Sơ lược tiến trình quốc gia Việt Nam


Youtuber Ngọc Điệp Trần

Tham khảo thông tin trên mạng Google.com Lịch sử Nam tiến Việt Nam và nguồn gốc hình thành và phát triển Việt Nam Cộng hòa:

A- Quá trình Nam tiến Việt Nam:

Năm 900, biên giới Việt Nam xưa kéo dài đến tỉnh Ninh Bình. Năm 968 Đinh Tiên Hoàng đặt tên nước là Đại Cồ Việt – Thái hậu Dương Vân Nga (chữ Hán: 大勝明皇后) giao ngôi vua cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn (黎桓) để chống quân xâm lược nhà Tống, biên giới kéo dài đến Đèo Ngang, tỉnh Hà Tĩnh.

Năm 1069 vua Lý Thánh Tông đánh nước Chiêm Thành lấy đất từ Đèo Ngang, tỉnh Hà Tĩnh đến tỉnh Quảng Bình.

Năm 1306 Vua Trần Anh Tông gã công chúa Trần Huyền Trân cho vua Chế Mân của nước Chiêm Thành, lấy đất từ tỉnh Quảng Bình đến đèo Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Năm 1471 vua Lê Thánh Tông đánh chiếm đất Chiêm Thành mở nước đến tỉnh Bình Định. Sau đó trong khoảng 300 năm chia cắt Nam Bắc (từ sông Gianh, Quảng Bình trở ra là Đàng Ngoài, từ sông Gianh trở vào là Đàng Trong).

Từ năm 1611 đến năm 1757 chúa Nguyễn Hoàng và con cháu đã lần lượt mở mang bờ cỏi về phương Nam: Năm 1611 chiếm tỉnh Phú Yên, lần lượt đánh chiếm tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận của Chiêm Thành.

Sau đó, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gã công chúa Ngọc Vạn cho vua Chentta II của nước Chân Lạp (nay là Kampuchia) để mở mang vùng đất Prey Nokor (nay là Saigon), Mỹ Tho, An Giang,…. đến năm 1757 cơ bản nước ta kéo dài đến mũi Cà Mau.

Năm 1802 vua Gia Long lên ngôi thống nhất đất nước đặt tên nước là Việt Nam.

B- Quá trình hình thành, phát triển của Việt Nam Cộng hòa (chữ Hán: 越 南共 和 1955- 1975)

Từ năm 1858 thực dân Pháp lần lượt đánh chiếm Việt Nam, Lào, Kampuchia để thành lập Liên bang Đông Dương và thực hiện chính sách chia để trị, đã chia Đông Dương thành 5 năm xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào, Miên làm cho 5 xứ này ghét nhau, kỳ thị nhau mà không thể đoàn kết nổi dậy đánh Pháp giành độc lập cho mỗi nước.

Ngày 03/02/1930 Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập chống thực dân Pháp và chính quyền Phong kiến. Khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh thì ngày 02/9/1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập.

Nhìn chung về Việt Nam Cộng hòa có nguồn gốc hình thành và phát triển như sau:

1- Ngày 09/3/1945, Nhật Bản nổ súng lật đổ Pháp trên toàn Đông Dương. Nhật Bản hỗ trợ Hoàng đế Bảo Đại thành lập Đế quốc Việt Nam ( 越 南 帝 國), và giao Tổng trưởng Trần Trọng Kim thành lập nội các. Đế quốc Việt Nam chọn cờ quẻ Ly làm Quốc kỳ. Quẻ ly trong kinh Dịch của Trung Quốc có ba vạch song song nhưng vạch chính giữa không liền nét. Quẻ Ly nằm trong Bát quái (八卦) gồm: Càn (Trời), Đoài (Hồ), Ly (Lửa), Chấn (Sấm), Tốn (Gió), Khảm (Nước), Cấn (Núi), Khôn (Đất). Về sau này có điều chỉnh thành Cờ nền màu vàng có ba sọc đỏ liền nét (có thể hiểu là Da vàng 3 dòng máu Bắc-Trung-Nam). Có lẽ cờ Vàng Ba Sọc Đỏ cũng chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa !

2- Ngày 30/8/1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, Hoàng đế Bảo Đại của Đế quốc Việt Nam đọc chiếu thoái vị giao quyền lãnh đạo đất nước cho Chính phủ Việt Minh (VN Dân chủ Cộng hòa được thành lập ngày 02/9/1945) và trở thành cố vấn của Chính phủ VNDCCH.

3- Ngày 01/10/1946 Chính phủ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ được thành lập do ông Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng. Ngân sách Chính phủ do Pháp quản lý.

4- Ngày 27/5/1948 Pháp thành lập Chính phủ lâm thời Quốc gia Việt Nam do ông Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng. Quốc kỳ là lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ liền nét do họa sĩ Lê Văn Đệ đề nghị được chấp nhận làm quốc kỳ và lấy bài Tiếng gọi Thanh niên của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (*) được đổi tên là Tiếng gọi công dân làm Quốc ca của Quốc gia Việt Nam. Ngân sách Chính phủ do Pháp quản lý.

5- Ngày 14/7/1949 Pháp thành lập chính phủ chính thức của Quốc gia Việt Nam đứng đầu bởi Quốc trưởng Bảo Đại. Ngày 07/7/1954, khi được Quốc trưởng Bảo Đại mời về nước, ông Ngô Đình Diệm thành lập Chính phủ mới với nội các gồm 18 người.

6- Ngày 20/7/1954 Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Hiệp định Genève sau khi Pháp bị thua trận ở Điện Biên Phủ, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời phân chia hai miền Nam Bắc. Quy định trước tháng 7 năm 1956 phải tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

7- Việt Nam Cộng hòa: Quốc trưởng Bảo Đại của Chính phủ Quốc gia Việt Nam bị truất phế trong năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập Việt Nam Cộng hòa (越 南共 和) và tuyên bố không bầu cử thống nhất Nam Bắc. Lúc này Việt Nam Cộng hòa nhận viện trợ trực tiếp của Mỹ để trang trải chủ yếu chi phí quản lý hành chính và quân sự.

8- Hoa Kỳ viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa khoảng 20 tỉ USD (thời giá năm 1960 tương đương 140 tỉ USD thời giá năm 2015) và quân đội Hoa Kỳ hoạch định chiến lược, chiến thuật và trực tiếp tham gia chiến trường chủ yếu chống Cộng sản Việt Nam. Liên-xô, Trung Quốc và các nước khác viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khoảng 6,7 tỉ USD (tương đương 50 tỉ USD thời giá năm 2015) và độc lập tác chiến chống quân đội Hoa Kỳ.

Ngày 19/01/1974 Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa trong tay quân đội Việt Nam Cộng hòa, có 74 chiến sĩ VNCH hy sinh. Nay được thờ phụng trong Âm Linh tự nằm trên địa bàn thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi cùng các chiến sĩ hy sinh vì Hoàng Sa từ thời chúa Nguyễn đến bây giờ.

Ngày 13/8/1988 Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma của quần đảo Trường Sa trong tay quân đội Nhân dân Việt Nam và hiện trạng quần đảo Trường Sa đến nay:

Việt Nam quản lý 21 thực thể địa lý, gồm 7 đảo san hô/cồn cùng 14 rạn san hô. Trung Quốc quản lý 07 thực thể địa lý, tấ cả đều là rạn san hô. Philippines quản lý 10 thực thể địa lý, gồm 7 đảo san hô/cồn cùng 3 rạn san hô. Malaysia quản lý 07 thực thể địa lý, tất cả đều là rạn san hô, Đài Loan quản lý 02 thực thể địa lý, gồm 1 đảo san hô cùng 1 rạn san hô. Ghi chú: (*) – Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (1921-1989) sinh tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Ông là Giáo sư, Viện sĩ, Nhà lý luận âm nhạc; nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin Văn hóa của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; nguyên Đại biểu Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Giáo dục của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác 3 bài hát nổi tiếng sau đây:

– Bài “Tiếng gọi công dân”: Sau khi đỗ tú tài, Lưu Hữu Phước ra Hà Nội học trường Y – Dược, thuộc Viện Đại học Đông Dương (1940-1944). Năm 1941 ông sáng tác bài “Thanh niên hành khúc” (hay còn gọi là Tiếng gọi Thanh niên): Bài hát chính thức của tổ chức Thanh niên Tiền phong. Sau này chế độ Việt Nam Cộng hòa tự ý sửa lại một chút lời và chọn làm Quốc ca với tên “Tiếng gọi công dân”.

– Bài “ Hồn tử sĩ”: Thời điểm sáng tác của bài hát vào khoảng 1942-1943, trong một đợt cắm trại do Tổng hội Sinh viên Đông Dương tổ chức tại Mê Linh.

Trong dịp này, Lưu Hữu Phước đã sáng tác bài hát nguyên thủy với tên gọi “Hát Giang trường hận”. Bài hát với nhịp điều trầm hùng, gợi nhớ đến công ơn và sự hy sinh của Hai Bà Trưng kháng chiến chống ách đô hộ của nhà Hán. Bài hát được sửa tên là “Hồn tử sĩ” và được dùng trong các lễ tang, truy điệu theo nghi thức nhà nước của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Bài hát này trước 1975 cũng được Việt Nam Cộng hòa sử dụng trong các nghi thức lễ tang quân đội.

– “Giải phóng miền Nam”: Bài hát chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quốc ca Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Như vậy, Lưu Hữu Phước là tác giả bài quốc ca của Việt Nam Cộng hòa (1949- 1975) và Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1960-1976). Riêng bài “Hồn tử sĩ” được chế độ hai miền Nam Bắc cùng sử dụng trước đây và cho đến ngày nay, kể cả người Việt hải ngoại.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s