistan, và tôi nghĩ đó là một điều tốt. Tôi nghĩ việc này cho thấy điều tốt nhất, dạng tốt nhất của các phương tiện truyền thông”.

Ông kết luận: “Và tôi tin rằng nếu họ có thể làm được, nếu điều này có thể được duy trì theo thời gian, thì đó có thể là một kiểu tái tạo phương tiện truyền thông Mỹ của chúng ta, thực hiện công việc của mình để thay đổi và là cơ quan giám sát đối với chính phủ. Vì vậy, tôi hy vọng đó là kết quả cuối cùng của tất cả những điều này”.

Tin tổng hợp tại Việt Nam từ những facebooker tự do

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Có thể là hình ảnh về 2 người, mọi người đang đứng và văn bản cho biết 'ԔNG NGUYỄN VĂN NÊN LÀ ĐẢNG VIÊN CÓ UY TÍN, CÓ KHẢ NĂNG QUY TỤ ĐOÀN KẾT NỘI BỘ, CÔNG TÁC QUA NHIỀU TRÍ KHÁC NHAU" NGÂN ĐÁNH GIÁ'

Lê Phương Dung

KHÔNG CÓ CHUYỆN “SẮP CÓ LỆNH CẮT CHỨC BÍ THƯ NGUYỄN VĂN NÊN”.

Lợi dụng sự việc ông Phan Văn Mãi, Phó Bí thư thường trực Thành ủy TP HCM, được bầu làm Chủ tịch UBND thành phố, thay ông Nguyễn Thành Phong, một số đối tượng tung tin đồn đoán rằng sắp có lệnh cắt chức Bí thư Nguyễn Văn Nên. Lại là câu thần chú cửa miệng “bản tin nội bộ”, vậy thực hư sự việc này như thế nào

Cụ thể, tài khoản mạng xã hội của Thach Vu đăng tải bài viết có tiêu đề: “Sắp có lệnh cắt chức Bí thư Nguyễn Văn Nên” với nội dung xuyên tạc rằng: “ông Nguyễn Thành Phong chưa rời TPHCM thì tới phiên ghế Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Nên cũng sắp gẫy”. Thậm chí chúng còn lợi dụng để vẽ ra câu chuyện phe phái: “Đây là kết quả nỗ lực vận động rất mạnh của phe ông Vũ Đức Đam“.

Cho đến thời điểm hiện tại, Bí thư Nguyễn Văn Nên đang làm rất tốt nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. Những tâm huyết, những chính sách của ông dành cho người dân TP.HCM được truyền thông đưa tin rộng rãi. Chưa có một vị lãnh đạo nào, mặc dù gặp muôn vàn khó khăn nhưng vẫn kêu gọi người dân ở lại để thành phố chăm sóc và được tiêm vaccine Covid-19 như ông Nên. Còn nhớ thời điểm tháng 3, ông Nguyễn Văn Nên không ứng cử ĐBQH khóa XV là để “dành toàn bộ thời gian cho công việc lãnh đạo, chỉ đạo Đảng bộ TP Hồ Chí Minh” thì đủ hiểu tình cảm và tâm huyết của ông dành cho thành phố lớn như thế nào. Và như Nguyên Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân (hàng xóm sát nhà của LPD) đã từng chia sẻ tại buổi lễ nhậm chức của ông Nên rằng, không phải ngẫu nhiên mà Bộ Chính trị tin tưởng giao phó trọng trách quan trọng cho ông. Vị Bí thư Thành ủy TP HCM được đánh giá là cán bộ có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống trong sáng, gương mẫu, phù hợp yêu cầu công tác cán bộ của TP.HCM.

Trong thời gian TP.HCM căng mình chống dịch, Bí thư Nguyễn Văn Nên luôn sát sao, chỉ đạo. Ông nói rằng đây là quãng thời gian vô cùng thử thách. Người đứng đầu thành phố nói ra những lời tâm huyết: “Không còn lựa chọn nào khác, mà phải chiến đấu từng ngày, từng giờ để vượt qua dịch bệnh. Chúng ta đã sống hơn hai tháng trong nỗi khổ rồi. Chúng ta thèm một ngày không có Covid-19 lắm, nên phải nỗ lực vượt qua bằng sức của mình. Đây là trọng trách, thử thách rất lớn với chúng ta“.

Một vị lãnh đạo đầy đủ phẩm chất, trách nhiệm và tâm huyết với công cuộc chống dịch như vậy vì sao phải cắt chức. Muốn cách chức một ủy viên Bộ Chính Trị thì tối thiểu phải Bộ Chính trị họp ra quyết định chứ một cá nhân nào có thể ký được. Và cách chức một vị trí cao cấp thì nó là một quyết định chứ sao lại là công văn thưa Thach Vu?!

Chẳng qua đây chỉ là một âm mưu nham hiểm, tung ra những tin tức đấu đá nội bộ nhằm công kích chính quyền, hạ uy tín của lãnh đạo đất nước, chứ nào có cái “cách chức ai”. Vậy mới thấy bên cạnh công tác chống dịch vô cùng mệt mỏi, thì chúng ta còn phải chống cả những đối tượng công kích, phá hoại như thế này. Đề nghị người dân hết sức tỉnh táo khi tiếp nhận thông tin, tránh rơi vào cái bẫy hỏa mù của những kẻ chuyên dùng bút đâm sau lưng nhân dân và nhà nước.

Tiện đây cũng nói rõ cho những kẻ sâu răng, covid miệng là kẻ lại cái có nick Facebook Võ Trần Phương Thảo, Thái Văn Đường,… là đừng tung tin đồn nhảm, bịa tạc rằng CEO Nguyễn Phương Hằng sẽ bị CA Bình Dương bắt nữa nhé. Mà kẻ sẽ bị bắt chính là tên lang băm bịp bợm Võ Hoàng Yên.

Xin chúc các bạn của tôi một tuần mới ngập tràn năng lượng và niềm vui trong may mắn, bình yên.

Tại sao người Mỹ gọi ông ta là SLeep Joe (Người ngủ gục)?

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

LTS – Hình video cho thấy TT Sleepy Joe ngủ gật trong lúc nói chuyện với Thủ tướng Do Thái

Mỹ và Taliban miễn cưỡng ‘bắt tay’

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

  • Theo New York Times

Sau hai thập niên chiến đấu ác liệt, Mỹ và Taliban đã miễn cưỡng bắt tay với nhau, khi Washington tìm cách tăng cường an ninh cho cuộc di tản công dân khỏi Afghanistan.

Hai thập kỷ trước, Tổng thống George W. Bush cáo buộc Taliban hỗ trợ và tiếp tay cho hành vi giết người, sau vụ khủng bố 11/9/2001 nhắm vào nước Mỹ. Giờ đây, Tổng thống Joe Biden kết thúc cuộc chiến mà cựu Tổng thống Bush đã bắt đầu.

Washington đang bị kẹt trong mối quan hệ đối tác bất đắc dĩ với kẻ thù trước đó của họ, dựa vào Taliban để giúp bảo vệ công dân Mỹ và đồng minh Afghanistan, khi họ chạy đua để di tản khỏi đất nước, New York Times cho biết.

Các quan chức, nhà ngoại giao, điệp viên và quan chức quân sự Mỹ đang thảo luận với Taliban. Tổ chức này đóng vai trò là tuyến phòng thủ đầu tiên của Mỹ tại sân bay Kabul, kiểm tra giấy tờ và hành lý của người đến sân bay.

Mối quan hệ phức tạp

Vụ đánh bom liều chết bên ngoài sân bay Kabul hôm 26/8 đã phơi bày sự phức tạp cũng như tính mong manh trong mối quan hệ giữa Mỹ và Taliban. Chính Tổng thống Biden đã thừa nhận điều này trong bài phát biểu vào tối 26/8.“Không ai tin tưởng họ”, Tổng thống Biden nói, khi ông tố cáo tổ chức Nhà nước Hồi giáo Afghanistan (IS-K) gây ra vụ tấn công đẫm máu ở sân bay Kabul.Ảnh cùng dòng

Các quan chức Mỹ và Taliban trong cuộc đàm phán hòa bình ở Doha, Qatar. Ảnh: AP.   

Cuộc chiến giữa Mỹ và Taliban đã cướp đi sinh mạng của 2.400 lính Mỹ, nhưng hai bên đã nhiều lần liên hệ với nhau. Chính quyền cựu Tổng thống Barack Obama đã đàm phán với Taliban vào năm 2010, nhằm phóng thích binh sĩ Mỹ bị Taliban bắt giữ.

Năm 2017, chính quyền Tổng thống Donald Trump đã tổ chức các cuộc đàm phán hòa bình trực tiếp với Taliban, nhằm chấm dứt xung đột. Năm 2019, Tổng thống Trump định mời đại diện Taliban đến Trại David để tuyên bố chiến thắng.

Kế hoạch này nhanh chóng bị phá hủy sau vụ đánh bom liều chết do Taliban thực hiện ở Kabul khiến 12 người thiệt mạng, gồm một lính Mỹ. Năm ngoái, chính quyền Tổng thống Trump đã cắt thỏa thuận trước đó với Taliban về việc chấm dứt sự hiện diện của quân đội Mỹ ở Afghanistan trước ngày 1/5/2021, thời hạn mà Tổng thống Biden đẩy lùi đến ngày 31/8.

Sau vụ khủng bố ngày 26/8, hai quan chức Mỹ cho biết Cơ quan Tình báo trung ương (CIA) đã phá hủy căn cứ Eagle – một địa điểm ở ngoại ô Kabul được CIA sử dụng để huấn luyện lực lượng chống khủng bố.

Việc phá hủy căn cứ này nhằm ngăn chặn Taliban sử dụng là một ví dụ điển hình về sự phức tạp trong mối quan hệ giữa Mỹ và Taliban.

Chính quyền Biden không muốn hợp tác với Taliban

Theo các quan chức Mỹ, ban đầu chính quyền Tổng thống Biden không có ý định hợp tác với Taliban trong cuộc di tản công dân Mỹ và những người Afghanistan làm việc cho họ.Khi những binh sĩ đầu tiên được triển khai đến sân bay Kabul để đảm bảo an ninh cho cuộc sơ tán, họ dự định làm việc với lực lượng an ninh chính phủ Afghanistan. Nhưng khi Taliban tràn vào Kabul ngày 15/8, Tổng thống Ashraf Ghani chạy trốn khỏi đất nước, lực lượng an ninh chính phủ đã ngừng hoạt động.
Ảnh cùng dòng
Binh sĩ quân đội Mỹ và Anh hộ tống người vào bên trong sân bay Kabul. Ảnh: AP.

Ngay hôm đó, tướng Kenneth F. McKenzie Jr, Tư lệnh Bộ chỉ huy Trung tâm Mỹ, đã đến gặp các thủ lĩnh của Taliban yêu cầu họ không được can thiệp vào việc sơ tán.

Các quan chức Taliban nói với tướng McKenzie rằng tình hình an ninh ở Kabul đang xấu đi, và họ phải hành động nhanh để thiết lập lại trật tự. Taliban đã đề nghị thiết lập một hệ thống liên lạc nhằm thảo luận các vấn đề an ninh.( một trong hệ thống an ninh là phía Mỹ trao cho Taliban bản danh sách các người có thẻ xanh hay công dân Mỹ gốc Afghanisctan cùng với những người từng làm việc cho Mý  còn kẹt ngoài phi trường để họ có thể vượt qua các trạm kiểm soát an ninh ,tiến vào phi trường Kaboul thực hiện việc di tản rời khỏi Afghanistan , lời người viết )

Trong hai tuần qua, các quan chức Mỹ và Taliban đã trao đổi định kỳ về các vấn đề an ninh. Các cuộc trò chuyện phản ánh mối quan hệ thực dụng cần thiết, và dự kiến kết thúc sau khi nhiệm vụ sơ tán hoàn thành.

Sau vụ đánh bom, tướng McKenzie cho biết đã yêu cầu Taliban điều chỉnh hệ thống an ninh của họ, và phong tỏa các con đường cụ thể mà Mỹ xác định là nguồn đe dọa.

Các quan chức Mỹ vẫn tin rằng họ có thể dựa vào Taliban để ngăn chặn các cuộc tấn công của IS-K và các tổ chức khủng bố khác.

Khi việc sơ tán hoàn tất, mối liên hệ giữa Mỹ và Taliban sẽ do CIA đảm nhận. Ông William J. Burns, Giám đốc CIA, đã đến Kabul hôm 23/8. Đây có thể là sự chuẩn bị cho những cam kết trong thời gian tới.Tuy vậy, giới phân tích nhận định mối liên hệ giữa CIA và Taliban sẽ phụ thuộc vào hành vi của tổ chức này. Ngoài ra, mức độ của sự hợp tác này còn phụ thuộc vào việc Tổng thống Biden có tìm được sự ủng hộ nào từ Điện Capitol hay không.Cho đến nay chính quyền TT Biden chưa nói gì về việc công nhận CQ của Taliban đang kiểm soát đất nước Afghanistan .

NNDi 8/28/21

Chuyện về người thầy của Phó Tổng thống Hoa Kỳ: Điện thoại của Chủ tịch nước

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://baomoi.com/chuyen-ve-nguoi-thay-cua-pho-tong-thong-hoa-ky-dien-thoai-cua-chu-tich-nuoc/c/40039080.epi

Buổi sáng Chủ nhật 22 tháng 8 báo Tiền Phong Chủ nhật đăng kỳ I bài Chuyện về người thầy của Phó Tổng thống Hoa Kỳ phát hành thì tôi nhận được kha khá điện thoại, email, tin nhắn chia sẻ về bài viết của mình. Trong đó có điện thoại của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc mà anh em báo chí quen gọi thân mật là anh Bảy, anh Bảy Phúc! Chúng tôi cũng đã từng quen với việc trao đổi chia sẻ thông tin cùng anh em báo chí từ hồi ông ở cương vị Thủ tướng!

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Phó Tổng thống Hoa Kỳ tại Hà Nội

Tôi thoáng lúng túng… Bởi anh Bảy Phúc muốn biết thêm thông tin về GS Nguyễn Tiến Hưng.

Nghĩ thời gian trao đổi trên điện thoại ngắn nên tôi chỉ có ngỏ với anh Bảy Phúc với tư cách một bạn đọc chứ không phải với cương vị Chủ tịch nước rằng nếu anh có thời gian thì cố gắng tiếp cận với mấy tác phẩm Hồ sơ mật Dinh độc lập, Khi Đồng minh nhảy vô, khi Đồng minh tháo chạy, Tâm tư Tổng thống Thiệu của GS Nguyễn Tiến Hưng. Tác giả này đương ngỏ nhiều cánh cửa, nhiều góc độ hấp dẫn cho các chính khách, nhà văn nhà báo nhà nghiên cứu sử và bạn đọc… tiếp cận.

Và trên điện thoại, tôi cũng nhiệt thành đồng cảm với vị Chủ tịch nước khi ông ngỏ sự biết ơn những người thầy giáo như GS-TS Nguyễn Tiến Hưng đã có công đào tạo dìu dắt các thế hệ học trò trong số đó có những người như Phó Tổng thống Hoa Kỳ Kamala Harris, như Nguyễn Thị Hồng – Thống đốc NHNN Việt Nam.

Còn bao điều đương muốn ngỏ với không riêng anh Bảy mà nhiều bạn đọc khác. Như chuyện mới nhất đầu năm 2021, GS Hưng có công trình Việt Nam có là nước thao túng tiền tệ – nhận xét về báo cáo của Bộ Tài chính Mỹ.

Đó là một cú hích, một tiếng nói kịp thời để Bộ Tài chính Hoa Kỳ (từng đệ trình lên Quốc hội Mỹ xếp Việt Nam và Thụy Sỹ là hai quốc gia thao túng tiền tệ) phải rút bỏ quyết định ấy! Có thể coi đó là một điểm son cho Chính phủ của Thủ tướng Phạm Minh Chính trong 100 ngày đầu tiên của Chính phủ mới với sự kiện Hoa Kỳ chấp thuận gỡ nhãn Việt Nam thao túng tiền tệ mà chính quyền của Tổng Thống Trump đã đưa ra trước đó.

GSTS Nguyễn Tiến Hưng

Một thầy Hưng luôn nghiêm cẩn, phép tắc chẳng hạn! Thời gian GS Hưng thực thi việc đào tạo cho lớp cán bộ nguồn ở Hà Nội, một buổi sáng nọ, ông Sáu Dân – Thủ tướng Võ Văn Kiệt tới làm việc với GS Hưng. Một vị cùng dự cuộc ấy sau này đã kể lại với tôi, có một thoáng quá đỗi ngạc nhiên khi chứng kiến hai người đang chuyện trò tương đắc như thế, GS Hưng bất ngờ bật lên cụm từ Thưa Tổng thống… làm ông Sáu bật cười!

Nhầm! Tất nhiên theo một phản xạ cũ. Nhưng nó cũng phát lộ cung cách ứng xử của GS. Bất giác nhớ lại GS Hưng có chi tiết trong cuốn Khi Đồng minh tháo chạy… Rằng năm 1973, khi GS Hưng mới về giúp nước, ông Thiệu bao giờ cũng xưng ông với GS mặc dầu khi ấy GS mới ba mấy. Còn cụm từ Thưa Tổng thống thì luôn thường trực mỗi khi GS Hưng gặp. Cụm từ ấy quen và bền mãi về sau này dẫu TT Thiệu đã đổi từ lâu cách xưng hô anh, tôi. Kể cả vị thế ông Thiệu sau này đã khác.

Và bây giờ anh Sáu Dân, lúc đầu thì giáo sư sau là anh. GS Hưng cứ một hai thưa Thủ tướng như thế…

Một dịp khác có lẽ phải sẻ chia với bạn đọc cái tấm tình mến trọng tài năng của ông Sáu Dân với GS Hưng bất biết những xì xào này khác rằng GS Hưng từng là thứ… dữ của chính quyền Sài Gòn. Rồi ông Sáu nghe được, cười cười mà ổng đúng là thứ dữ thiệt đó chớ?

Không chỉ với GS-TS Nguyễn Tiến Hưng từng giảng dạy tại các trường đại học Howard, Trinity, NC Wesleyan, đóng vai trò kinh tế gia tại IMF, WB mà với nhiều trí thức của chế độ cũ, ông Sáu Dân cũng lấy thái độ ấy ra mà đãi họ.

Vợ chồng Phó Tổng thống Hoa Kỳ

Duyên da màu

Trên cả cẩn trọng là tự trọng.

Lấy bằng Tiến sĩ kinh tế ở Đại học Virginia từ năm 1965 và có hơn 10 năm TS Nguyễn Tiến Hưng từng giảng dạy ở nhiều trường ĐH Hoa Kỳ. Khó biết cơ duyên nào đầu những năm 80 dẫn ông đến Đại học Howard ở thủ đô WashingtonDC, nơi đào tạo nhiều tiến sĩ người Mỹ gốc Phi nhất ở Hoa Kỳ?

Có lẽ niềm tin ở những giá trị nhân văn và tự tôn phẩm giá. Trước Chúa, trước Thượng đế, mọi người đều bình đẳng mà vị TS người Công giáo Nguyễn Tiến Hưng đã tự tin đứng ở bục giảng nhiều năm ở ngôi trường danh giá mà Howord luôn được coi là Havard của người da màu.

Ngôi trường được mang tên danh tướng thời nội chiến Hoa Kỳ, Thiếu tướng Howard (sinh 1830 – mất 1909), là một người theo chủ nghĩa bãi nô. Sống đời sống dân sự hay quân sự, ông không lúc nào lơi lỏng việc khởi xướng tích cực tham gia các chương trình xã hội như giáo dục, chăm sóc y tế và phân phối thực phẩm… với mục đích thúc đẩy việc hòa nhập những người trước đây ở thân phận nô lệ vào cộng đồng.

Mới tháng trước, cuốn “The Truths We Hold” (Sự thật ta nắm giữ) tác giả là Kalama Harris, Phó Tổng thống Hoa Kỳ đã được dịch ra tiếng Việt. Từ khi bà trở thành Phó Tổng thống, những cuốn bà viết đặc biệt cuốn sách trên là một trong những cuốn sách bán chạy nhất nước Mỹ năm 2020.

Một chút trích ngang, tóm tắt.

Có một đôi trai tài gái sắc da màu dòng dõi dân nhập cư. Chàng là nhà kinh tế gốc Jamaica, từng tốt nghiệp ĐH Standford. Mẹ là nhà nghiên cứu về ung thư, gốc Ấn Độ, tốt nghiệp ĐH California.

Mùa thu năm 1962, cô sinh viên Shyamala lần đầu gặp chàng trai Donald Harris tại một cuộc hội thảo dành cho sinh viên. Năm 1963, họ kết hôn. Năm 1964, cô con gái đầu lòng Kalama Harris ra đời.

Có lẽ cô con gái Harris có mối quan tâm và có năng khiếu về Kinh tế học là do ảnh hưởng từ cha mình, ông Donald Haris, vị Giáo sư da đen đầu tiên được chính thức biên chế tại Khoa kinh tế trường ĐH Standford danh giá (để được bổ nhiệm theo quy chế này, các ứng viên phải có thành tích khoa học dày và uy tín cao).

Năm 1958, từ Ấn Độ, bà Gopalan Shyamala, mẹ Harris, giành học bổng Chương trình Thạc sỹ về nội tiết học và dinh dưỡng tại ĐH California, Berkeley danh giá. Bà tốt nghiệp Tiến sỹ Khoa học cùng lĩnh vực vào năm 1964.

Bà là thành viên hội đồng thẩm định của Viện Y tế quốc gia, Ủy ban Cố vấn Liên bang. Bà cũng phục vụ trong Ủy ban đặc biệt của Tổng thống về Ung thư vú…

Đầu những năm 1970, họ ly hôn. Nhưng biến cố ấy không làm chệch chí hướng của vợ chồng lẫn con cái. Việc học hành vẫn tấn tới. Shyamala vẫn thường đưa các con gái về thăm ông bà ngoại tại Chennai.

Bà Shyamala mất năm 2009 vì bệnh ung thư. Cuối năm 2009, đích thân Kamala Harris đưa tro cốt của mẹ về Chennai và rải tro xuống Ấn Độ Dương.

Sau khi học tiểu học tại Berkeley, California, và trung học tại Montreal, mùa thu năm 1982, cô Harris lựa chọn ĐH Howard và mong muốn trở thành một luật sư.

“Khi đặt chân vào ngưỡng ĐH, tôi muốn bắt đầu thành công từ bước đi đúng đắn” bà viết trong cuốn sách “The Truths We Hold” (Sự thật ta nắm giữ ). “Và có nơi nào tốt hơn để làm điều đó ngoài ngôi trường mà Thurgood Marshall đã học?” (Ông là người Mỹ gốc Phi đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ được bổ nhiệm làm thành viên Tòa án Tối cao Hoa Kỳ).

Harris tốt nghiệp Đại học Howard năm 1986 với bằng Cử nhân Nghệ thuật trong cả khoa học chính trị và kinh tế.

Sau này bà trở thành luật sư, Thượng nghị sĩ rồi Phó Tổng thống Hoa Kỳ.

Rồng về Bể Đông

Hàng năm Howard, ngôi trường mà GS Hưng dạy có trên 10.000 sinh viên, bao gồm 7.000 sinh viên bậc đại học theo học. Sẽ là rất khó để một GS như Nguyễn Tiến Hưng nhớ được một học trò cụ thể nào đó? Nếu có biết, có rành thì học trò ấy phải thuộc loại đặc biệt?

Qua kênh mấy người thân quen trong đó có một học trò người Việt của GS Hưng, tôi được biết một chuyện.

Thời điểm Kalama Harris trở thành Phó Tổng thống, bạn bè người quen phát hiện ra vị ấy từng là học trò của GS-TS kinh tế Nguyễn Tiến Hưng ở Howard khóa 1982-1986.

Hỏi GS Hưng thì thầy chỉ cười cười… Không khẳng định cũng chả phản đối. Gạn mãi, trước khi lảng sang chuyện khác, thầy chỉ vắn tắt đại loại. Mình hơn 40 năm dạy học rồi. Tuổi đã cao, trí nhớ kém. Vả chăng cái nghề dạy học, như người chèo đò chở bao nhiêu các thế hệ học trò qua sông đời. Người Việt mình còn có câu, khách nhớ nhà hàng chứ chắc gì nhà hàng đã nhớ khách?

Nhưng với ông bạn của tôi, thầy bộc bạch nhưng cũng chỉ sơ sơ. Ấy là thầy chỉ nhớ mang máng (thầy Hưng còn cẩn thận dùng chữ remember vaguely) thôi! Bởi cô trò Harris – Kamala Harris khá là thông minh, thuộc vào hàng A (chứ không phải A+). Sinh viên này thích và có tài tranh luận, được chọn vào Student Council (Hội đồng sinh viên); Được bầu làm Chủ tịch Abram Harris Economic Society của Trường Howard (Abram Harris là người da mầu đầu tiên đỗ Tiến sĩ Kinh tế và là Trưởng khoa Kinh tế đầu tiên tại Howard University (1936-1945). Kamala rất năng động và có lòng từ bi, hay tham dự các cuộc biểu tình chống phân biệt chủng tộc.

Khi ngó thêm cuốn Sự thật ta nắm giữ, những chi tiết mà thầy Hưng mang máng ấy, trong cuốn sách của mình, tác giả Kalama Harris đều có viết! Cho đến thời điểm này thày Hưng chưa có cuốn ấy.

Một trong những tác phẩm của K. Harris được dịch sang tiếng Việt

Chắc thầy Hưng chưa tường hay chưa kịp ngỏ với anh bạn tôi chi tiết bà Phó Tổng thống viết trong sách, khi Thượng nghị sĩ bang California, Kamala Harris thời điểm tham dự cuộc đua vào vị trí Tổng thống, Thượng nghị sĩ Kalama Harris đã vinh dự được mời trở lại thăm Trường ĐH Howard. Phát biểu trước các sinh viên tốt nghiệp khóa 2017, Harris đã bộc bạch nhiều điều trong đó có lời tri ân các thầy giáo của mình.

“Đầu tiên, để dẫn đầu và để thành công, bạn phải từ bỏ những lựa chọn thất bại. Howard đã dạy tôi, cũng như đã dạy các bạn, rằng bạn có thể làm tất cả và có thể làm tất cả mọi điều”

Có thể làm tất cả mọi điều?

Dường như túi khôn mà ngôi trường và các thầy của Howad truyền thụ đã làm nên bản lãnh của cô học trò thuở ấy đã trở thành thứ slogan để Kalama Harris hành xử với cương vị một chính khách Hoa Kỳ sau này?

Giới ngoại giao và truyền thông nước ngoài nhận định trước sự kiện Phó Tổng thống Hoa Kỳ Harris thăm Việt Nam, có vẻ đang chất bao gánh nặng lên vai cô học trò năm xưa của GS-TS Nguyễn Tiến Hưng? Những là chuyến thăm này là một cuộc chơi lớn (Great Game) của chiến lược tái cân bằng. Rằng Hà Nội là trọng tâm của Great Game chứ không phải Kabul? Nào là Hà Nội là trọng điểm mà Hoa Kỳ cần phải củng cố trên cái trục Tokyo- Đài Bắc- Singapore.

Nhưng nghe vậy thì biết vậy! Gì thì gì, con Rồng ấy đã về với bể Đông! Và thời điểm này, trên truyền thông cũng đã rộng rãi, chi tiết các góc độ chuyến thăm Việt Nam lần đầu của Phó Tổng thống Hoa Kỳ! Như là minh chứng sinh động thêm những điều nghe vậy, biết vậy ấy!

Đã rành rẽ những điều cần bàn cần quyết với các chính khách Việt. Đã thêm một triệu liều vắc – xin. Ngôi nhà Hoa Kỳ (Đại sứ quán mới). Khai trương Văn phòng CDC Đông Nam Á tại Hà Nội vv… đã đang hiện diện và hình thành những việc lành trong cái khung hợp tác đối tác toàn diện chuẩn bị cho một tương lai gần của đối tác đặc biệt, chiến lược!

Trong mưa gió sấm chớp Phó Tổng thống Hoa Kỳ, tay này cầm ô tay kia ôm hoa rẽ làn mưa đến bên tấm bia tưởng niệm J. McCaine bên hồ Trúc Bạch.

Tôi chợt nhớ trong những tháng đầu nhậm chức, chuyến xuất ngoại Mehico và bây giờ Việt Nam chuyên cơ của Phó Tổng thống Hoa Kỳ Kalama Harris đã từng gặp trục trặc, bị chậm giờ… Nhưng slogan của bà Có thể làm tất cả mọi điều như một thứ bất biến đã ứng phó thành công với mọi vạn biến?

… Ké cái kênh liên lạc của ông bạn, tôi mừng vì được biết vị GS cao niên người làng Điền Hộ ấy vẫn khỏe mạnh minh mẫn. Hiện ông rất bận vì đang phải hoàn thành gấp một công trình nghiên cứu về châu Phi theo đơn đặt hàng của IMF.

Lịch sử có ngẫu nhiên đâu mà cũng rất tình cờ? GS-TS Nguyễn Tiến Hưng đã từng chứng kiến giây phút lịch sử năm xa để tác giả Nguyễn Tiến Hưng có cuốn Đồng minh tháo chạy. Định gạn thêm GS có cảm hứng gì để tiếp tục một tác phẩm mới khi những ngày qua lại vừa phải chứng kiến một sự kiện tháo chạy khác? Nhưng chợt nghĩ GS đang bận…

Mà cũng chưa nghe thấy tín hiệu gì việc ông sắp trở lại cố hương? Bởi còn bao điều ngổn ngang dẫu là bé mọn riêng mình muốn được giải tỏa bộc bạch, muốn được có dịp hầu chuyện ông? Một chuyến rong ruổi cùng ông về cố hương Điền Hộ nghe ông kể thêm về ông hàng xóm nhạc sĩ Anh Bằng như đương hiển hiện chập chờn…

Và cả ba cuốn sách lâu nay xếp trên giá kia hình như đang muốn đòi, muốn xin chữ ký của tác giả?

Xuân Ba

TIN THẾ GIỚI CẬP NHẬT: 28/08/2021 với Nam Giang

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Lực lượng Mỹ cho kích nổ phá hủy căn cứ CIA tại Kabul
image.png
Lực lượng Mỹ hôm thứ Năm (26/8) được cho là đã phá hủy căn cứ CIA cuối cùng tại Afghanistan, đặt bên ngoài sân bay Kabul, theo New York Times đưa tin.

New York Times dẫn lời các quan chức Mỹ nói rằng một vụ kích nổ có kiểm soát đã được tiến hành để phá hủy hoàn toàn Căn cứ Đại bàng. Vụ nổ này được thực hiện chỉ vài giờ sau vụ đánh bom liều chết xảy ra tại cổng vào sân bay Kabul chiều 26/8. Căn cứ Đại bàng là nơi Mỹ huấn luyện lực lượng chống khủng bố của các cơ quan tình báo Afghanistan.

New York Times nhận định rằng Mỹ cho nổ tung Căn cứ Đại bàng là để phá hủy trang thiết bị và các tài liệu nhằm không để chúng rơi vào tay lực lượng Taliban.

Báo giới, trong đó có Washington Examiner, đã liên lạc với CIA để yêu cầu bình luận về thông tin do New York Times đăng tải liên quan đến Căn cứ Đại bàng tại Kabul, nhưng cơ quan tình báo trung ương Mỹ đã từ chối trả lời.

Mỹ hiện tại vẫn đang nỗ lực thực hiện các chuyến bay rời sân bay Kabul để đưa người Mỹ và người Afghanistan thoát khỏi đất nước Nam Á đã bị Taliban kiểm soát.

Nhà Trắng cho biết tính đến sáng thứ Sáu (27/8), khoảng 12.500 người đã được vận chuyển bằng máy bay từ Kabul trong 24 giờ qua. Trong 12 giờ sau đó, 4.200 người khác đã được sơ tán. Theo Thư ký báo chí Nhà Trắng Jen Psaki, khoảng 300 người Mỹ đã rời đi và Bộ Ngoại giao đang làm việc với khoảng 500 người nữa. Chính quyền Mỹ cho biết họ có ý định thúc đẩy và hoàn thành cuộc không vận trước hạn chót 31/8 bất chấp các mối đe dọa khủng bố.

Cuối ngày thứ Sáu (27/8), Bộ Ngoại giao Mỹ một lần nữa kêu gọi công dân Mỹ tránh xa các cổng sân bay, bao gồm cả “cổng Bộ Nội vụ mới” do vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ tấn công khủng bố.

Hôm thứ Sáu (27/8), các quan chức Mỹ cho biết, số người chết trong vụ đánh bom kép hôm 26/8 bên ngoài sân bay ở Kabul đã tăng lên 182 người, bao gồm 13 binh sĩ Mỹ.

Nhà nước Hồi giáo Khorasan (ISIS-K), một chi nhánh của các chiến binh trước đây đã chiến đấu với lực lượng Mỹ ở Syria và Iraq, thừa nhận họ thực hiện cuộc tấn công liều chết hôm 26/8 tại sân bay ở Kabul.

Tổng thống Joe Biden đã cam kết sẽ truy lùng những kẻ chịu trách nhiệm vụ tấn công nêu trên, nhưng ông cũng vẫn bảo lưu hạn chót rút hết quân đội Mỹ khỏi Afghanistan vào ngày 31/8.

Vào sáng thứ Bảy (28/8, giờ Afghanistan), quân đội Mỹ đã thực hiện một cuộc tấn công nhắm vào “một người lập kế hoạch” của tổ chức ISIS-K.

Bộ Tư lệnh Trung ương Mỹ cho biết cuộc tấn công diễn ra ở tỉnh Nangarhar, phía đông Kabul và giáp biên giới với Pakistan. Bộ Tư lệnh không cho biết liệu mục tiêu có liên hệ với cuộc tấn công sân bay hay không.

“Các dấu hiệu ban đầu cho thấy chúng tôi đã tiêu diệt mục tiêu. Không có thương vong dân sự”, một tuyên bố của quân đội Mỹ cho biết. Theo AP, một thành viên của ISIS đã bị tiêu diệt.

Tổng thống Biden tố cáo Trung Quốc che giấu nguồn gốc Covid-19image.png
Báo cáo của Mỹ vẫn chưa thể dứt khoát về nguồn gốc đại dịch Covid-19. Ảnh từ khu vực các phòng thí nghiệm Vũ Hán. Héctor Retamal AFP/Archivos
Thùy Dương
Tổng thống Mỹ hôm 27/08/2021 tố cáo Trung Quốc « che giấu các thông tin quan trọng sống còn về nguồn gốc đại dịch » Covid-19, ngăn cản các nhà điều tra và các cơ quan của thế giới tiếp cận với những thông tin nói trên. Lời chỉ trích được đưa ra sau khi ông Biden nhận được báo cáo về nguồn gốc siêu vi gây đại dịch. Bắc Kinh chỉ trích điều tra của tình báo Hoa Kỳ về nguồn gốc SARS-CoV-2 “không đáng tin cậy”.

Liên quan đến cuộc điều tra của tình báo Mỹ, mặc dù bản tóm tắt báo cáo được công bố hôm qua không đưa ra được câu trả lời rõ ràng về nguồn gốc đại dịch Covid-19, nhưng tình báo Mỹ khẳng định virus SARS-CoV-2 không được phát triển thành vũ khí sinh học.

Từ New York, thông tín viên Loubna Anaki cho biết thêm chi tiết :

« Không thể giải đáp tất cả mọi câu hỏi, thế nhưng bản báo cáo này cho phép loại trừ một số giả thuyết. Theo tình báo Mỹ virus corona không phải là kết quả của việc làm biến đổi gien và cũng không được tạo ra để làm vũ khí sinh học.

Để đưa ra các kết luận, những chuyên gia tình báo chuyên trách thực hiện nhiệm vụ này đã tìm hiểu hàng trăm dữ liệu trong suốt 3 tháng. Nhưng họ đã không thể đưa ra các câu trả lời về nguồn gốc của dịch bệnh này : virus bị lọt ra ngoài từ phòng thí nghiệm hay qua sự tiếp xúc tự nhiên giữa một người và một con vật bị bệnh. Theo tài liệu nói trên, cả hai giả thuyết này đều có thể xảy ra. Văn bản cũng nhấn mạnh ít có khả năng là chính phủ Trung Quốc đã nắm được thông tin về loại virus này trước khi đại dịch bắt đầu xảy ra.

Cuộc điều tra được thực hiện theo yêu cầu của tống thổng Joe Biden. Nguyên thủ Mỹ đã ra thông cáo sau khi báo cáo được công bố. Ông Biden tố cáo Trung Quốc thiếu minh bạch và che giấu thông tin. Lãnh đạo Nhà Trắng kêu gọi Bắc Kinh cho phép các chuyên gia quốc tế đến Trung Quốc tiến hành điều tra tại chỗ. Tổng thống Biden khẳng định : « Kể cả khi cuộc điều tra đã chấm dứt, chúng tôi vẫn sẽ không ngừng tìm kiếm sự thật về đại dịch này ».

Bắc Kinh : Báo cáo của tình báo Mỹ là « mưu mô chính trị »

Ngay sau khi bản tóm tắt kết quả điều tra của các cơ quan tình báo Mỹ được công bố, đại sứ quán Trung Quốc Mỹ đã gọi đó là một « âm mưu chính trị » của Washington. AFP cho biết, trong một thông cáo, đại sứ quán Trung Quốc cho rằng báo cáo của cộng đồng tình báo Mỹ dựa trên giả định là Trung Quốc « có tội » và điều này chỉ là nhằm « biến Trung Quốc trở thành một vật tế thần ».
Afghanistan : Mỹ tiêu diệt một thủ lĩnh Daech và báo động nguy cơ khủng bố mớiimage.png
Mỹ trả đũa bằng drone trên lãnh thổ Afghanistan sau loạt khủng bố tự sát gần phi trường Kabul hôm 26/08/2021. Ảnh vệ tinh chụp sân bay quốc tế Hamid Karzai. – Satellite image ©2021 Maxar Technologies/AFP/File
Anh Vũ
Đáp trả vụ khủng bố tại Kabul, quân đội Mỹ ngày 27/08/2021 đã sử dụng máy bay không người lái tấn công trả đũa tiêu diệt một lãnh đạo của nhóm thánh chiến Daech tại Afghanistan. Cùng lúc, Washington báo động có nhiều khả năng xảy ra tấn công khủng bố mới tại sân bay Kabul.

Theo hãng tin Reuters, sau vụ đánh bom khủng bố hôm thứ Năm bên cạnh sân bay Kabul làm 92 người thiệt mạng, trong đó có 13 lính Mỹ, tổng thống Joe Biden đã tuyên bố « trả đũa » nhóm khủng bố. Hôm 27/08/2021 quân đội Hoa Kỳ đã thực thi mệnh lệnh, tấn công tiêu diệt một lãnh đạo của Daech tại tỉnh Nangarhar, phía đông Afghanistan, gần biên giới với Pakistan.

Lầu Năm Góc khẳng định đã hạ được mục tiêu, tuy không cho biết cụ thể danh tính của lãnh đạo Daech bị tiêu diệt cũng như nhân vật này có liên quan trực tiếp đến vụ đánh bom khủng bố gần sân bay Kabul hôm 26/08/2021 hay không. Một lãnh đạo của bộ tộc tại Jalalabad thủ phủ tỉnh Nangarhar xác nhận có 3 người chết và 4 người bị thương trong vụ tấn công trên.

Theo quân đội Mỹ, vụ không kích do máy bay không người lái Reaper, cất cánh từ một căn cứ trong vùng Cận Đông tiến hành. Tên lửa đã nhằm trúng mục tiêu là một xe chở lãnh đạo của Daech và một trong số cộng sự của nhân vật này. Vụ tấn công không gây thiệt hại cho thường dân.

Vài giờ sau đòn tấn công trả đũa này, phát ngôn viên bộ Quốc Phòng Mỹ, John Kirby đã báo động khả năng lại xảy ra tấn công khủng bố tại sân bay Kabul, trong khi các đợt di tản đang sắp sửa kết thúc. Washington kêu gọi các kiều dân Mỹ tránh xa « ngay lập tức » khu vực xung gần phi trường Kabul. Mặc dù có báo động, tình hình tại sân bay Kabul vẫn rất hỗn loạn. Trước cửa sân bay vẫn có hơn 5.000 người chờ đợi được vào bên trong sân bay để chạy khỏi Afghanistan.

Theo Bộ Quốc Phòng Mỹ, đã có 111.000 người được di tản trong 2 tuần qua. Nhiều nước, trong đó chủ yếu ở châu Âu như Tây Ban Nha, Thụy Sĩ hay Pháp đến tối qua 27/08/2021 đã thông báo chấm dứt chiến dịch di tản, trong khi thời hạn cuối cùng quân Mỹ rút toàn bộ khỏi Afghanistan đi đang tới gần.
Đối thoại quân sự Mỹ-Trung đầu tiên dưới chính quyền Biden
image.png
Trụ sở bộ Quốc phòng Mỹ. Ảnh minh họa. Reuters
Thanh Hà
Lần đầu tiên dưới chính quyền Biden, một quan chức cao cấp của Lầu Năm Góc trao đổi với đại diện của quân đội Trung Quốc. Reuters nhắc lại cuộc hội đàm qua điện thoại diễn ra vào tuần trước trong bối cảnh phó tổng thống Hoa Kỳ công du hai nước Đông Nam Á là Singapore và Việt Nam.

Trích dẫn một nguồn tin thông thạo của bộ Quốc Phòng Mỹ, hãng tin anh Reuters ngày 27/08/2021 cho biết đây là một cuộc điện đàm giữa phó trợ lý bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, Michael Chase và thiếu tướng Hoàng Tuyết Bình (Huang Xueping) phó giám đốc Văn Phòng Hợp Tác Quân Sự Quốc Tế quân đội Trung Quốc.

Michael Chase đã « tập trung vào việc giải quyết khủng hoảng và các mối rủi ro » giữa hai nước. Chính quyền Biden xem Trung Quốc là trọng tâm trong chính sách an ninh của Hoa Kỳ và là « thách thức về mặt địa chính trị lớn nhất » trong thế kỷ 21.

Quan hệ Washington – Bắc Kinh đã xấu đi thêm trong những năm gần đây trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế, đến những hồ sơ nhậy cảm như Đài Loan, Hồng Kông hay nhân quyền tại Hoa Lục, những biện pháp trừng phạt Bắc Kinh cưỡng bức lao động tại Tân Cương và đặc biệt là trước việc Trung Quốc lấn chiếm Biển Đông.

Tuy vẫn để ngỏ cánh cửa đối thoại, nhưng từ khi lãnh đạo Lầu Năm Góc, tướng Lloyd Austin chưa từng trực tiếp trao đổi với đồng nhiệm Trung Quốc, Ngụy Phượng Hoà. Bộ Quốc Phòng Mỹ giải thích, trở ngại xuất phát từ phía Trung Quốc. Báo South China Morning Post nói rõ hơn : Bắc Kinh muốn tướng Austin đối thoại với đồng cấp là bộ trưởng Ngụy Phương Hòa. Về phía Lầu Năm Góc đề nghị hội đàm với phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương Trung Quốc ông Hứa Kỳ Lượng (Xu Qiliang).

Trung Quốc lại phản đối Hải Quân Mỹ đi qua eo biển Đài Loan

Một dấu hiệu cho thấy đối thoại về quân sự Mỹ-Trung còn nhiều trở ngại : thông cáo của bộ Quốc Phòng Trung Quốc ngày 28/08/2021 phản đối « mạnh mẽ và cứng rắn lên án » vụ tàu khu trục USS Kidd và chiếc Munro của lực lượng Tuần Duyên Hoa Kỳ đi qua eo biển Đài Loan trong ngày Thứ Sáu 27/08/2021.

Hải Quân Mỹ khẳng định sự hiện diện trong eo biển Đài Loan là hành vi thể hiện quyết tâm bảo vệ vùng Ấn Độ Thái Bình Dương « tự do và rộng mở », tuân thủ luật biển quốc tế. Hãng tin Mỹ AP nhắc lại lực lượng Tuần Duyên Hoa Kỳ tăng cường tăng cường sự hiện diện tại Châu Á trong bối cảnh Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động tại Biển Đông gần khu vực có tranh chấp chủ quyền với nhiều nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan. 
Pháp chấm dứt chiến dịch di tản người Afghanistan
image.png
Ngoại trưởng Pháp Jean-Yves Le Drian (trái) và bà Florence Parly, bộ trưởng Quân Lực cùng thông báo ngưng chiến dịch di tản khỏi Afghanistan. Ảnh minh họa. REUTERS/Azad Lashkari
Thùy Dương
Tối 27/08/2021, Pháp chính thức chấm dứt cầu không vận đưa người Afghanistan có nguy cơ bị Taliban gây hại từ Kabul về Paris. Bên cạnh việc hồi hương kiều dân Pháp, chiến dịch di tản có tên gọi Apagan đã đưa được gần 3.000 người, trong đó có hơn 2.600 người Afghanistan đến Pháp.

Bộ trưởng Quân Lực Pháp Florence Parly hôm 27/08 viết trên Twitter : « Chiến dịch Apagan, được triển khai từ ngày 15/08/2021 theo yêu cầu của tống thống Emmanuel Macron, đã chấm dứt tối nay ». Trong một thông cáo chung, bộ trưởng Quân Lực Florence Parly và ngoại trưởng Jean-Yves Le Drian giải thích cầu không vận Apagan phải ngưng vì các điều kiện an ninh ở sân bay Kabul không được bảo đảm do việc rút quân nhanh chóng của lực lượng Mỹ, hạn chót dự kiến là ngày 31/08/2021.

Đội ngũ nhân viên của đại sứ quán Pháp tại Kabul cũng đã được đưa đến Abou Dhabi, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, trước khi trở về Paris. Những quân nhân cuối cùng của Pháp tại Afghanistan cũng đã rời sân bay Kabul. Tổng cộng, quân đội Pháp đã thực hiện 26 chuyến bay di tản từ Kabul đến căn cứ không quân 104 của Pháp tại Abou Dhabi và 16 chuyến bay từ Abou Dhabi về Paris.

Theo AFP, mặc dù ngưng cầu không vận di tản, nhưng Paris thông báo vẫn tiếp tục thảo luận với phe Taliban để hàng ngàn người Afghanistan muốn rời đất nước có thể được ra đi bằng những cách khác mà không bị Taliban cản trở.

Hôm 26/08, một phái đoàn của Pháp đã tiếp xúc với các đại diện của phe Taliban tại Doha, Qatar. Đây là lần đầu tiên hai bên gặp nhau kể từ khi Taliban chiếm thủ đô Kabul. Cả hai bên khẳng định cuộc gặp ở Doha là để bàn về tình hình ở sân bay Kabul và chiến dịch di tản. Cho đến nay, chính quyền Pháp vẫn bác bỏ mọi khả năng « thảo luận chính trị » với Taliban chừng nào phe Hồi giáo cực đoan chưa đáp ứng một số điều kiện của Paris.

Ấn Độ hủy 10.000 visa cấp cho người Afghanistan
Lo ngại về nguy cơ « buôn bán hộ chiếu » bị đánh cắp, New Delhi đã hủy 10.000 visa cấp cho người Afghanistan và kêu gọi những ai muốn đến Ấn Độ làm lại các thủ tục xin visa nhập cảnh trực tuyến.  Từ new Delhi, thông tín viên Côme Bastin giải thích :

« Chờ đợi và xem mọi chuyện diễn ra thế nào. Ngoại trưởng Ấn Độ tóm tắt như trên về quan điểm của New Delhi liên quan đến tình hình phức tạp ở Afghanistan trong một cuộc họp của tất cả các đảng phái chính trị hôm thứ Năm 26/08. Ngành ngoại giao Ấn Độ có thể cảm nhận thái độ chờ đợi đó.

Cách nay 1 tuần, chính phủ Ấn Độ đã kêu gọi giúp đỡ những người anh em ở Afghanistan và đưa ra chính sách thị thực điện tử để tạo điều kiện thuận lợi cho những người xin tị nạn. Nhưng không lâu trước khi xảy ra vụ nổ ở sân bay Kabul, tất cả visa nhập cảnh Ấn Độ đã cấp cho người Afghanistan đều bị vô hiệu hóa.

Các cơ quan tình báo Ấn Độ dường như phát hiện ra là có 1.000 hộ chiếu Afghanistan đã bị một nhóm Hồi giáo cực đoan thân cận với mật vụ Pakistan đánh cắp. Vụ việc có thể đã xảy ra tại một công ty du lịch ở Kabul. Chính phủ Ấn Độ lo sợ là những kẻ khủng bố sẽ sử dụng các quyển hộ chiếu nói trên.

Tổng cộng, 11.000 người sẽ phải phải làm lại thủ tục xin visa trực tuyến, trong khi cảnh hỗn loạn ở thủ đô Kabul ngày càng gia tăng và quân Mỹ sắp rời đi. Chính phủ Ấn Độ đã khẳng định sẽ làm tất cả để dung hòa các yêu cầu an ninh cũng như sự cấp bách của tình hình. Trong 10 ngày, có 300 visa điện tử đã được cấp cho người Afghanistan ».

Liên Hiệp Quốc : Năm 2021 sẽ có thêm hơn nửa triệu di dân Afghanistan
Hiện nay, tình trạng di dân ồ ạt từ Afghanistan vẫn chưa xảy ra, nhưng Liên Hiệp Quốc hôm qua dự báo trong hoàn cảnh xấu nhất, năm 2021 thế giới sẽ ghi nhận thêm hơn nửa triệu di dân Afghanistan, trong đó 80% là phụ
Tổng thống Pháp thăm Irak, dự hội nghị vùng Trung Cận Đôngimage.png
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron (trái) và thủ tướng Irak Moustafa al Kazimi tại thủ đô Bagdad. Ảnh chụp ngày 28/08/2021. VIA REUTERS – IRAQI PM MEDIA OFFICE
Anh Vũ
Trong chuyến thăm Irak 2 ngày, tổng thống Pháp Emmanuel Macron dự hội nghị khu vực khai mạc hôm  28/08/2021 tại Bagdad với sự tham dự của Ả Rập Xê Út, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và một số nước khác trong khu vực Trung Đông.

Hội nghị quốc tế về khu vực theo sáng kiến của Pháp nhằm thúc đẩy đối thoại, giảm căng thẳng giữa các nước trong vùng. Sự kiện được mở ra trong bối cảnh tại Afghanistan, Taliban trở lại nắm quyền, cùng lúc với sự xuất hiện của tổ chức Nhà nước Hồi Giáo sau vụ đánh bom khủng bố đẫm máu tại Kabul hôm 26/08/2021.

Tham dự hội nghị Bagdad bên cạnh các lãnh đạo Irak có tổng thống Pháp Emmanuel Macron, các ngoại trưởng Iran và Ả Rập Xê Út, tổng thống Ai Cập Abdel Fattah al-Sissi, vua Jordani, Abdallah II.

Theo thủ tướng Irak, Moustafa al-Kazimi, với hội nghị thượng đỉnh khu vực này, Irak mong muốn tháo ngòi nổ gây căng thẳng giữa Iran và Ả Rập Xê Út.

Các cuộc thảo luận sẽ đề cập đến tình hình Trung Đông sau khi Taliban trở lại nắm quyền ở Afghanistan và nhất là cái bóng của tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo lại nổi lên cùng với những biến động ở Afghanistan.

Tổng thống Emmanuel Macron muốn chứng tỏ Paris vẫn giữ vai trò trong vùng Trung Cận Đông và tiếp tục cuộc chiến chống khủng bố, ủng hộ nỗ lực của Irak trong vai trò làm trung gian hòa giải vì sự ổn định của Trung Đông, theo thông cáo của phủ tổng thống Pháp.

Chủ Nhật 29/08/2021 tổng thống Pháp sẽ tới vùng tự trị của người Kurdistan tại Irak và thành phố Mossoul biểu tượng chiến thắng trong cuộc chiến chống Tổ Chức Nhà nước Hồi giáo cách đây 4 năm.Báo chí độc lập Nga lên án chính quyền mở chiến dịch « hủy diệt truyền thông »
image.png
Kiến nghị kêu gọi tổng thống Nga Vladimir Putin ngừng chấn áp truyền thông độc lập. Ảnh nguyên thủ Nga trong một chương trình truyền hình. via REUTERS – SPUTNIK
Anh Vũ
Hôm 27/08/2021 nhiều cơ quan truyền thông Nga đã có thư ngỏ kiến nghị tổng thống Vladimir Putin cho chấm dứt chiến dịch trấn áp nhắm vào các báo đài độc lập hoặc có tiếng nói phê phán chính quyền.

Những tháng gần đây tại Nga, theo một bộ luật mới, nhiều cơ quan truyền thông và phóng viên bị xếp vào diện « nhân viên nước ngoài », một quy chế bị ràng buộc, hạn chế các hoạt động tại Nga. Ngoài ra, nhiều phóng viên cũng đang là đối tượng truy bức của tư pháp. Bản kiến nghị gọi đó là « chiến dịch tiêu diệt truyền thông phi chính phủ và gây áp lực với các nhà báo »

Thông tín viên Jean-Didier Revoin tại Matxcơva giải thích :

« Theo phát ngôn viên của Kremlin, sự việc rất rõ ràng. Luật cho phép xác định tư cách pháp nhân của một tổ chức hay một người có phải là nhân viên nước ngoài hay không là cần thiết. Ông Dmitri Peskov cho rằng cần phải đấu tranh chống lại các hình thức can thiệp của nước ngoài vào công việc nội nội của Liên Bang Nga.

Ông bác bỏ khái niệm truy bức được những người kiến nghị sử dụng nhưng đồng thời ông cũng thừa nhận cần phải chú ý tới kiến nghị mà ông nhấn mạnh ở tính chất tình cảm.

Chỉ có các cơ quan truyền thông độc lập với chính trị và kinh tế phải trả giá. Từ đầu năm, các cơ quan truyền thống như Meduza, Vtimes, TheInsider, kênh truyền hình Doj và nhiều nhà báo hay nhà hoạt động đã bị tuyên bố là nhân viên nước ngoài. Điều này khiến họ mất đi các khách hàng quảng cáo.

Open Media, một hãng có quan hệ với nhà tài phiệt đang lưu vong Mikhail Khodorkovsky, cũng bị tuyên bố bị cấm ở Nga.

Tình hình đáng quan ngại hơn khi chỉ còn chưa đầy một tháng đến cuộc bầu cử Quốc Hội, những khó khăn ngày càng nhiều của các nguồn tin độc lập như vậy sẽ có tác động đến tính chất đa dạng nhiều chiều của thông tin. »

CHƯƠNG 2: HAI CHUYẾN CÔNG CÁN CỦA ĐẠI SỨ J.B.SEABORN TẠI HÀ NỘI

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln


Ngày 18 tháng 6 năm 1964. Thế là đại sứ J.B. Seaborn tới Hà Nội sau biết bao nôn nóng và sau chặng dừng chân ngắn tại Phnôm Pênh và Viêng Chăn.

Chiếc ô tô màu trắng của Uỷ ban Quốc tế giám sát và kiểm soát việc thi hành Hiệp nghị Genève về Việt Nam đưa ông rời sân bay Gia Lâm. Phong cảnh ở đây khác với phong cảnh ở Canađa, thậm chí khác với phong cảnh Sài Gòn mà ông cũng mới biết lần đầu trong đời. Những thửa ruộng mới gặt kế tiếp nhau chạy vùn vụt, lửa rực cháy trên ngọn các cây phượng bên đường, một phố ngoại ô bé nhỏ và xơ xác. Tuy mới đến Hà Nội lần thứ nhất, ông nhìn phong cảnh mà không để ý lắm, vì ông đang nghĩ đến nhiệm vụ mà ông phải hoàn thành.

Tưởng cũng cần nhắc rằng sau nhiều giờ thảo luận sôi nổi, thậm chí cả những cuộc thảo luận hàn lâm về hai từ giám sát và kiểm soát, các thành viên của Hội nghị Genève về Đông Dương đã thoả thuận thành lập một Ủy ban Quốc tế có nhiệm vụ giám sát và kiểm soát việc thi hành Hiệp nghị Genève tại mỗi nước Đông Dương. Theo sự dàn xếp được nhất trí chấp nhận, Ủy ban gồm một đại diện cho các nước xã hội chủ nghĩa là Ba Lan, một đại diện cho các nước phương Tây là Canađa và một chủ tịch là Ấn Độ, một nước lớn theo con đường hoà bình, trung lập, đại diện cho các nước đang phát triển.

Ông Seaborn đến Việt Nam lần này với tư cách đại diện cho Canađa trong Uỷ ban Quốc tế về Việt Nam. Từ khi Hiệp nghị Genève về Việt Nam có hiệu lực và từ tháng 8 năm 1954, Uỷ ban Quốc tế bắt đầu công việc của mình, Canađa xứng đáng là đại diện cho phương Tây. Đại diện của họ ủng hộ lập trường của Chính quyền Ngô Đình Diệm. Ở miền Nam Việt Nam, họ làm ngơ trước việc nhà cầm quyền vi phạm các quyền tự do dân chủ, đàn áp những người trước đây đã tham gia kháng chiến chống Pháp và trước việc đưa trái phép vào miền Nam Việt Nam những cố vấn quân sự và vũ khí, vật tư chiến tranh của Mỹ.

 Ở miền Bắc Việt Nam, họ ủng hộ việc cưỡng bức những người công giáo đi di cư vào miền Nam, cố lùng sục xem có vũ khí, đạn dược của các nước xã hội chủ nghĩa được đưa trái phép hay không. Trong các cuộc họp của Uỷ ban Quốc tế họ đóng vai “người biện hộ” cho Sa tăng luôn luôn chống lại mọi quan điểm và lý lẽ của đồng sự Ba Lan, do đó gây nhiều khó khăn cho ông chủ tịch Ấn Độ.

Vốn là một tham tán của sứ quán Canađa tại Mát-xvơ-va, lần này Seaborn được giao trọng trách là trưởng đoàn Đại biểu Canađa trong Uỷ ban Quốc tế. Ông có thể hài lòng với sự bổ nhiệm đó ở một địa bàn chiến lược nhằm ngăn chặn nguy cơ cộng sản từ vĩ tuyến 17. Nhưng suốt từ khi rời Sài Gòn cho đến lúc này, chân đã đặt trên mảnh đất Hà Nội, thủ đô Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mà ông chỉ mới biết tên sau Điện Biên Phủ, ông bận tâm đến một nhiệm vụ khác mà ông có những lý lẽ riêng và lý lẽ chung để cho là quan trọng hơn nhiều so với nhiệm vụ đại sứ trong Uỷ ban Quốc tế.

Khi ông mới được chọn vào cương vị này, ngày 1 tháng 5 năm 1964 tại Ottawa, Ngoại trưởng Mỹ D.Rusk và W.Sunivan đã cùng Thủ tướng L.Pearson và Ngoại trưởng P.Martin của Canađa bàn về nhiệm vụ đặc biệt của ông. Người ta yêu cầu ông “Lưu lại Hà Nội nhiều thời gian hơn các tiền nhiệm của ông. Ông cần tìm cách gặp được Cụ Hồ và đồng nghiệp của Cụ, báo cho họ biết một cách đầy đủ quyết tâm của Hoa Kỳ đi đến cùng trong vấn đề này”. Ông biết rõ Hoa Kỳ “chắc chắn sẽ chọn con đường mở rộng các hoạt động quân sự”. Trừ phi Hà Nội chấm dứt chiến tranh, nếu không Hoa Kỳ sẽ dùng không quân và hải quân đánh Bắc Việt Nam cho đến khi Hà Nội chấm dứt chiến tranh (Xem: Ngoại giao bí mật trong chiến tranh Việt Nam, tập văn kiện về thương lượng của Tài liệu Lầu Năm Góc do Gioóc-giơ. C.Hearing xuất bản, Phòng báo chí Trường Đại học Texas, Austin 1983 trang 16 và 23, sau đây gọi tắt là ngoại giao bí mật trong chiến tranh Việt Nam. W.Sunivan lúc đó là Chủ tịch Liên ban công tác về Việt Nam ở Bộ Ngoại giao Mỹ, sau này là Đại sứ Mỹ ở Lào và phụ tá của Kissinger). 

Ngày 28 tháng 5 năm 1964, tại Niu Oóc, Tổng thống Hoa Kỳ L.B.Johnson đã gặp Thủ tướng Canađa Pearson. Nội dung cuộc trao đổi, báo chí khi đó không nói đến, nhưng chính Tổng thống Johnson sau này đã nhắc lại trong cuốn hồi ký Cuộc đời Tổng thống của tôi. Trong điện văn số 2133 gửi ngay sau đó cho đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, Bộ Ngoại giao Mỹ đã viết rõ ràng:

“Tổng thống đã nói với ông Pearson rằng ông muốn Hà Nội biết rằng Tổng thống, trong khi là người của hoà bình, không có ý định cho phép người Bắc Việt Nam tiếp quản Đông Nam Á. Tổng thống cần một người đối thoại tin cẩn và có trách nhiệm để chuyển cho Hà Nội một thông điệp về thái độ của Mỹ. Trong khi vạch ra những nét đại cương về lập trường của Hoa Kỳ, đã có thảo luận về củ cà rốt và cái gậy… Sau khi biểu thị lòng mong muốn đóng góp thiện chí vào cố gắng đó, ông Pearson đã bày tỏ nỗi lo ngại. về tính chất của cái gậy… Ông nói rằng ông hết sức dè dặt về việc sử dụng vũ khí nguyên tử, nhưng cho rằng việc tiến công trừng phạt bằng bom vào các mục tiêu có phân loại một cách rõ ràng sẽ là một việc khác… Ông nói rằng cá nhân ông muốn biết về phương sách của chúng ta để đi tới các biện pháp đó nếu thông điệp chuyển qua đường Canađa thất bại, không tạo được việc làm giảm sự xâm lược của Bắc Việt Nam, và Canađa muốn chuyển thông điệp trong bối cảnh đó” (M.M.McLear: Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày, Nhà xuất bản Thêm Me-tu-en Luân Đôn, 1982, tr.131).

Cũng trong thời gian có cuộc họp cấp cao Mỹ – Canađa tại Ottawa, W.Sunivan và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Paul Martin làm việc với ông Seaborn. Ông được trao cho một đề cương những điều cần nói với Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phạm Văn Đồng và được biết thêm rằng “Người Mỹ không chỉ muốn Canađa chuyển một thông điệp mà còn muốn có một sự đánh giá về mặt tình báo khả năng chiến tranh của Bắc Việt Nam” (M.M.McLear: Sđd, tr.132.).

Ông Seaborn vui lòng nhận các điều kiện làm việc và khẩn trương thu xếp công việc để đi Việt Nam. Ông cần nhận thức rõ sứ mệnh của mình khi chính Tổng thống Johnson đã nói chuyện với ông trước khi ông lên đường để tỏ lòng tin cậy ông và nhấn mạnh hai nhiệm vụ chuyển thông điệp và nắm tình hình Bắc Việt Nam

Đến Sài Gòn, ông nắm thêm tình hình qua tiếp xúc với các đồng sự Ấn Độ, Ba Lan, với đại sứ Hoa Kỳ và ông phấn khởi được Hà Nội trả lời là Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận tiếp ông. Ông đã được hai ngoại trưởng Dan Rusk và Martin dặn đó. Ông lại được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trang bị cho một bản mười ba điểm chi tiết hoá các nhiệm vụ mà ông được giao, trong đó đặc biệt có điều bốn:

“Ông Seaborn thông qua các lý lẽ, biện luận và quan sát thái độ của người Bắc Việt Nam để hình thành một sự đánh giá trạng thái tinh thần của Bắc Việt Nam. Ông cần rất nhạy bén về:

  1. Sự khác biệt liên quan đến sự chia rẽ về chiến tranh.

b. Thất vọng hoặc mỏi mệt về chiến tranh.

c. Dấu hiệu về việc Bắc Việt Nam muốn nói chuyện với phương Tây.

d. Dấu hiệu về phe phái trong Đảng và Chính phủ.

đ. Dấu hiệu về mẫu thuẫn giữa phái quân sự và phái chính trị.

Người ta còn yêu cầu ông khai thác bản chất và ưu thế ảnh hưởng của Trung Quốc ở Bắc Việt Nam và đánh giá thực chất và ảnh hưởng của người Xô Viết. Điều mười hai còn nói: ông có thể xem lại môi tương quan về sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ, Bắc Việt Nam và tài nguyên mà Trung cộng có thể sử dụng ở Đông Nam Á. (Xem G.C. Hearing: Ngoại giao bí mật trong chiến tranh Việt Nam, tr. 22.).

Seaborn cần vạch rõ qua kiểm tra xem có phải cụ Hồ Chí Minh tự đánh giá mình quá cao mà lao vào cuộc chiến hay Cụ cảm thấy rằng đồng minh Trung Quốc sẽ ủng hộ mình đến cùng. Chúng ta cần biết có phải quyết tâm hăng say hiện nay của Cụ là do áp lực của những phần tử thân Trung Quốc trong hàng ngũ Việt Nam hay do chính những tham vọng của Cụ thúc ép. Nhà báo M.Mclear gọi nhiệm vụ của ông Seaborn là một nhiệm vụ chủ yếu mang tính chất gián điệp” (M.M.Mclear: Sđd, tr. 137-138.).

Washington ngoài cái gậy còn trao cho ông một củ “cà rốt”:

Nếu Hà Nội chấm dứt chiến tranh Hoà Kỳ sẽ:

Một: Hành động để nối lại buôn bán giữa Bắc và Nam Việt Nam “giúp vào việc thiếu lương thực của Bắc Việt Nam hiện nay”.

Hai: Viện trợ thực phẩm cho Bắc Việt hoặc bán cho Bắc Việt lấy tiền địa phương. 

Ba: Bỏ sự kiểm soát của Hoa Kỳ đối với tích sản của Bắc Việt Nam và giảm kiểm soát của Hoa Kỳ trong buôn bán Hoa Kỳ – Bắc Việt Nam.

Bốn: Thừa nhận Bắc Việt Nam về ngoại giao và trao đổi đại diện ngoại giao.

Năm: Rút quân đội Hoa Kỳ xuống còn ba trăm năm mươi cố vấn, số lượng khi ký Hiệp nghị Genève và được Hiệp nghị này cho phép.

Sáu: Sẽ cho phép Hà Nội rút bất kỳ nhân viên Việt Cộng nào muốn rời khỏi Nam Việt Nam… Chính phủ Nam Việt Nam sẽ ân xá cho các phiến quân thôi không chống lại quyền lực của Chính phủ (Xem G.C.Heanng: Ngoại giao bí mật trong chiến tranh Việt Nam, tr. 23.). 

Ông vững lòng lên đường ra Hà Nội và lúc này đây, khi đang leo những bậc thềm đá cao của Phủ chủ tịch, ông càng vững lòng, tuy không khỏi một chút phân vân về kết quả chuyến công cán.

Thượng tá Mai Lâm, Phó trưởng phái đoàn liên lạc Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam bên cạnh Uỷ ban Quốc tế, đón ông ở bậc cuối cùng với nụ cười hữu nghị. Hai người rẽ về bên phải tới phòng khách phía Tây, nơi Thủ tướng thường tiếp các đại sứ.

 Ông Seaborn hơi bối rối trước sự giản dị của phòng khách và nhất là trước sự khiêm tốn niềm nở của một nhà chính trị lớn, một nhà ngoại giao có tiếng luôn luôn biểu lộ một sắc thái phương Đông.

Sau những lời chúc mừng và thăm hỏi lễ tân, ông Seaborn bày tỏ niềm vui mừng được thay mặt nước ông làm việc trong Uỷ ban Quốc tế vì hoà bình ở Đông Dương và khu vực. Ông nói những đóng góp của Canađa trong Uỷ ban Quốc tế và nếu những điều ông mới được biết về những khó khăn mà Uỷ ban Quốc tế nói chung, đoàn Canađa nói riêng, đang gặp phải trong lúc này và nói tiếp:

“Canađa luôn luôn quan tâm theo dõi sự phát triển ở vùng này và thấy rằng tình hình ngày càng nghiêm trọng. Canađa quan tâm đến hoà bình và mong muốn đóng góp cố gắng của mình theo hướng đó”.

“Thưa Ngài Thủ tướng, Ngài biết quan hệ giữa Canađa và Hoa Kỳ là hữu nghị và rất chặt chẽ. Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi hiểu một cách sâu sắc những suy nghĩ của Hoa Kỳ, rằng Tổng thống Johnson là con người của hoà bình. Ông ta muốn tránh một sự đụng độ giữa các cường quốc lớn nhưng cũng quyết tâm không để Đông Nam Á rơi vào sự kiểm soát của cộng sản thông qua các hoạt động lật đổ và chiến tranh du kích”.

Đến đây ông dừng lại – một cái dừng lại đầy kịch tính – và xin phép chuyển một thông điệp của Chính phủ Hoa Kỳ cho Chính phủ Việt Nam. Ông lại dừng lại nhìn Thủ tướng – một cái dừng của người tình báo để đó xét.

Về phía Thủ tướng; không một dấu hiệu nào phản đối hay khước từ. Ông Seaborn đọc một bản đánh máy:

Một: Hoa Kỳ biết rõ là Hà Nội nắm quyền kiểm soát đối với Việt cộng ở miền Nam Việt Nam và đó là nguyên nhân gây ra tình hình nguy hiểm hiện nay trong khu vực này;

Hai: Hoa Kỳ có lợi ích phải chống đối lại một thắng lợi của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở miền Nam Việt Nam;

Ba: Hoa Kỳ quyết tâm kiềm chế Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong phạm vi lãnh thổ do Hiệp nghị Genève quy định;

Bốn: Hoa Kỳ bảo đảm với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là Hoa Kỳ không tìm cách lật đổ chế độ cộng sản ở Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hoặc đặt căn cứ quân sự ở Nam Việt Nam;

Năm: Tham vọng của Hoa Kỳ là có giới hạn nhưng sự kiên nhẫn của Hoa Kỳ đã trở nên hết sức mỏng manh;

Sáu: Nhiều nước cộng sản đã được lợi về kinh tế do có quan hệ chung sống hoà bình với Hoa Kỳ như Nam Tư…”

 Ông Seaborn nhấn mạnh rằng ông lo sợ một sự leo thang chiến tranh và nghĩ rằng điều đó chẳng có lợi cho ai “nếu Bắc Việt Nam bị tàn phá nặng nề”. 

Cuối cùng, ông hỏi Hà Nội có thông điệp gì muốn chuyển cho Tổng thống Johnson.

Từ đầu, Thủ tướng chăm chú nghe ông Seaborn trình bày, không một lần ngắt lời ông, cũng không lúc nào tỏ ra đồng tình hay chấp nhận những lời ông nói.

Khi nghe ông đại sứ hỏi có thông điệp gì chuyển cho Tổng thống Hoà Kỳ không, Thủ tướng liền trả lời:

– Không! Không! Lúc này không!

Và nói tiếp :

Chúng tôi vui mừng được thấy Canađa trong Uỷ ban Quốc tế. Chính phủ chúng tôi và bản thân tôi có quan hệ tốt, hợp tác với Uỷ ban Quốc tế cũng như với Canađa trong mười năm qua vì chúng tôi thi hành Hiệp nghị Genève đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam. Nhưng người Mỹ đã can thiệp vào Việt Nam, cản trở sự thống nhất đất nước Việt Nam. Họ đã thất bại trong chính sách phiêu lưu của họ nhưng hiện nay họ đang đẩy sự can thiệp đầy tội ác, vô cùng nguy hiểm lên một bước mới, gây nên tình hình rất nghiêm trọng ở Đông Nam Á.

Chúng ta phải học tập để cùng tồn tại trong hoà bình, tìm ra một giải pháp cho vấn đề đã làm tổn hại chúng ta, nhưng đó phải là một giải pháp đúng đắn! Phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp nghị Genève! Người Mỹ phải rút đi! Phải để công việc của miền Nam Việt Nam cho người Việt Nam giải quyết! Việc này cần có sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, không có nhóm nào đại diện cho quyền lợi của quảng đại quần chúng miền Nam Việt Nam như Mặt trận Dân tộc Giải phóng. 

Cần có một giải pháp đúng đắn cho vấn đề thống nhất nước Việt Nam. Chúng tôi muốn thống nhất đất nước một cách hoà bình, không có áp lực bên ngoài. Chúng tôi muốn có thương lượng quanh bàn Hội nghị một cách thành thật, thoả mãn yêu cầu của nhau với sự thu xếp thuận lợi cho cả hai bên. Chúng tôi không vội vã. Chúng tôi muốn nói chuyện nhưng chúng tôi sẽ chờ đợi cho đến khi miền Nam Việt Nam sẵn sàng. Tôi thấy đó là điều khó chấp nhận đối với Hoa Kỳ. Tôi thấy rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ cho Chính phủ miền Nam Việt Nam. Họ có thể đưa thêm nhiều nhân viên quân sự nữa vào. Tôi rất đau lòng khi thấy chiến tranh sẽ tiếp diễn, mở rộng và tăng cường. Nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục chiến đấu và nhất định sẽ thắng!”

Thủ tướng từ từ uống một ngụm nước chè rồi nói tiếp:


– Các ông phương Tây, các ông không thể hiểu, hoàn toàn không thể hiểu, sức mạnh của một dân tộc khi họ đã quyết tâm đứng lên kháng chiến vì độc lập và tự do của Tổ Quốc. Cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam Việt Nam chúng tôi vượt xa mọi sự tưởng tượng. Họ làm cho cả chúng tôi phải ngạc nhiên.

 Ông hãy nhìn lại tình hình miền Nam Việt Nam từ sau khi ám sát Diệm. Phong trào đấu tranh của nhân dân đã phát triển mạnh như một dòng thác lũ. Triển vọng cho Hoa Kỳ là không có lối ra. Tăng cường quân sự cho Nguyễn Khánh sẽ chẳng giúp được gì. Nhân dân miền Nam Việt Nam đã quá rõ bộ mặt của chúng, cần có một Chính phủ liên hợp dân tộc. Chính phủ liên hợp dân tộc ở Lào là một ví dụ. Chúng tôi không có quân ở Lào nhưng Hoa Kỳ đã can thiệp vào. Hàng ngày máy bay Mỹ từ hướng Lào sang xâm phạm vùng trời chúng tôi. Những đơn vị biệt kích đã thâm nhập lãnh thổ chúng tôi đế tiến hành phá hoại.

Thủ tướng nhấn mạnh:

– Nếu Hoa Kỳ tăng cường chiến tranh ở miền Nam Việt Nam thì sẽ là một cuộc chiến đấu quyết liệt đến cùng, Hoa Kỳ không bao giờ giành được thắng lợi bất cứ trong tình huống nào.

Thủ tướng nhắc lời của nhà báo Mỹ Walter Lipmann: Mỹ chưa thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Đại sứ Seaborn hứa sẽ chuyển về Washington những điều nói trên.

Thủ tướng:

– Ông có thể không tin những điều tôi nói, nhưng tôi bảo đảm với ông những gì tôi nói đều xuất phát từ lòng chân thành và thẳng thắn. 

Ông Seaborn:

– Như Ngài vừa nói, có phải một điều kiện để lập lại hoà bình là trước hết miền Nam Việt Nam phải trung lập không?

– Không – Thủ tướng ngắt lời đại sử – Tôi không nói đến vấn đề trung lập như là bước đầu tiên. Miền Nam Việt Nam trung lập bao nhiêu lâu là do nhân dân miền Nam quyết định. Tôi không dự đoán!

Ông Seaborn:

– Mặt trận Dân tộc Giải phóng đại diện cho một lực lượng ở miền Nam Việt Nam nhưng không phải là tất cả và cũng không phải là đa số. Tôi hoan nghênh Mặt trận sẽ được tham gia vào một liên hiệp sẽ xuất hiện, nhưng tôi sợ rằng việc liên hiệp sẽ sớm mở đường cho Mặt trận tiếp quản Nam Việt Nam, điều đó đã xảy ra ở một vài nơi.

Thủ tướng không trả lời câu này và có ý định chuyển câu chuyện sang hướng khác. Thủ tướng nói:

– Tôi vui mừng qua thông điệp của Hoa Kỳ thấy Hoa Kỳ không có ý định đánh chúng tôi.

 Ông đại sứ nói ngay:

– Hoa Kỳ không muốn đưa chiến tranh ra Bắc Việt nhưng sẽ bị buộc phải làm việc đó nếu bị đẩy quá xa. Sự kiên nhẫn của Hoa Kỳ không phải là không có giới hạn. 

Chậm rãi, Thủ tướng nói:

– Nếu chiến tranh bị đẩy ra miền Bắc Việt Nam, miền Bắc sẽ chiến đấu. Chúng tôi có các bạn bè của chúng tôi. Ông biết đấy, chúng tôi là một nước xã hội chủ nghĩa, là một thành viên trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa. Nhân dân chúng tôi sẽ đứng lên tự vệ. Chúng tôi không có hành động gì đẩy Hoa Kỳ đi vào con đường đó, chúng tôi không khiêu khích Hoa Kỳ.

Đại sứ Seaborn xin cáo từ. Thủ tướng nói thêm:

– Tôi chờ đợi có cuộc nói chuyện thêm nữa với ông đại sứ. Lần sau ông sẽ gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lần này Người đi nghỉ. Người có gửi lời chào ông.

Chuyến công cán của ông Seaborn tại Hà Nội theo yêu cầu của Washington đã hoàn thành, ông Seaborn trở về ngay Sài Gòn. Tại đây ông đã làm báo cáo gửi đồng thời cho Ottawa và Washington. .

Cuộc nói chuyện với Thủ tướng Phạm Văn Đồng được tường thuật rất đầy đủ.

Khi nói về Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông Seaborn viết: “Ông Phạm Văn Đồng trong suốt câu chuyện đã cố gắng gây cảm giác thành thật, nhận thức tính nghiêm trọng của những điều chúng ta đã thảo luận, và không có gì tỏ ra hung hăng và hiếu chiến” .

Khi nói về ý kiến của những người ông đã gặp ở Hà Nội, ông viết: Không một người Việt Nam nào tôi đã gặp nói đến Liên Xô và Trung Quốc. Ông Đồng chỉ nói một cách gián tiếp rằng nước ông là thành viên của nhóm nước xã hội chủ nghĩa trong khuôn khổ khả năng Hoa Kỳ đưa chiến tranh ra miền Bắc”.

Người Pháp cho tôi biết rằng Bắc Việt Nam lo ngại về một sự chia rẽ hoàn toàn giữa Liên Xô và Trung Quốc làm cho họ rơi vào sự kiểm soát của Trung Quốc, điều mà họ hết sức chống lại càng lâu được chừng nào càng tốt”

Về sự chia rẽ trong nội bộ Bắc Việt Nam, Seaborn nhấn mạnh tính ôn hoà trong lời nói của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ông nói: Cụ Hồ Chí Minh có uy tín vô cùng to lớn và được sùng bái như một vị á thánh, đứng trên mọi phe phái. Các đại diện

không cộng sản ở Hà Nội chống lại ý kiến cho rằng có thể có phe có nhóm ở Hà Nội. Họ thấy lòng tự hào dân tộc rất cao trong những lời tuyên bố dứt khoát của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và trong lời kêu gọi tự lực tự cường của Hà Nội. 

Về tình trạng có dấu hiệu mỏi mệt vì chiến tranh hay không, Seaborn cho rằng không có bằng chứng nào cho thấy dấu hiệu đó, và rõ ràng mọi người Việt Nam đều nhấn mạnh quyết tâm chiến đấu chừng nào còn cần thiết. Cũng không thấy người dân ở Bắc Việt buồn hay lo lắng như người Nam Việt Nam. Các sĩ quan Canađa trong tổ (của Uỷ ban Quốc tế ở địa phương) cũng không thấy một bằng chứng nào về sự bất bình trong nhân dân (M.M.Mclear: Sđd, tr 147-148.).


Chuyển được thông điệp của Nhà Trắng cho lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, biết được câu trả lời trước mắt của Hà Nội đối với thông điệp của Washington, nắm được tinh thần người dân Bắc Việt Nam trước nguy cơ chiến tranh lớn có thể xảy ra, có những tin tức đầu tiên về quan hệ của Bắc Việt Nam với Liên Xô, Trung Quốc, đó là những kết quả của chuyến công cán đầu tiên của đại sứ Seaborn tại Hà Nội. Chuyến đi này được Bộ Ngoại giao Mỹ đánh giá cao, vì đây là người đầu tiên của Mỹ sau gần hai mươi năm được trực tiếp nói chuyện với những nhà lãnh đạo Hà Nội để tìm hiểu tình hình chiến lược theo yêu cầu của Mỹ.

Trong bản báo cáo gửi Ottawa và Washington sau chuyến công cán đầu tiên tại Hà Nội, ông J.B.Seaborn đã ngỏ ý muốn được tiếp tục nhiệm vụ liên lạc với Hà Nội và sẽ “hoan nghênh bình luận của Bộ Ngoại giao Canađa và của Washington về bất kỳ gợi ý nào cho cuộc nói chuyện lần sau”

Nhưng trong chuyến máy bay riêng của Uỷ ban Quốc tế ra Hà Nội ngày 10 tháng 8 năm 1964, ông suy nghĩ và thấy sự việc chuyển biến quá nhanh.

Ngày 2 tháng 8 năm 1964, tàu khu trục US Maddox của Hải quân Hoa Kỳ bắn phá hai đảo Hòn Mê, Hòn Ngư của Bắc Việt Nam.

Ngày 4 tháng 8, hai tàu khu trục US Maddox và C.TurnerJoy thuộc phân đội đặc nhiệm 72.1 bị tàu phóng ngư lôi của hải quân Bắc Việt Nam chặn đánh trong lãnh hải Việt Nam.

Ngày 5 tháng 8, máy bay Mỹ ném bom trả đũa vào các căn cứ Hải quân Bắc Việt Nam.

Ngày 7 tháng 8, Quốc hội Mỹ, với tuyệt đại đa số phiếu (chỉ có hai phiếu chống), thông qua một nghị quyết về “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” cho phép Tổng thống “thi hành mọi biện pháp cần thiết bao gồm cả việc sử dụng lực lượng vũ trang” để giúp đỡ thành viên nào hoặc các nước bảo vệ của tổ chức hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) yêu cầu Hoa Kỳ giúp đỡ bảo vệ tự do.

Theo yêu cầu gấp rút của Mỹ, Seaborn lại ra Hà Nội gặp các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam.

Hà Nội nhộn nhịp chuẩn bị đi vào chiến đấu: đường phố bắt đầu có những ụ súng phòng không, những hố cá nhân, những hầm trú ẩn công cộng, nhà ga, bến xe chật ních phụ nữ, trẻ em đi sơ tán. Một không khí nghiêm trang nhưng không hốt hoảng. Tác động trực tiếp của tình hình mới đối với ông là lần này ông không được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp ngay như lần trước, mà phải đợi đến ngày 13 tháng 8.

Khi ông tới Phủ chủ tịch, Thủ tướng đang đợi ông. Ông xin lỗi về sự chậm trễ do có báo động và đi ngay vào câu chuyện. Ông xin phép được chuyển tới Thủ tướng một thông điệp của Hoa Kỳ theo chỉ thị của Chính phủ Canađa. Thủ tướng im lặng, vẫn bình tĩnh, lịch sự.

Ông đại sứ đọc một bản viết:

“Một: Bắc Việt Nam nói tàu chiến Mỹ bắn phá đảo Hòn Ngư và đáo Hòn Mê là không đúng. Sự thật tàu US Maddox không hề tấn công hai đảo đó, vì lúc sự việc xảy ra cũng như ngày hôm sau, nó ở cách xa đấy một trăm hải lý về phía Nam, gần vĩ tuyến 17. Cuộc tấn công của Bắc Việt ngày 2 tháng 8 Chính phủ Hoa Kỳ có thể chấp nhận được là do tính toán sai.

Hai: Nhưng lý do của cuộc tấn công của Bắc Việt đêm 4 tháng 8 vào hai tàu khu trục Mỹ thì không thể hiểu được. Chỉ có thể coi đó là một cuộc tấn công có tính toán trước. Cuộc công kích xảy ra một cách vô cớ cách bờ biển sáu mươi hải lý. Chỉ có thể coi đó là một mưu toan nhằm chứng minh rằng Mỹ là con hổ giấy hoặc khiêu khích Mỹ.

Ba: Hoa Kỳ đã trả lời bằng cuộc bắn phá tàu ngư lôi cùng căn cứ và thiết bị của nó. Đó là cuộc đánh trả hạn chế và thích đáng Chính sách của Hoa Kỳ là yêu cầu Bắc Việt phải hạn chế tham vọng của mình ở Nam Việt Nam. Hoa Kỳ quyết tâm giúp Nam Việt Nam chống xâm lược và lật đổ. Hoa Kỳ không có ý định thiết lập các căn cứ quân sự ở miền Nam hoặc lật đổ Chính phủ Hà Nội. 

Bốn: Hoa Kỳ biết rõ Hà Nội đang lãnh đạo du kích ở miền Nam và phải chịu trách nhiệm về việc đó. Hà Nội cũng kiểm soát cả Pa thét Lào và can thiệp vào Lào.

Năm: Hoa Kỳ duy trì quan hệ bình thường và có nhiều kết quả với một số nước xã hội chủ nghĩa. Các nước đó được lợi về mặt kinh tế do có quan hệ hữu nghị với Hoa Kỳ.

Sáu: Sau những sự kiện xảy ra, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua quyết định hầu như nhất trí tán thành các biện pháp của Chính phủ Hoa Kỳ. Điều đó chứng tỏ Chính phủ và nhân dân Mỹ kiên quyết chống lại các cố gắng của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhằm lật đổ Chính phủ Nam Việt Nam và Chính phủ Lào. Hoa Kỳ cho rằng vai trò của Bắc Việt Nam ở Nam Việt Nam và Lào đã làm cho tình hình trở nên nguy kịch” 

Theo cách ông đọc thì hình như thông điệp đó đến đây là hết. Nhưng sau này, khi các tài liệu của Lầu Năm Góc được công bố, người ta mới biết là ông ta, không hiểu vì sao, đã không đọc một đoạn nữa như sau: “Nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiếp tục đường lối hiện nay thì họ có thể tiếp tục phải chịu những hậu quả.Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cần biết mình phải làm gì nếu muốn hoà bình được lập lại” (Tài liệu Lầu Năm Góc, thời báo New York xuất bản, 1971, tr. 289.). 

Ông Seaborn chờ đợi, mắt chợt thấy các cửa kính của phòng khách đều có dán những mảnh giấy cắt để đề phòng bom nổ gần. Thủ tướng không để ông chờ lâu:

“Tôi rất tiếc đã tiếp ông vì những lời ông nói không đáng nghe. Tôi tiếp ông là tiếp một đại sứ trong Uỷ ban Quốc tế chứ không phải để nghe và trả lời những luận điệu giả dối và bịa đặt. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có quan hệ hết sức tốt với Uỷ ban Quốc tế. Tình hình đang nguy kịch, đáng lẽ phải cộng tác với nhau để làm được một cái gì, Uỷ ban Quốc tế và mỗi thành viên của nó cần giúp sức vào việc thi hành Hiệp nghị Genève, duy trì hoà bình. Hoà bình đang bị đe doạ. Mỹ có hành động xâm lược đối với miền Bắc là điều nhất định sẽ xảy ra. Các chính khách Mỹ đã nhiều lần tuyên bố mở rộng chiến tranh ra miền Bắc đề gỡ thế bí ở miền Nam. Đó là nguyên nhân của cuộc tấn công ngày 5 tháng 8. Cuộc bầu cử (ở Hoa Kỳ) là lý do thứ hai, Johnson phải tỏ ra cao giọng hơn đối thủ của mình. Và lý do nữa: Hoa Kỳ muốn Quốc tế hoá chiến tranh”.

Một phút dừng. Thủ tướng nói tiếp:

“Tương lai sẽ ra sao?”. 

Rồi nói ngay: “Nguyên nhân dẫn đến cuộc tấn công ngày 5 tháng 8 vẫn còn nguyên, do đó Chính phủ Mỹ sẽ có những hành động xâm lược mới. Tình hình đã rất nguy hiểm”. 

“Chủ trương của chúng tôi là làm mọi việc để cố duy trì hoà bình nhưng Hoa Kỳ đã không tán thành Hiệp nghị Genève, can thiệp và xâm lược miền Nam, đến nay sa lầy vào thế bí, không có lối thoát, lại muốn mở rộng chiến tranh ra miền Bắc để gỡ thế bí đó. Đó là một tính toán sai lầm. Chúng tôi muốn duy trì hoà bình ở miền Bắc, bây giờ việc đó trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Nếu Mỹ gây chiến tranh, chúng tôi buộc phải tự vệ. Chiến tranh có thể xảy ra. Cuộc chiến đấu của chúng tôi là yêu nước. Cả thế giới ủng hộ chúng tôi…”.

Với giọng nghiêm nghị, Thủ tướng nói tiếp:

“Khác với Triều Tiên là một bán đảo khuất nẻo, nếu chiến tranh lan ra miền Bắc Việt Nam, có thể sẽ lan ra cả vùng Đông Nam Á. Nếu Mỹ gây chiến, Mỹ sẽ thất bại to lớn, không có kết quả nào khác”.

“Với ông, một Đại biểu trong Ủy ban Quốc tế, yêu cầu ông tìm cách ngăn ngừa không để xảy ra những sự kiện nghiêm trọng hơn. Tình hình đã quá nghiêm trọng rồi. Uỷ ban Quốc tế có nhiệm vụ ổn định tình hình để đi đến một giải pháp, giải pháp đó là trở lại Hiệp nghị Genève. Tổng thống De Gaune cũng cho rằng giải pháp cho vấn đề Việt Nam là Hiệp nghị Genève. Ủy ban Quốc tế có vai trò quan trọng, cần chuẩn bị cho vai trò đó, không phải bằng cách đi theo lập trường của Hoa Kỳ mà theo lập trường của Hiệp nghị Genève”.

Thấy Thủ tướng dứt lời, đại sứ Seaborn nói ngay:

“Tôi xin lỗi phải làm nhiệm vụ theo chỉ thị của Chính phủ tôi. Vai trò trung gian là vai trò nhiều khi bạc bẽo vì phải nói những điều khó lọt tai người nghe, nhưng đã là người lính thì phải làm đúng chỉ thị. Thưa Thủ tướng không nên bắn vào người đưa thư.”

“Trong những sự kiện đã xảy ra cũng có những chi tiết khó tin nhưng điều quan trọng là tìm ra được cách không để tình hình nguy hiểm tái diễn. Có một điều tôi tin là Hoa Kỳ không muốn đầu độc bầu không khí, không để xảy ra chiến tranh thế giới và cũng không phải là điên rồ”.

Về cuộc công cán thứ hai, đại sứ Seaborn nhận xét: “Tôi dè dặt mà nói rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trước những tuyên bố công khai (của Mỹ) và các cuộc vận động bằng các công hàm mà tôi đã chuyển, đã không bị thuyết phục…” phải từ bỏ quyết tâm trong việc theo đuổi đường lối của họ.

Sau này, khi cục diện chiến tranh đã thay đổi thuận lợi rõ ràng cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ông còn nói:

“Sau chuyến công cán thứ hai sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ – một sự kiện lạ lùng – Hà Nội tin một cách chính đáng rằng họ không cần phải nhượng bộ. Hà Nội có lý do để tỏ ra không mềm dẻo. Họ hoàn toàn tin chắc rằng nếu họ giữ thái độ cứng rắn càng lâu bao nhiêu thì họ sẽ tạo ra được những khả năng mà họ mong muốn và lịch sử đã chứng minh rằng họ đúng” (M.MMcLear: Sđd tr.162).

Trong một bị vong lục về chuyến .công cán thứ hai của ông Seaborn tại Hà Nội, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã viết: “Đây là thời cơ thứ hai bị bỏ lỡ. Nội dung thương lượng của chuyến công cán đã bị cản trớ hoàn toàn do thời điểm sắp xếp nó và do việc tập trung vào các sự kiện mới xảy ra trước đó hơn là vào các vấn đề rộng rãi đã được đề cập đến một cách xa xôi trong cuộc gặp gỡ tháng 6″ (M. M. McLlear: Sđd, tr.162-16 3.Xem thêm: Gioóc-giơ C. Hearing: Sđd Công cán của Xi-bo-nơ tại Hà Nội. Từ trang 4 đến trang 44) .

Về phần mình, Tổng thống L.B.Johnson cho rằng hai chuyến công cán của đại sứ Seaborn là những gợi ý hoà bình đầu tiên của mình và ông đã yêu cầu ông Seaborn thăm đó “cơ hội hoà bình”. Sau chuyến công cán thứ hai, ông viết trong hồi ký “Cuộc đời Tổng thống của tôi “:

“Hà Nội không quan tâm gì đến một giải pháp hoà bình hay một sự thoả hiệp nào. Họ đã đóng sầm cánh cửa đối với đề nghị hoà bình của Hoa Kỳ. Và sau chuyến công cán tháng 8 của ông Seaborn., họ càng đóng cánh cửa một cách gay gắt hơn” (L.B.Johnson: Cuộc đời Tổng thống của tôi, tiếng Pháp, Nhà xuất bản Buchet Chastel, Paris, 1972, tr. 91). 

Bộ Ngoại giao Mỹ nói đúng khi cho rằng Washington đã bỏ lỡ một thời cơ thương lượng, nhưng đã nói không đúng khi cho rằng nguyên nhân thất bại của chuyến công cán tháng 8 của đại sứ Seaborn là thời điểm, nghĩa là sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, vì đó là bằng chứng không thể chối cãi rằng sự kiện đó là nhằm chuẩn bị dư luận cho việc mở rộng và tăng cường chiến tranh.

Nhận xét của Tổng thống Johnson hoàn toàn không đúng sự thật, vì cái gọi là sự kiện Vịnh Bắc Bộ đã được xác minh là một sự kiện được dựng lên, một sự dối trá, nhiệm vụ giao cho đại sứ Seaborn tại Hà Nội sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ và cuộc ném bom ngày 5 tháng 8 thực chất chỉ là sự hăm doạ tăng cường chiến tranh, không thể gọi là một gợi ý hoà bình. Chính bom Mỹ đã bịt cánh cửa thương lượng với Hà Nội. 

Vụ mì Hảo Hảo chứa chất cấm: Bộ Công thương vào cuộc, đại diện Acecook lên tiếng

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

https://food.com.vn/hang-hoa/vu-mi-hao-hao-chua-chat-cam-bo-cong-thuong-vao-cuoc-dai-dien-acecook-len-tieng-post1717.html

Diệu Hoa  

Ngay sau khi nhận được thông tin mì Hảo Hảo và miến ăn liền Good của Công ty cổ phần Acecook Việt Nam chứa chất cấm, Bộ Công Thương đã đề nghị công ty này khẩn trương báo cáo về quy trình sản xuất và sự khác biệt giữa lô sản phẩm tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đối với 2 sản phẩm này.

Trước cảnh báo của Cơ quan An toàn thực phẩm Ireland về sản phẩm mì Hảo Hảo và miến Good của Acecook chứa Ethylene Oxide, Bộ Công Thương đang tiến hành xác minh đối với đơn vị này. Ethylene Oxide là chất không thuộc danh mục được quy định về giới hạn tối đa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong thực phẩm theo Thông tư 50/2016/TT-BYT của Bộ Y tế

Đồng thời, Bộ Công Thương chỉ đạo các đơn vị chức năng phối hợp rà soát toàn bộ danh mục sản phẩm do Công ty cổ phần Acecook Việt Nam hiện đang phân phối trong nước, kiểm tra xác minh làm rõ quy trình sản xuất và xác định các vi phạm nếu có để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Theo quy định của Luật an toàn thực phẩm Việt Nam.

2 sản phẩm mì Hảo Hảo và miến ăn liền Good của Acecook bị Ireland thu hồi vì chứa thành phần thuốc trừ sâu
2 sản phẩm mì Hảo Hảo và miến ăn liền Good của Acecook bị Ireland thu hồi vì chứa thành phần thuốc trừ sâu

Trong khi đó, trả lời báo chí về vấn đề này, đại diện Acecook cho biết sản phẩm bị thu hồi trong thông tin được đề cập tại trang web này là sản phẩm xuất khẩu, không cùng lô hàng sản xuất với sản phẩm nội địa tại Việt Nam.

“Công ty Acecook Việt Nam không sử dụng công nghệ Ethylene Oxide ở bất kỳ công đoạn sản xuất nào. Hiện chúng tôi đang tiến hành phân tích, kiểm tra và điều tra trên diện rộng ở các nguyên liệu, thiết bị, quy trình liên quan để nhận định nguyên nhân và sẽ có biện pháp đối ứng kịp thời, hữu hiệu nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm và an toàn cho sức khỏe của người tiêu dùng”.

“Chúng tôi cũng đã làm việc với các nhà cung cấp nguyên liệu và nhà cung cấp cũng khẳng định không sử dụng Ethylene Oxide trong quy trình sản xuất của họ. Chúng tôi đã yêu cầu họ kiểm soát và tuyệt đối không sử dụng công nghệ Ethylene Oxide trong quy trình sản xuất, tuyệt đối thực hiện đúng theo các cam kết này với Acecook Việt Nam”, đại diện Acecook Việt Nam thông tin thêm.

Theo quy định của Luật an toàn thực phẩm Việt Nam và các quy định có liên quan, các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường và khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật.