PHẦN MỘT: CUỘC TIẾP XÚC BÍ MẬT VIỆT NAM – HOA KỲ TRƯỚC

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

PHẦN MỘT: CUỘC TIẾP XÚC BÍ MẬT VIỆT NAM – HOA KỲ TRƯỚC HỘI NGHỊ PARIS

CHƯƠNG 1 – DI SẢN CỦA BỐN ĐỜI TỔNG THỐNG

Tổng thống L.B. Johnson


Tổng thống L.B. Johnson đã quyết định tiến hành cuộc chiến tranh hạn chế ở miền Nam Việt Nam và cuộc chiến tranh bằng không quân ở miền Bắc Việt Nam. Đương nhiên ông phải chịu trách nhiệm về quyết định đó. Nhưng chịu trách nhiệm đưa nước Mỹ vào cuộc chiến tranh Việt Nam đâu phải chỉ có riêng ông. Còn phải kể các vị tiền nhiệm của ông, những người từng bước đã tăng cường sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam.

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, dù đã có mặt ở Phi-líp-pin từ năm 1898, nước Mỹ nói chung vẫn chấp nhận sự thống trị của Pháp ở Đông Dương. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa quân phiệt Nhật sụp đổ, chủ nghĩa thực dân Pháp thất bại, phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Dương giành những thắng lợi đầu tiên cơ bản. Nước Mỹ, kẻ chiến thắng chủ yếu trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, ngày càng chú ý đến tình hình Đông Dương. Với chủ trương “ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản”, bao vây Liên Xô và Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, sự chú ý đó ngày càng tăng, đã đưa nước Mỹ đến cuộc chiến tranh Triều Tiên kéo dài ba năm và sau đó dính líu ngày càng sâu vào Lào và Việt Nam.

Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt


Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt đã nhiều lần chê Pháp thực hiện một chính sách thực dân làm cho đời sống nhân dân các nước Đông Dương ngày càng tồi tệ hơn trước khi Pháp đến.


Trước triển vọng chiến thắng ba nước “Trục”, tại Hội nghị Yalta tháng 2 năm 1945, Roosevelt đưa ra đề nghị thiết lập sự uỷ trị ở Đông Dương dưới hình thức một hội đồng quản trị gồm đại biểu Pháp, đại biểu người Đông Dương, đại biểu Phi-líp-pin, đại biểu Trung Quốc, đại biểu Liên Xô. Nhưng đề nghị đó bị Anh phản đối và sau Hội nghị Yalta gần hai tháng, Roosevelt chết.

Tổng thống Harry Truman

Lên thay Roosevelt trong bối cảnh phong trào cách mạng sôi sục của những năm 1944 – 1945 ở Đông Á, Truman chủ yếu lo giúp chế độ Tưởng Giới Thạch, chống lại những thắng lợi trong cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Ông ta đã đồng ý để quân Tưởng Giới Thạch giải giáp quân Nhật ở Bắc Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở lên (quân Anh làm nhiệm vụ đó từ vĩ tuyến 16 trở xuống) với ý đồ giúp họ lật đổ Chính quyền nhân dân do Việt Minh dựng lên để đưa những phần tử thân Tưởng vào làm “những con ngựa thành Troie”. 

Nhưng do cuộc chiến tranh ở Trung Quốc ngày càng phát triển và sự kiểm soát của Việt Minh lan ra toàn quốc Việt Nam, Chính quyền Truman phải lùi một bước, chịu để thực dân Pháp trở lại Đông Dương. Giữa năm 1950, phái đoàn Cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) được đưa sang Việt Nam. Trong tài khoá năm 1954, viện trợ của Mỹ cho các cố gắng chiến tranh của Pháp ở Đông Dương tăng lên một tỷ đô-la. Phái đoàn MAAG đã có ba trăm bốn mươi hai sĩ quan và binh lính Mỹ.

Sau khi Hiệp định đình chiến ở Triều Tiên được ký ngày 26 tháng 7 năm 1954, Tổng thống Eisenhower lần đầu tiên chính thức trình bày thuyết Domino dự đoán Mianma, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a sẽ bị uy hiếp nếu cộng sản thắng ở Đông Dương. Cuộc chiến tranh Triều Tiên đã cho biết thế nào là một cuộc chiến tranh trên lục địa châu Á đối với Mỹ, dù Mỹ là một cường quốc hàng đầu, Chính quyền Eisenhower sợ một cuộc chiến tranh thứ hai với Trung Quốc, nhưng vẫn chủ trương răn đe và ngăn chặn Trung Quốc ở phía Đông Nam Á.

Tổng thống Dwight Roosevelt


Chính sách của Washington là đe doạ Trung Quốc, động viên và tìm cách giúp đỡ Pháp tiếp tục chiến tranh. Ngày 12 tháng 1 năm 1954, J.F.Dunes tuyên bố học thuyết “trả đũa ồ ạt”, hàm ý răn đe Trung Quốc. Tướng Paul Ely, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Pháp, được phái đi nắm tình hình Điện Biên Phủ sau khi Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đánh chiếm hai cứ điểm kiên cố ở ngoại vi phía Bắc của khu Trung tâm Điện Biên Phủ ngày 13 và 14 tháng 3 năm 1954. 

Sau đó, Paul Ely sang Washington yêu cầu Mỹ viện trợ bổ sung để tăng cường lực lượng không quân Pháp. Tổng thống Eisenhower phê chuẩn kế hoạch của đô đốc Radford, Chủ tịch Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, đề nghị Mỹ can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương, giúp Pháp cứu vãn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. 

Theo Radford, hai trăm máy bay của không quân Mỹ sẽ cất cánh từ các hàng không mẫu hạm đậu dọc bờ biển Việt Nam tấn công các căn cứ Quân đội Nhân dân Việt Nam nhằm ngăn chặn việc bao vây Điện Biên Phủ. Các máy bay hạng nặng đóng trên đất Phi-líp-pin sẽ phối hợp. Tán thành chủ trương không để Đông Dương rơi vào tay cộng sản, Tổng thống Eisenhower quyết định nếu không có cách nào khác để ngăn chặn điều đó, Mỹ sẽ can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương, nhưng chỉ can thiệp nếu có được hai điều kiện sau đây:

  1. Được sự ủng hộ của các nước Đồng minh, trước hết là Anh.
  2. Pháp phải trao hoàn toàn độc lập cho các nước Đông Dương.

Eisenhower còn tuyên bố nếu Quốc hội không tuyên chiến thì sẽ không can thiệp.

Đầu tháng 4 năm 1954, khi tướng Navarre báo cáo Điện Biên Phủ có thể mất nếu không có cuộc oanh tạc của không quân Mỹ, Chính phủ Pháp chính thức yêu cầu Mỹ can thiệp, nhưng Washington đã quyết định không can thiệp. Dunes muốn thuyết phục Pháp tiếp tục chiến đấu với một liên minh chống cộng do Mỹ cầm đầu, nghĩa là ông ta muốn quốc tế hoá cuộc chiến tranh Đông Dương. Ý ông ta là lôi kéo Anh, Pháp, Australia, New Zeeland, Thái Lan, Phi-líp-pin, Campuchia, Lào phối hợp với Mỹ và Chính phủ Bảo Đại trong một hành động thống nhất để giữ Đông Dương không rơi vào tay cộng sản. Anh sợ rằng một hành động như vậy sẽ làm hỏng thời cơ đem lại hoà bình ở Hội nghị Genève (từ tháng 2 năm 1954, bốn nước lớn: Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô họp tại Berlin đã thoả thuận sẽ có một Hội nghị Quốc tế về Đông Dương).


Mặc dầu sự phản đối kiên quyết của Anh, một số quan chức Mỹ vẫn còn muốn can thiệp bằng không quân và hải quân Mỹ vào chiến tranh Đông Dương với điều kiện là các Cố vấn Mỹ ở Việt Nam phải được giữ trách nhiệm to lớn trong việc huấn luyện các lực lượng của Chính phủ thân Pháp và được chia sẻ trách nhiệm trong việc vạch kế hoạch quân sự “với người Pháp”. Tuy không muốn kéo dài chiến tranh, Pháp cũng không muốn chia sẻ trách nhiệm với Mỹ.

Chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954, Pháp đại bại ở Điện Biên Phủ.

Ngày 8 tháng 5, Hội nghị Genève về Đông Dương khai mạc. Từ ngày 24 đến ngày 29 tháng 6, Eisenhower và Dunes đã có cuộc họp quan trọng với Churchin và Eden tại Washington. Họ đã thoả thuận về một kế hoạch giải quyết chiến tranh Đông Dương: ngừng bắn ở Đông Dương, lực lượng Việt Nam rút khỏi Lào và Campuchia; ít nhất phải giữ nửa Nam Việt Nam, không loại trừ khả năng thống nhất Việt Nam bằng biện pháp hoà bình; có một Uỷ ban Quốc tế để giám sát việc thi hành hiệp nghị. Pháp được thông báo về kết quả đó và cũng đồng ý. Về kế hoạch sau khi hiệp nghị được ký kết, Mỹ làm áp lực để chính phủ Bảo Đại chấp nhận Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng (cũng trong tháng 6 này) mà Ngô Đình Diệm thì ai cũng rõ là con bài mà Mỹ đã dự trữ từ lâu. Mặt khác, từ tháng 7, Dunes tích cực vận động thành lập khối liên minh phòng thủ Đông Nam Á.

Tướng Henri-Eugene Navarre

Vào những giờ đầu của ngày 21 tháng 7, các hiệp nghị đình chỉ chiến sự riêng về mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia được ký kết. Về Việt Nam, hiệp nghị quy định nước Việt Nam tạm thời chia làm hai miền lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời, giữa hai miền có một khu phi quân sự ở hai bên vĩ tuyến 17. Miền Bắc Việt Nam do Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quản lý, miền Nam Việt Nam do Quốc gia Việt Nam quản lý. Trong vòng ba trăm ngày, các lực lượng kháng chiến sẽ rút về Bắc Việt Nam, các lực lượng dưới sự chỉ huy của Pháp sẽ rời Bắc Việt Nam để vào miền Nam. Dân thường được phép đi lại giữa hai miền Việt Nam trong ba trăm ngày đầu của Hiệp nghị đình chỉ chiến sự. Không bên nào được phép tăng cường lực lượng quân sự trong khu vực mình quản lý hoặc cho phép nước ngoài thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ mình. Một Uỷ ban Quốc tế gồm đại diện Ấn Độ, Ba Lan, Canađa (do Ấn Độ làm chủ tịch) sẽ giám sát và kiểm soát việc thực hiện hiệp nghị đình chỉ chiến sự. Ở Campuchia không có chia cắt, lực lượng kháng chiến Khơ-me không có khu vực riêng. Ở Lào, lực lượng kháng chiến rút về hai tỉnh Phông Xa Lỳ và Sầm Nưa trong khi chờ đợi tổ chức tổng tuyển cử trong phạm vi cả nước. Quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Campuchia và Lào. Ở mỗi nước đó cũng có một Uỷ ban Quốc tế giám sát và kiểm soát riêng, với thành phần như ở Việt Nam.

Cùng ngày 21, Hội nghị Genève thông qua bản Tuyên bố cuối cùng công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, Lào và Campuchia: độc lập, chủ quyển, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Về việt Nam, bản tuyên bố khẳng định việc chia cắt chỉ là tạm thời và hai miền Bắc-nam sẽ được thống nhất sau khi có một Chính phủ được bầu ra bằng tổng tuyển cử tự do tổ chức dưới sự giám sát của Uỷ ban Quốc tế. Việc chuẩn bị tổng tuyển cử sẽ do nhà đương cục có thẩm quyền hai miền tiến hành một năm sau hiệp nghị đình chỉ chiến sự. Cuộc bầu cử chính thức sẽ được tổ chức vào tháng 7 năm 1956.

Mỹ ra một tuyên bố riêng, chấp nhận mười hai trong số mười ba điều của tuyên bố cuối cùng, tức là chấp nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia, chấp nhận nước Việt Nam sẽ được thống nhất bằng tổng tuyển cử tự do năm 1956. Điều cuối cùng của tuyên bố mà Mỹ có ý kiến khác là cách xử lý khi có vi phạm Hiệp nghị ngừng bắn.

Chính trong lúc đại diện Mỹ tuyên bố tại Hội nghị Genève rằng Hoa Kỳ sẽ không xâm phạm đến việc thi hành Hiệp nghị Genève vừa được ký kết, bằng vũ lực hay đe doạ dùng vũ lực, Tổng thống Eisenhower tuyên bố trắng ra rằng: “Bản thân Hoa Kỳ đã không phải là một bên đương sự trong các quyết định tại Hội nghị và không bị các quyết định đó ràng buộc” (Tài liệu Lầu Năm Góc, Thượng nghị sĩ M. Graven xuất bản, Bi-cơn Trét, Boston, tập 1, tr. 605.).

Mặt khác, ngày 8 tháng 9 năm 1954, chưa đầy hai tháng sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Mỹ đã cùng Anh, Pháp, Australia, New Zeeland, Phi-líp-pin, Thái Lan, Pa-ki-xtan ký Hiệp ước Manila thành lập khối SEATO, trong đó các nước ký kết “Hành động để đối phó với nguy cơ chung, phù hợp với các tiến trình hợp hiến” trong trường hợp một trong số các nước này bị vũ trang xâm lược. Hiệp ước quy định một khu vực bảo hộ của nó, bao gồm toàn bộ lãnh thổ của các nước châu Á tham gia Hiệp ước, mở rộng sự bảo hộ tới Campuchia, Lào và Việt Nam. Sau này Vương quốc Campuchia và Vương quốc Lào đều bác bỏ sự bảo hộ đó.

Ngày 1 tháng 10 năm 1954, Tổng thống Eisenhower gửi cho Ngô Đình Diệm một công hàm (được công bố ngày 23 tháng 10 năm 1954) cam kết sự ủng hộ hoàn toàn và sự viện trợ của Hoa Kỳ đối với Nam Việt Nam.

 Đây là cơ sở pháp lý và chính trị của sự dính líu của Hoa Kỳ đối với Nam Việt Nam. Ý nghĩa lớn không che giấu của nó là Mỹ ủng hộ hoàn toàn một Chính phủ chống cộng ở miền Nam Việt Nam. Tác dụng trước mắt của nó là cảnh cáo các lực lượng thân Pháp, các giáo phái rằng Ngô Đình Diệm đã được Washington chọn làm công cụ của chính sách của Mỹ.

Về phía mình, Ngô Đình Diệm đã biết công khai đáp lại cam kết của Mỹ bằng lời tuyên bố nổi tiếng: “Biên giới của Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17″.

Tướng Lowton Conins được Eisenhower cử làm đại sứ đặc biệt với những quyền hạn rất rộng để phối hợp các hoạt động của các tổ chức Mỹ ở miền Nam (phái đoàn viện trợ quân sự MAAG, phái đoàn viện trợ kinh tế USOM, phái đoàn hành chính Michigan), thực hiện kế hoạch loại trừ ảnh hưởng của Pháp, kể cả Hoàng đế Bảo Đại, giành lấy trách nhiệm về quân sự ở miền Nam Việt Nam.

Trong khuôn khổ nhiệm vụ đó, ngày 13 tháng 12 năm 1954, Conins đã ký với tướng Paul Ely, cao uỷ Pháp ở miền Nam Việt Nam một hiệp ước quy định Mỹ thay thế Pháp về mặt quân sự ở miền Nam Việt Nam. Quân đội Sài Gòn được giảm từ hai trăm bảy mươi nghìn người xuống chín mươi nghìn người (để giảm những lực lượng thân Pháp) trước khi xây dựng những đơn vị mới mà Mỹ kiểm soát được. Pháp phải giảm quân đội viễn chinh của họ ở miền Nam từ một trăm năm mươi nghìn người xuống ba mươi nghìn người. Tháng 4 năm 1956, Pháp tuyên bố rút khỏi Đông Dương, mặc dầu về pháp lý họ vẫn còn trách nhiệm đối với Hiệp nghị Genève.

Ngô Đình Diệm không chịu đáp ứng các đề nghị của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về việc tổ chức cuộc tổng tuyển cử theo quy định của Hiệp nghị Genève năm 1954 để thống nhất nước Việt Nam, thậm chí khước từ cả việc lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền về kinh tế, văn hoá. Diệm tổ chức tuyển cử riêng rẽ, dựng lên ở miền Nam Việt Nam một Quốc gia riêng biệt gọi là Việt Nam Cộng hoà.

Với chính sách từ bỏ Đông Dương của Pháp và sự thất bại của các lực lượng thân Pháp ở miền Nam Việt Nam, Tổng thống Eisenhower có nhiều lý do để tuyên bố trong cuộc vận động bầu cử năm 1956 rằng thế giới tự do đã có “một chỗ đứng vừng chắc” ở Đông Dương và các nước không cộng sản tại đây đang được đặt dưới sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn” (Peter Pooler. Nước Mỹ và Đông Dương từ Roosevelt đến Nixon. Nhà xuất bản Thông tin lý luận, Hà Nội, 1986, tr. 71.) 

Sự thật là với sự ủng hộ mạnh mẽ đãnh cho Ngô Đình Diệm, Eisenhower đang đưa miền Nam Việt Nam vào một cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng. 

Ngay sau khi Hiệp nghị Genève có hiệu lực và mặc dầu chưa kiểm soát được hoàn toàn miền Nam Việt Nam, Chính quyền Ngô Đình Diệm đã thẳng tay đàn áp các cuộc biểu tình hoan nghênh đình chiến và thống nhất đất nước, bắt bớ và giam cầm những người yêu nước, yêu hoà bình. Sau khi đã củng cố chính quyền, nhất là sau khi khước từ tổng tuyển cử tự do trong phạm vi cả nước và biến miền Nam thành một Quốc gia riêng biệt, chống cộng, thì họ thi hành ráo riết chính sách trả thù những người kháng chiến cũ – một chính sách được nâng lên thành quốc sách.

Chính sách tàn bạo đó làm dấy lên phong trào đấu tranh ngày càng mạnh của đồng bào miền Nam. Ngày 20 tháng 12 năm 1960, những người yêu nước ở miền Nam thuộc những xu hướng chính trị, những tôn giáo khác nhau đã thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam với cương lĩnh hoà bình, độc lập dân chủ, trung lập. Nhiều vùng nông thôn rộng được giải phóng. Các tầng lớp nhân dân ở thành thị ngày càng bất bình. Thế của Chính quyền Ngô Đình Diệm ngày càng lung lay.

Khi Eisenhower rời Nhà trắng năm 1960, ông đã để lại cho Tổng thống Kennedy một gánh nặng, một bài toán nan giải ở miền Nam Việt Nam. Nói đúng ra, Eisenhower đã để lại hai gánh nặng: vấn đề miền Nam Việt Nam và vấn đề Lào. 

Đối với Kennedy cũng như đối với người tiền nhiệm của ông, vấn dề Lào là vấn đề an ninh của Thái Lan theo thuyết đôminô. Từ khi lực lượng cánh hữu làm đảo chính lật đổ thủ tướng trung lập Souvanna Phouma, tình hình Vương quốc Lào càng rõ. Quân trung lập của tướng Song Le phối hợp với quân Pathét Lào đánh bại quân của tướng Phu Mi Nô Sa Văn, uy hiếp Luông Prabang, Viên Chăn. 

Lầu Năm Góc muốn Mỹ can thiệp mạnh hơn nữa vào Lào, nhưng Tổng thống Kennedy tán thành tham dự một Hội nghị quốc tế nhằm bảo đảm nền trung lập của Lào. Hội nghị Genève về Lào khai mạc ngày 16 tháng 5 năm 1961 phải kéo dài vì ba hoàng thân Lào không thoả thuận được với nhau về việc lập Chính phủ liên hiệp ba phái.Việc Pa thét Lào đánh chiếm Nậm Thà được coi như một Điện Biên Phủ của nước Lào buộc Mỹ phải gây sức ép với phái hữu để giải quyết cho xong việc lập Chính phủ liên hiệp, mặc dầu Mỹ đưa năm nghìn quân chiến đấu Mỹ vào Thái Lan và đưa hạm đội 7 vào Vịnh Thái Lan. Cuộc khủng hoảng ở Lào chỉ là tạm thời giải quyết vì sau khi ngoại trưởng trung lập Quinim Pholsena bị lực lượng thân Mỹ ám sát, nước Lào lại rơi vào một cuộc xung đột mới.

Trong khi đó, Kennedy đứng trước một miền Nam Việt Nam đang rung chuyển cả về quân sự và chính trị, ông đề ra chủ trương đưa một lực lượng đặc biệt “chống nổi dậy” và một trăm cố vấn quân sự sang miền Nam Việt Nam để ngăn chặn cộng sản thống trị miền Nam Việt Nam. Mặc dầu được CIA báo cáo rằng từ tám mươi đến chín mươi phần trăm số Việt cộng ở miền Nam được tuyển lựa ở địa phương và hầu hết vũ khí của họ là do họ tự kiếm lấy, Kennedy cuối cùng lựa chọn kiểu “chiến tranh đặc biệt” với công thức vũ khí và chỉ huy Mỹ cộng với quân đội Sài Gòn. Kế hoạch Stanley-Taylor mà ông phê chuẩn bao gồm ba giai đoạn:

1. Bình định miền Nam Việt Nam trong mười tám tháng, xây dựng các cơ sở ở miền Bắc Việt Nam.

2. Tăng cường quân sự, khôi phục kinh tế ở miền Nam Việt Nam và tăng cường các hành động phá hoại ở miền Bắc Việt Nam.

3. Phát triển kinh tế miền Nam Việt Nam và tấn công miền Bắc Việt Nam.

Về quân sự, Washington lập một Bộ chỉ huy tác chiến ở Sài Gòn giao cho tướng Paul D.Harkin phụ trách. Từ chín trăm bốn mươi tám người tháng 11 năm 1961, số cố vấn quân sự tăng lên hai nghìn sáu trăm người tháng 1 năm 1962 và mười một nghìn ba trăm người tháng 12 năm 1962. Trong năm tài chính bắt đầu từ tháng 7 năm 1961, viện trợ tăng lên hai trăm tám mươi bảy triệu đô-la so với hai trăm lẻ chín triệu đô-la năm trước. Năm 1963 viện trợ ba trăm bảy mươi sáu triệu đô-la. 

Về chính trị, các cố vấn Mỹ giúp Ngô Đình Diệm xây dựng hệ thống ấp chiến lược mà mục đích quân sự là cắt nguồn tiếp tế và nguồn tuyển quân của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và mục đích chính trị là kiểm soát chặt chẽ người dân. Chính quyền Ngô Đình Diệm dự định đưa hai phần ba số dân nông thôn vào ấp chiến lược và thực tế đã đưa được ba mươi ba phần trăm số đó vào tháng 10 năm 1962. Mỗi “ấp chiến lược” thật ra là một trại tập trung với hệ thống đồn bất và lớp lớp dây thép gai chung quanh. Chính sách ‘ấp chiến lược” gieo rắc căm giận vào lòng người dân chỉ mong muốn làm ăn yên ổn và càng thúc đẩy họ nghe theo tiếng gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Đến năm 1963, “chiến tranh đắc biệt” đã bị thất bại. Chính quyền Sài Gòn vẫn không kiểm soát được nông thôn miền Nam

Trong khi đó, ở Sài Gòn và các thành thị lớn khác nhiều nhóm chính trị đấu tranh đòi dân chủ, hoà bình và trung lập. Những phát súng mà quân đội Diệm nổ vào những Phật tử không vũ trang biểu tình hoà bình ở Huế ngày 8 tháng 5 năm 1963 đã làm cho sự chống đối của cộng đồng Phật tử ở miền Nam bùng nổ với sức mạnh không gì ngăn cản nổi. Yêu sách của họ không có gì quá đáng: nếu những người Thiên chúa giáo được trương cờ tôn giáo trong buổi lễ của họ thì những Phật tử cũng được phép trương cờ Phật giáo như thế. 

Phong trào phản đối Diệm – Nhu phân biệt tôn giáo, giết hại Phật tử bùng cháy như một vệt thuốc súng từ Huế đến Sài Gòn và các tỉnh khác, nhanh chóng được các tầng lớp nhân dân rộng rãi ủng hộ, trước hết là sinh viên. Thượng toạ Thích Quảng Đức tự thiêu ngày 10 tháng 6 năm 1963 châm lửa không phải chỉ vào thể xác mình mà vào cả một thùng thuốc súng, làm rung chuyển xã hội miền Nam Việt Nam và kích động phong trào phản chiến ở ngay nước Mỹ.

Nói cho đúng, Kennedy không tán thành việc đàn áp Phật tử của Ngô Đình Diệm nhất là sau này vào tháng 8 các đơn vị quân sự của Diệm đã tấn công vào các chùa lớn ở miền Nam và bắt giam hàng trăm nhà sư, kể cả những người lãnh đạo phong trào phản đối. Ở nhiều nơi, Phật tử đã cầm súng chống lại quân đội. Ngô Đình Diệm không chịu hoà giải với những Phật tử. Đại sứ Cabot Lodge, một nhà ngoại giao sành sỏi, đã từng là ứng cử viên Phó Tổng thống của Đảng Cộng hoà năm 1960, được cử sang thay đại sứ Nolting với những quyền hạn rộng rãi để đối phó với cuộc khủng hoảng. Ông ta cũng không thuyết phục được Diệm thay đổi chính sách và cuối cùng đã ủng hộ cuộc đảo chính của Dương Văn Minh, đưa đến cái chết của anh em Diệm – Nhu ngày 2 tháng 11 năm 1963.

Ngay từ ngày 12 tháng 12 năm 1961, Tổng thống Kennedy tuyên bố với các nhà báo: “Chúng ta không thấy đoạn cuối của đường hầm nhưng tôi phải nói rằng tôi không nghĩ là nó đen tối hơn so với năm trước, mà có phần sáng sủa hơn” (Pi-tơ A.Pu-lơ. Sđd, tr. 116.) 

Nhưng việc ủng hộ nhóm đảo chính Dương Văn Minh và việc lật đổ tập đoàn Diệm – Nhu (mà lúc đầu Kennedy đã hết sức giúp đỡ) đã không mang lại sự thay đổi nào trong tình hình miền NamViệt Nam như ông mong muốn. Ngược lại, nó chỉ làm cho tình hình trầm trọng thêm, bế tắc hơn. Chưa tìm được giải pháp cho cuộc khủng hoảng toàn diện ở miền Nam Việt Nam sau cái chết của Diệm – Nhu, Kennedy chỉ biết tiếp tục các cố gắng quân sự cho đến khi, hai mươi ngày sau cái chết đó, ông bị ám sát tại Dalas.

Thất bại trong chính sách ủng hộ Ngô Đình Diệm và chiến tranh đặc biệt, Kennedy đã để lại cho Phó Tổng thống L.B.Johnson, người thay thế ông nắm quyền tối cao của nước Mỹ một miền Nam đen tối hơn cuối năm 1961, với những thất bại mới trên chiến trường, những rắc rồi mới trong tình hình chính trị ở Sài Gòn. Nhà Trắng, Bộ Ngoại giao, Lầu Năm Góc tranh cãi ráo riết về một sự lựa chọn, về kế hoạch sắp tới ở miền Nam Việt Nam, hoặc đúng hơn là ở Việt Nam và Lào. Nhưng tất cả đều bối rối, dù họ là “diều hâu” hay “bồ câu”

Nhận xét tình hình đó, hãng UPI ngày 7 tháng 3 năm 1964 viết: “Vấn đề không còn phải là xem xét có phải là ta đang thua cuộc chiến tranh hay không, mà là xem xét Hoa Kỳ và Nam Việt Nam đang thua cuộc chiến tranh với tốc độ nào và liệu còn có một hy vọng mỏng manh nào đế cứu vãn tình hình không” (Vụ thông tin báo chí Bộ Ngoại giao Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà: Hai mươi năm can thiệp và xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, tiếng Pháp, Hà Nội, 1965.).

Đương nhiên, Tổng thống mới của nước Mỹ, với những trách nhiệm cao cả của mình, không thể dễ dàng đồng tình ngay với nhận xét đó. Ông còn phải đánh giá lại tình hình miền Nam Việt Nam và tình hình Đông Dương nói chung, xét duyệt tất cả các phương án của các cố vấn quân sự và dân sự, cân nhắc tác động đối nội và đối ngoại của mỗi sự lựa chọn có thể có, thăm đó Quốc hội và tranh thủ sự đồng tình của Quốc hội, thăm dò đồng minh Trung Quốc và các đối thủ trực tiếp của mình là Bắc Việt Nam.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s