Hiệp định Paris 1973 – Phần 1

Wiki Twitter Facebook Instagram Linkedln

Những Hiệp định Paris đã diễn tiến:

Hiệp định Paris 1973
Tên đầy đ Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam
Tiếng Anh: Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Viet Nam
Ngày kí27 tháng 1 năm 1973
Nơi kíParisPháp
Ngày đưa vào hiệu lực28 tháng 1 năm 1973
Ngày hết hiệu lựcHoàn thành bằng Tổng tuyển cử ngày 25 tháng 4 năm 1976
Bên tham gia Hoa Kỳ
 Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
 Việt Nam Cộng hoà
 Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam
Ngôn ngữAnhViệt
https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/4c/Wikisource-logo.svg/16px-Wikisource-logo.svg.png Hiệp định Paris 1973 và các văn bản có liên quan tại Wikisource

Mục từ “Hiệp định Paris” dẫn đến bài này. Xin đọc về các nghĩa khác tại Hiệp định Paris (định hướng).

Hiệp định Paris về Việt Nam hoặc hiệp định Paris 1973 (ở miền Nam còn gọi là Hiệp định Ba Lê) là hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam do 4 bên tham chiến: Hoa KỳViệt Nam Dân chủ Cộng hòaCộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa ký kết tại Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973. Về mặt công khai thì đàm phán có 4 bên và nội dung chính thức của bản Hiệp định cơ bản dựa trên Tuyên bố 10 điểm ngày 8 tháng 5 năm 1969 của phái đoàn Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, nhưng việc đàm phán để đạt được nội dung hiệp định lại chủ yếu được quyết định bởi các phiên họp kín giữa 2 đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ.

Trong quá trình đàm phán, Hoa Kỳ gần như phớt lờ ý kiến của đoàn Việt Nam Cộng hòa và tự sắp đặt mọi chuyện trong các cuộc họp kín với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong khi phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam lại luôn có sự phân công, phối hợp nhịp nhàng, ăn ý, liên tục thảo luận với nhau trước khi đưa ra quyết sách. Do vậy, sau khi điều khoản Hiệp định được thống nhất giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòaCộng hòa Miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ thì đoàn Việt Nam Cộng hòa lại từ chối ký vì có những điều khoản bất lợi cho họ. Nhưng Việt Nam Cộng hòa chỉ phản đối được vài ngày, bởi sau đó Hoa Kỳ đã đe dọa và buộc đoàn này phải ký Hiệp định.

Lê Đức Thọ và Henry Kissinger, hai nhân vật chủ chốt trong cuộc đàm phán, đã được trao tặng giải Nobel Hòa Bình năm 1973, nhưng Lê Đức Thọ đã từ chối không nhận giải này với lý do hòa bình vẫn chưa lập lại tại Việt Nam. Còn ông Kissinger yêu cầu đại sứ Mỹ tại Na Uy thay mặt mình nhận giải. Ông Lê Đức Thọ cũng cho rằng việc nhận giải sẽ là một sự đánh đồng giữa kẻ xâm lược (Hoa Kỳ) với người bị xâm lược (nhân dân Việt Nam) và sẽ chỉ nhận giải khi giải đó chỉ được trao cho mình ông do giải Nobel hòa bình phải được trao cho đại diện của bên kiến tạo hòa bình (nhân dân Việt Nam).

Hội nghị Paris, mặt trận ngoại giao năm 1968-1972

Hội nghị Paris về Việt Nam kết thúc với việc ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 đã buộc Mỹ phải rút khỏi Việt Nam và mở đường cho sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hoà. Đây là kết quả của gần 5 năm đàm phán, với 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, 500 buổi họp báo, gần 1.000 cuộc phỏng vấn và phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam trên khắp Thế giới.

Chiến cục năm 1972 tại Việt Nam không phải là ngoại lệ với tình trạng “vừa đánh, vừa đàm”. Lịch sử thế giới đã từng chứng kiến những điều tương tự xảy ra trong cuộc chinh phạt châu Âu của Napoleon (1799-1815), ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông của nhà Trần (thế kỷ XIII), cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (đầu thế kỷ XV). Nhưng ở thời điểm năm 1972, khi các bên đã bước vào một cuộc đua nước rút nhằm biến kết quả về quân sự trên chiến trường thành kết quả chính trị-ngoại giao được ghi nhận bằng một hiệp định. Chính vì vậy, có thể coi Hội nghị Paris không chỉ là cuộc đàm phán thông thường mà còn là một “cuộc chiến không tiếng súng” của các nhà ngoại giao các bên; có ảnh hưởng rất lớn tới những kết quả cuối cùng của chiến cục năm 1972 cũng như đến toàn bộ cuộc Chiến tranh Việt Nam. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa coi Hội nghị Paris không chỉ là các cuộc đàm phán ngoại giao thông thường mà còn là một mặt trận. Mặt trận ấy không chỉ có ý nghĩa tuyên truyền cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của người Việt Nam mà còn đem lại sự xác nhận những kết quả của các cuộc đấu tranh vũ trang và chính trị trên chiến trường miền Nam Việt Nam. Theo đánh giá của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì:

Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là yếu tố quyết định để giành thắng lợi trên chiến trường và là cơ sở cho thắng lợi của đấu tranh ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được thắng lợi trên bàn đàm phán những gì mà chúng ta giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không đơn thuần chỉ là phản ánh của tình hình chiến trường, mà trong bối cảnh quốc tế hiện nay và do tính chất của cuộc chiến tranh, đấu tranh ngoại giao còn đóng một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động

Kết quả quân sự của Chiến cục ở Việt Nam năm 1972 được ghi nhận tại các điểm b và c, Điều 3, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam có ý nghĩa như một bước ngoặt lớn không chỉ đối với người Việt Nam mà còn đối với cả thế giới, trước hết là ba cường quốc: Hoa Kỳ, Liên Xô và Trung Quốc. Nhà sử học Nga Ilya V. Gaiduk nhận xét: Đối với Moskva, sự chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam đánh dấu một giai đoạn mới trong chính sách đối ngoại của họ… chướng ngại vật đáng kể trên lộ trình hòa giải với phương Tây đã bị loại bỏ. Điều đó còn bao hàm một sự mềm dẻo hơn trong chính sách đối ngoại của Liên Xô đối với Trung Quốc… Xét về khía cạnh này, Chiến tranh Việt Nam là một bước ngoặt trong sự phát triển quan hệ quốc tế sau năm 1945 và là một phần mở đầu cho hai thập kỷ cuối của lịch sử Chiến tranh Lạnh. Ngạn ngữ Hy Lạp có câu: có lúc ném đá đi và có lúc phải nhặt đá về, có lúc ôm nhau và có lúc phải buông nhau ra. Giống như các cuộc xung đột quân sự trên chiến trường đã kéo dài đến năm thứ 18, các bên tham chiến đều thấy rằng đã đến lúc phải đi đến một kết quả nhất định được đánh dấu bằng những thỏa thuận chính trị-ngoại giao được ghi nhận theo trình tự của công pháp quốc tế. Tại buổi gặp riêng lần thứ 15 ngày 1 tháng 8 năm 1972 tại nhà riêng của đoàn Việt Nam tại phố Darthé (Paris), Kissinger đề nghị: “Chúng tôi đồng ý cần giải quyết vấn đề chính trị và vấn đề quân sự cùng với nhau”. Ông đã đưa ra một đề nghị mới gồm 12 điểm và cam đoan rằng Hoa Kỳ sẽ tôn trọng mọi sự thảo thuận không những về tinh thần mà còn cả về lời văn. Với cố gắng san lấp hố ngăn cách giữa những bất đồng của hai bên, Hoa Kỳ chấp nhận hình thức căn bản đề nghị bảy điểm và hai điểm nói rõ thêm của phía Việt Nam; đồng thời sẵn sàng bảo đảm với các đồng minh của Việt Nam, gắn mối quan hệ quan trọng của Hoa Kỳ với Liên Xô và Trung Quốc vào thiện chí của Hoa Kỳ ở Việt Nam.[6]. Trong cuộc gặp riêng ngày 15 tháng 9 năm 1972; Lê Đức Thọ nêu một câu hỏi: “Ông có sẵn sàng đạt được một hiệp định về nguyên tắc đến một thời hạn nào đó không?”. Kissinger trả lời: “Tôi thấy rằng không có điều gì bất lợi để ấn định một thời hạn cuối cùng trong lúc mà chúng ta chưa đưa thêm nhận nhượng nào”.Hai bên hẹn gặp lại vào ngày 26 và 27 tháng 9. Và đến ngày 8 tháng 10, phía Việt Nam đưa ra bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”.

Trước khi đàm phán được tổ chức

1964-1965 và quá trình tăng quân của Mỹ tại Việt Nam

Từ cuối năm 1964, những thất bại liên tiếp trên chiến trường, số lượng ấp chiến lược được giải phóng bởi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và lực lượng du kích liên tục tăng, không có dấu hiệu giảm và chính trường Sài Gòn trở lên cực kỳ lộn xộn và rối ren bởi hàng loạt các cuộc đảo chính khác nhau khiến Chương trình “Chiến tranh đặc biệt của Mỹ tại Việt Nam có nguy cơ sụp đổ. Chính Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara phải thừa nhận: “tình hình chính trị và quân sự (của Việt Nam Cộng hòa) ở miền Nam Việt Nam xấu đi nhanh chóng…Việt Nam Cộng hòa dường như đang trên bờ vực của sự sụp đổ hoàn toàn”. Thậm chí tướng William Westmoreland còn tin rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa không còn đủ sức chiến đấu và chính quyền Sài Gòn sắp sụp đổ.

Để cứu nguy cho chính quyền Sài Gòn, Hoa Kỳ buộc phải tăng quân trên chiến trường và bắt đầu các hoạt động quân sự chống phá Việt Nam Dân chủ Cộng hòaHoa Kỳ buộc phải dựng lên Sự kiện Vịnh Bắc Bộ để có cớ ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và leo thang chiến tranh ở Việt Nam.Trong hai năm 1966-1967, tốc độ tăng quân của Hoa Kỳ đạt 13.000 lính/tháng, tới tháng 12-1967, quân số lính Mỹ đạt 497.498 quân, kết hợp với 60.276 lính quân đội các nước đồng minh của Mỹ (không tính lính Việt Nam Cộng hòa), nâng tổng quân số nước ngoài trên chiến trường Việt Nam đạt 557.774 lính và số lượng lính Việt Nam Cộng hòa đạt 634.475 lính, tăng 200.000 lính so với năm 1966.Tới ngày 31-03-1968, tổng quân số liên quân Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng hòa đạt 1.375.747 quân, gấp 4 lần quân số liên minh Quân Giải phóng miền Nam Việt NamQuân đội Nhân dân Việt Nam. Từ năm 1965, với số lượng quân và vũ khí tăng mạnh tới mức áp đảo, Mỹ bắt đầu thực hiện Chiến lược Tìm và diệt với hàng loạt trận càn nhằm vào khu vực nông thôn và căn cứ của Quân Giải phóng.

1966-1967

Tới năm 1966, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã giành được hàng loạt chiến thắng như Trận Núi ThànhTấn công sân bay Tân Sơn Nhất (1966),… Trước tình hình đó, Hoa Kỳ bắt đầu đề cập tới giải pháp đàm phán hòa bình. Tháng 1-1967, Tổng thống Johnson tuyên bố: “Hoa Kỳ sẵn sàng đi đến bất cứ đâu, bất cứ lúc nào để gặp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm bàn bạc về hòa bình.” Sau đó, vào ngày 28-01-1967, Ngoại trưởng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh tuyên bố: “Nếu Hoa Kỳ thành thật có mong muốn hòa đàm, họ trước hết phải chấm dứt vô điều kiện các cuộc oanh tạc và các hành vi gây chiến chống miền Bắc.” Tuy nhiên trên thực tế, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa vẫn có những hành động leo thang chiến tranh bằng Chiến dịch Cedar FallsChiến dịch AttleboroChiến dịch Junction City.

Riêng trong 03 tháng đầu năm 1967, liên quân Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng hòa đã tổ chức 884 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên bao gồm 30 cuộc hành quân hỗn hợp, 738 cuộc do Quân lực Việt Nam Cộng hòa thực hiện và 146 cuộc do Hoa Kỳ và đồng minh nước ngoài thực hiện. Mục đích các cuộc hành quân là đánh thẳng vào các căn cứ và tiêu diệt lực lượng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tất cả các binh chủng của liên quân Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng hòa được huy động tối đa. Trong 3 tháng đầu 1967, Không quân của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa tiến hành 151.044 phi xuất (trong đó phi xuất hành quân là 30.231 cuộc) và 37.851 cuộc hải xuất. Riêng Boeing B-52 Stratofortress thực hiện 225 phi vụ với 1.743 phi xuất. Thực hiện oanh tạc và do thám miền Bắc với 5.759 cuộc với 14.582 phi xuất.

Từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1967, liên quân Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng hòa đã tổ chức 817 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên bao gồm 56 cuộc hành quân hỗn hợp Mỹ-Việt Nam Cộng hòa và 153 cuộc do Hoa Kỳ và đồng minh nước ngoài thực hiện. Không quân liên quân Mỹ-Việt Nam Cộng hòa tiến hành 176.970 phi xuất (tăng 25% so với 3 tháng đầu 1967) bao gồm 61.360 phi xuất hành quân (chiếm 34,6%), Boeing B-52 Stratofortress thực hiện 290 phi vụ với 1.878 phi xuất, oanh tạc và do thám miền Bắc là 9.144 lần với 22.213 phi xuất. Hải quân Việt Nam Cộng hòa thực hiện 22.912 hải xuất còn Hoa Kỳ là 14.254 hải xuất.

Giai đoạn Đông-xuân 1967-1968 là lúc liên quân Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng hòa đẩy mạnh Chương trình Tìm-diệt, số lượng cuộc hành quân trong tháng 11-1967 đã bằng 41,7% số lượng các cuộc hành quân trong Quý II năm 1967. Trong toàn bộ năm 1967, Không quân Hoa Kỳ và các nước đồng minh thực hiện 175.830 phi xuất, Không quân Việt Nam Cộng hòa thực hiện 116.598 phi xuất, Boeing B-52 Stratofortress thực hiện 7.760 phi xuất. Hải quân Hoa Kỳ thực hiện 45.116 giang xuất và 24.466 hải xuất. Hải quân Việt Nam Cộng hòa thực hiện 42.052 giang xuất và tuần duyên (tăng 7% so với năm 1966).

Đặc biệt, trong giai đoạn 1966-1967, Mỹ và Việt Nam Cộng hòa bắt đầu sử dụng chất độc hóa học để khai quang các khu vực của Quân Giải phóng như Chiến khu C và D, Bời Lời, Hồ Bò. Trong đó loại R phá hủy 84.346 mẫu mùa màng, loại 20T khai quang được 5.382 km đường rừng, loại 20P khai quang được 263 căn cứ.

Tuy nhiên, Chiến lược Tìm và diệt đã thất bại khi thương vong quá lớn, gây phẫn nỗ trong dư luận Hoa Kỳ và quốc tế. Riêng trong 6 tháng đầu 1967, liên quân Hoa KỳViệt Nam Cộng hòa mất 772 phi cơ.

Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt đưa tới bàn đàm phán

Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của Quân Giải phóng và nhân dân miền Nam đã giáng một đòn quyết định vào chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, buộc Mỹ và Việt Nam Cộng hòa phải bắt đầu quá trình xuống thang chiến tranh, phải chuyển hướng chiến lược “phi Mỹ hoá chiến tranh” rồi “Việt Nam hoá chiến tranh”, bắt đầu rút dần quân Mỹ về nước, chấm dứt cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, cử người đàm phán với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Hội nghị Pari.

Tại Hoa Kỳ, cuộc chiến tại Việt Nam thực sự đã trở thành một cuộc chiến trong lòng Hoa Kỳ. Đây là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các chính khách Hoa Kỳ. Trong khi Tổng thống Johnson cương quyết bảo vệ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thì đã có 18 Nghị sĩ của Đảng Dân chủ đưa ra một bản tuyên bố chung, trong đó kêu gọi Hoa Kỳ tiến hành đàm phán với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Trên trường quốc tế, uy tín của Mỹ cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Làn sóng phản đối chiến tranh, đòi Mỹ ngồi vào bàn đàm phán tăng mạnh. Đặc biệt, đầu tháng 3-1968, Tổng thư ký Liên Hiệp quốc U.Thant kêu gọi Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc và coi đây là điều kiện để tổ chức đàm phán. Ngày 31-3-1968, Tổng thống Johnson phải tuyên bố: Đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra (90% lãnh thổ miền Bắc) và chấp nhận đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng trang bị tối tân cho Việt Nam Cộng hòa và không rút quân Mỹ về nước.

Ngày 02-04-1968Nguyễn Văn Thiệu dưới sức ép của Mỹ đã đưa ra tuyên bố 4 điểm:

  • Không chống lại các cuộc hạn chế oanh tạc, vì thiện chí hòa bình;
  • Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là hai vai chính trong hòa đàm (thực tế là Mỹ và phái đoàn hỗn hợp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Cộng hòa miền Nam Việt Nam);
  • Việt Nam Cộng hòa cương quyết không đối thoại với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam;
  • Quân số Việt Nam Cộng hòa sẽ tăng thêm 135.000 quân trong năm 1968.

Nguyễn Văn Thiệu cũng nhấn mạnh: “lập trường của VNCH là không thỏa hiệp với Cộng sản dưới bất kỳ hình thức nào. Chính phủ Mỹ, chính sách Mỹ có thể thay đổi nhưng lập trường của VNCH là không bao giờ thay đổi…ngay tức khắc, không cần đợi đến mùa thu, chỉ trong vài tuần nữa, VNCH sẽ tổng động viên để chiến đấu”. Tới ngày 03-04-1968, Thượng nghị viện Việt Nam Cộng hòa cũng ra tuyên cáo ủng hộ Hoa Kỳ ngừng ném bom miền Bắc.

Ngày 05-04-1968, Hoa Kỳ triệu tập Hội nghị quân sự ở Honolulu gồm đại diện của các đồng minh nhưng không có đại diện của Việt Nam Cộng hòa để bàn về các giải pháp đối với chiến tranh ở Việt Nam. Điều này cho thấy sự lục đục trong nội bộ liên minh Hoa KỳViệt Nam Cộng hòa.

Ngày 3-4-1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố: “Sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện của Mỹ nhằm xác định với Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện”.

Ngày 24-07-1968, để đánh gục ý chí của Hoa Kỳ, đặc biệt là sự trì hoãn thảo luận nghiêm túc của phía Hoa KỳQuân Giải phóng miền Nam Việt Nam quyết định mở đợt tấn công thứ ba của Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Mục tiêu là gây tiêu hao tối đa cho đối phương về nhân lực, vũ khí, khí tài, đặc biệt là những loại hiện đại để đập tan mưu đồ xâm lược của Hoa Kỳ, tạo bước chuyển về cục diện trên bàn đàm phán và trên thực địa chiến trường miền Nam.

Hoa Kỳ trì hoãn đàm phán

Ngày 06-04-1968, Hoa Kỳ đề nghị Hội nghị hòa đàm sẽ diễn ra ở Genève (Thụy Sĩ) nhưng phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bổ và đưa ra đề nghị tổ chức hòa đàm ở Phnôm Pênh (Campuchia) hoặc một địa điểm khác có tính trung lập và thuận tiện cho cả hai bên. Để trì hoãn đàm phán tới thời điểm có lợi hơn trên chiến trường cho liên quân Hoa KỳViệt Nam Cộng hòa, phía Hoa Kỳ lại bác bổ đề nghị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đưa ra đề nghị hội đàm tại Viêng Chăn (Lào) vào ngày 10-04-1968. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bỏ và đề nghị họp tại Vác-sa-va (Ba Lan) hoặc một thành phố khác ở Châu Á. Đồng thời, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa yêu cầu nội dung hòa đàm chỉ xoay quanh vấn đề ngừng ném bom và chấm dứt chiến sụ tại Việt Nam. Phía Hoa Kỳ bác bỏ và yêu cầu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải có hành động tương xứng với việc ngừng oanh tạc. Ngày 12-04-1968, Hoa Kỳ đưa ra danh sách 10 thành phố và 10 quốc gia có liên quan nhưng tuyệt nhiên không có Paris (Pháp) dù rằng trước đó Paris được Ngoại trưởng Pháp và Tổng thư ký LHQ U.Thant đề xuất. Tranh thủ khoảng thời gian trì hoàn đàm phán, liên quân Hoa KỳViệt Nam Cộng hòa đã thực hiện 1.398 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên (bằng 50% của năm 1967), số lượng phi xuất đạt 138.400 chuyến (bằng 47% của năm 1967), trong đó có 6.101 phi vụ oanh tạc miền Bắc và 39.396 hải xuất.

Đây cũng là khoảng thời gian Đại sứ Mai Văn Bộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có những tiếp xúc ngoại giao với Arthur Goldberg-Đại sứ của Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc thông qua trung gian là Tổng thư ký LHQ U.Thant. Các bên đã đi đến thống nhất là sẽ tổ chức hòa đàm tại Paris. Điều đặc biệt là ở chỗ toàn bộ quá trình thương lượng lựa chọn nội dung đàm phán và địa điểm đàm phán không có sự xuất hiện của Việt Nam Cộng hòa. Do phía Hoa Kỳ trì hoãn đàm phán quá lâu, nên Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam buộc phải tiến hành đợt tấn công thứ 2 trong Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Tới ngày 03-05-1968, Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra tuyên bố yêu cầu Hoa Kỳ nhanh chóng tiến hành đàm phán, đồng thời cử Ngoại trưởng Xuân Thủy làm trưởng đoàn đại diện của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị hoàn đàm. Bên cạnh đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng công khai quá trình thương lượng trong việc lựa chọn địa điểm đàm phán (vốn không có sự tham gia của Việt Nam Cộng hòa). Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng tuyên bố mốc 10-05-1968 sẽ là thời điểm khởi động đàm phán.

Cũng trong ngày 03-05-1968, Tổng thống Hoa Kỳ Johnson chấp nhận đề nghị đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như thừa nhận quá trình thương lượng về địa điểm và nội dung đàm phán đã không có Việt Nam Cộng hòa. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng từng bước nhận ra Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đang gạt họ ra khỏi bàn đàm phán. Để được ngồi vào bàn đàm phán, Việt Nam Cộng hòa đã tìm mọi cách để hạ thấp uy tín của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Về ngoại giao, ngoài tăng cường tác động tới Hoa KỳViệt Nam Cộng hòa đẩy mạnh huy động sự ủng hộ của các đồng minh khác như Úc, New Zealand, Thái Lan, Hàn Quốc, Philippines thậm chí cả Pháp để được tham gia Hội nghị và duy trì được lập trường của mình. Về quân sự, Việt Nam Cộng hòa đã không tiên liệu được Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam sẽ đánh lớn trong tháng 5 (đợt 2 của Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968). Đặc biệt, một trong các giải pháp được Việt Nam Cộng hòa lựa chọn để ép Hoa Kỳ đồng ý cho tham gia hòa đàm là bắt bí (blackmail) bao gồm tuyên bố đơn phương hòa đàm với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng vẫn để ngỏ tham gia liên minh hòa đàm với Hoa Kỳ. Để vớt vát lại danh dự, Việt Nam Cộng hòa đưa ra tuyên bố cử Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Washington, Bùi Diễm làm trưởng phái đoàn liên lạc của Việt Nam Cộng hòa sang Paris để kịp ngày khai mạc Hội nghị.

Những phiên đàm phán đầu tiên không thể đạt tiến triển do sự thiếu thiện chí của Mỹ

Phiên họp sơ bộ ngày 10-05 có trọng tâm là ngôn ngữ đối thoại, thành phân và quốc tịch của các bên tham gia và thời gian cho phiên họp chính thức đầu tiên. Ngay trong phiên họp đầu tiên ngày 13-05, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đưa ra yêu cầu: Mỹ phải chấm dứt cuộc chiến tại Việt Nam, Mỹ phải ngừng ném bom miền Bắc vô điều kiện. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra lập trường 4 điểm và cương lĩnh đấu tranh của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam:

  • Xác nhận quyền dân tộc tự quyết của nhân dân Việt Nam
  • Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Đất nước Việt Nam chỉ tạm thời bị chia cắt để chờ Tổng tuyển cử để bầu chính quyền thống nhất cho cả hai miền
  • Công việc nội bộ của Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam quyết định
  • Công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam phải được thực hiện theo cương lĩnh đấu tranh của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam

Phía Hoa Kỳ đã không đề cập tới các vấn đề thống nhất từ trước mà đưa ra đòi hỏi về việc Tôn trọng khu phi quân sự ở Vỹ tuyến 17, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải xuống thang, Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải cùng rút quân. Phái đoàn liên lạc của Việt Nam Cộng hòa đưa ra tuyên bố nếu Việt Nam Cộng hòa không được tham gia hòa đàm sẽ không có hòa bình.

Ngày 15-05-1968, Ngoại trưởng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Xuân Thủy tuyên bố về lập trường của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa:

  1. Trước tiên, Mỹ phải chấm dứt vĩnh viễn và vô điều kiện việc ném bom và bắn phá trên toàn lãnh thổ miền Bắc (đặc biệt từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh)
  2. Mỹ phải chấm dứt mọi hành động chiến tranh khác (rải truyền đơn, thả quà tâm lý và triển khai biệt kích ở miền Bắc…)
  3. Mỹ phải thực hiện những yêu cầu nói trên mà không được đưa ra yêu sách với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Thực hiện những đòi hỏi trên sẽ được coi là thiện chí của Hoa Kỳ. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với thiện chí của mình đã cử đại diện và tới đối thoại chính thức, nghiêm chỉnh với Mỹ ở Paris.

Cũng trong ngày 15-05-1968, Trưởng phái đoàn Hoa Kỳ Harriman tuyên bố nhất trí về việc vấn đề nội bộ của miền Nam do người miền Nam quyết định và thống nhất hai miền thông qua giải pháp hòa bình. Tuy nhiên tới phiên đàm phán thứ, ngày 19-06-1968, phái đoàn Hoa Kỳ lại tuyên bố sử dụng hiệp định Genève 1954 để thống nhất hai miền; khu phi quân sự Vỹ tuyến 17 được dùng để chia đôi Việt Nam thành 2 chính thể khác nhau. Do thái độ tránh né, không đi thẳng vào vấn đề của Hoa Kỳ nên Hội nghị không có tiến triển nào.

Đặc biệt, nghỉ giải lao 15 phút giữa chừng đã thành lệ của Hội nghị từ phiên thứ 6 khi phía Hoa Kỳ để nghị nghỉ giải lao và mời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra phòng khác để nói chuyện thời tiết. Đây được coi là động thái làm trì hoãn Hội nghị của Hoa Kỳ nhằm đưa Hội nghị tới thời điểm có lợi hơn. Tới phiên họp thứ 10 ngày 26-06-1968, Ngoại trưởng Xuân Thủy chỉ trích mạnh mẽ thái độ không nghiêm túc đàm phán của Hoa Kỳ, âm mưu lợi dụng đàm phán để xuyên tạc Hiệp định Genève (1954) của Mỹ và để vạch trần ý đồ chia cắt Việt Nam thành 02 quốc gia riêng biệt khi lấp liếm tính tạm thời và tính quân sự của giới tuyến quân sự; ý đồ lợi dụng ngừng bắn để củng cố Quân lực Việt Nam Cộng hòa và tấn công phi pháp Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam; ý đồ lợi dụng, thao túng sự giám sát quốc tế để chia cắt Việt Nam như trên bán đảo Triều Tiên. Ngoại trưởng Xuân Thủy cũng nêu lập trường của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam:

  1. Thống nhất Việt Nam được tiến hành bằng phương pháp hòa bình, từng bước một, không có sự cưỡng bức của bên này với bên kia
  2. Thực hiện quyền tự do đi lại, trao đổi thông tin, văn hóa và kinh tế giữa hai miền.

Để Hội nghị có tiến triển, Ngoại trưởng Xuân Thủy đề nghị:

  1. Tất cả các bên, đặc biệt là Mỹ và VNCH không được xuyên táck và phá hoại Hiệp định Genève (1954)
  2. Mỹ ngừng ném bom và chống phá miền Bắc vô điều kiện
  3. Trong đàm phán, Mỹ phải đi thẳng vào vấn đề, không vòng vo
  4. Mỹ cần chấm dứt ngay thủ đoạn bóp méo thực tế khi vẫn tiến hành các hành động leo thang chiến tranh trong khi vẫn tuyên truyền kêu gọi hòa bình

14 phiên họp đầu tiên không có tiến triển do phía Mỹ liên tục lảnh tránh các vấn đề chính. Ngày 11-08-1968, Chính phủ Cách mạng Lào tuyên bố: “Việc nêu vấn đề của Lào tại Hội nghị Paris là bất hợp pháp, xâm phạm tới chủ quyền của Lào. Đồng thời chứng tỏ Hoa Kỳ đang bối rối trước áp lực của dư luận quốc tế đang lên án thái độ bướng bỉnh của Hoa Kỳ tại Hội nghị Paris cũng như trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam”.

Sau đợt tấn công thứ ba của Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, vào ngày 02-09-1968, Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng tuyên bố việc Hoa Kỳ ngừng ném bom miền Bắc sẽ tạo ra những tác động tích cực trong việc từng bước một tìm ra một giải pháp chính trị cho miền Nam Việt Nam. Phát ngôn viên của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Thành Lê tuyên bố hai bên sẽ tiếp tục đàm phán nếu Hoa Kỳ ngừng ném bom miền Bắc.

Sau những diễn biên căng thẳng trên chiến trường, trong tháng 9-1968 Tổng thư ký Liên hiệp Quốc U. Thant và Ngoại trưởng Pháp Michel Debré thúc giục cả hai bên cần ngồi vào bàn đàm phán ngay lập tức. Đặc biệt, ngày 23-09-1968, Tổng thư ký Liên hiệp Quốc U. Thant tuyên bố: “Một nghị quyết yêu cầu Hoa Kỳ ngừng oanh tạc miền Bắc có thể sẽ được đa số thành viên LHQ tán thành.” Tuy nhiên, Đại sứ Hoa Kỳ tại LHQ George Ball tuyên bố: “đề nghị của U.Thant không giúp ích gì cho sự tiến triển của Hội nghị Paris.”

Các hoạt động tăng cường quân sự của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa

Tuổi tổng động viên lính của Việt Nam Cộng hòa giảm xuống còn 18. Vào cuối năm 1968, quân số Việt Nam Cộng hòa vượt 80 vạn quân. Súng M16 được trang bị cho tất cả các tiểu đoàn chính quy bộ binh, nhảy dù, biệt động, thủy quân lục chiến. Tới năm 1968, Quân lực Việt Nam Cộng hòa hoàn thành trang bị M16 toàn quân. Về phía Hoa Kỳ, trong năm 1968, quân số Hoa Kỳ đã được tăng thêm 200.000 lính. Quân lực Việt Nam Cộng hòa được Mỹ đẩy mạnh trang thiết bị tối tân hơn và tăng cường nguồn tài chính.[34] Trong tháng 7 và 8/1968, liên quân Hoa KỳViệt Nam Cộng hòa đã thực hiện 1.929 cuộc hành quân cấp tiêu đoàn trở lên, 156.000 phi xuất, trong đó B52 tiến hành 6.922 phi vụ oanh tạc miền Bắc.

Ngày 25-09-1968, Tổng thống Hoa Kỳ Jonhson tuyên bố: “Chúng tôi không có ý định giảm bớt quân số từ nay tới tháng 6-1969 hay bất kỳ một thời hạn nào khác trong tương lai.”

Ngày 01-10-1968Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa tiến hành Chiến dịch tâm lý chiến Nguyễn Trãi.Tới ngày 01-10-1968Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa tiến hành Chiến dịch Phụng Hoàng diễn ra từ 15-10-1968 đến hết Tết năm 1969 với mục tiêu: “Gây tổn hại cơ sở hạ tầng Việt Cộng nói chung nhưng đặc biệt chú trọng đến các cá nhân nằm trọng hệ thống của Việt Cộng theo thứ tự ưu tiên rõ rệt: Chính trị cao hơn quân sự.”

Ngày 01-11-1968 Tổng thống Hoa Kỳ Jonhson tuyên bố ngừng đánh phá miền Bắc đồng thời thông báo Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam sẽ tham đàm phán từ ngày 06-11-1968.

(Còn tiếp)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s